Nếu chính phủ tăng thuế thu nhập cá nhân trong tương lai thì cóthể kích thích sự tiêu dùng của một cá nhân trong ngắn hạn nhưng có thể làm giảm tiêu dùng... Chẳng hạn như chính sách nới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ -
CHÍNH SÁCH ABENOMICS ĐIỀU TIẾT KINH TẾ THEO LÝ THUYẾT KEYNES VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHI ÁP DỤNG VÀO
Trang 2Chính sách Abenomics điều tiết kinh tế theo lý thuyết Keynes và đánh giá hiệu quả khi
áp dụng vào nền kinh tế Nhật Bản (2013 – Q3/2016)
MỤC LỤC
Trang 31. Cơ sở lý thuyết
1.1. Lý thuyết về việc làm của Keynes
Theo J.M.Keynes, việc làm không chỉ xác định tình hình thị trường lao động, sự vận độngcủa thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thunhập Việc làm cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế, cơ sở cho việc điều tiết nền kinh tế Việclàm tăng thì thu nhập thực tế tăng, do đó tiêu dùng tăng (do tâm lý chung) nhưng tốc độ tăngtiêu dùng chậm vì khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập tăng thêm Do đó cầu giảmtương đối (so với sản xuất), cản trở việc mở rộng đầu tư của nhà tư bản Nhà kinh doanh sẽthua lỗ nếu sử dụng toàn bộ lao động tăng thêm để thỏa mãn số cầu tiêu dùng tăng (“Khuynhhướng tiêu dùng giới hạn”) Để khắc phục, phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thíchquần chúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ Keynes đã đưa ra một số phạm trù cơ bản nhưsau
1.1.1. Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn
Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là khuynh hướng cá nhân phân chia phần thu nhập tăngthêm cho tiêu dùng theo tỷ lệ ngày càng giảm dần Đây là quy luật tâm lý của mọi cộng đồngtiêu tiền, nó là nguyên nhân của sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng dẫn đến sản xuất trì trệ,khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp
Theo Keynes, có 3 nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng này
Thứ nhất là thu nhập Khi thu nhập tăng thì tiêu dùng tăng và ngược lại Khi mức thu nhậpthấp hơn mức tiêu dùng cần thiết thì có thể xuất hiện tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập.Trong trường hợp này, đối với cá nhân, anh ta phải sử dụng cả những nguồn dự trữ tài chính
đã tích lũy được trong thời kì thịnh vượng trước đây Đối với chính phủ, có thể phải lấy tiềnngân sách nhà nước để trợ cấp thất nghiệp, có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách và tăng nợnước ngoài Còn khi mức thu nhập tuyệt đối nâng cao thì họ sẽ có khuynh hướng nới rộng sựchênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng Cụ thể, khi người ta đạt được một mức tiện nghi nào
đó rồi thì họ sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn
Đó là lý do mà ông chú trọng vào việc khuyến khích người dân tăng chi tiêu, giảm tiết kiệm
để tăng tổng cầu, qua đó kích thích đầu tư và sản xuất hàng hóa, tạo ra việc làm
Thứ hai, các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến thu nhập như sự thay đổi tiền công danhnghĩa Tiền công danh nghĩa tăng biểu hiện sự tăng lên của thu nhập, qua đó có thể gián tiếplàm tăng tổng cầu Sự chênh lệch giữa thu nhập với thu nhập ròng – hay chính là thu nhậpsau thuế của một cá nhân Nếu chính phủ tăng thuế thu nhập cá nhân trong tương lai thì cóthể kích thích sự tiêu dùng của một cá nhân trong ngắn hạn nhưng có thể làm giảm tiêu dùng
Trang 4trong dài hạn Các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của chính phủ cũng tác động đếnthu nhập Chẳng hạn như chính sách nới lỏng tiền tệ khiến đồng nội tệ giảm giá, trong tìnhtrạng tiền lương cứng nhắc, người lao động sẽ nhận được một mức lương thực tế thấp hơntrong tương lai, điều này có thể khiến anh ta gia tăng tiết kiệm phòng khi muốn tiêu dùngtrong tương lai hoặc gia tăng tiêu dùng một số mặt hàng trong hiện tại vì lo sợ đồng tiền đangmất giá trong tương lai, khiến giá cả hàng hóa có thể sẽ cao hơn mức hiện tại.
Thứ ba là những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng Có thể chia làm
2 nhóm Nhóm thứ nhất có xu hướng tăng tiết kiệm nhằm mục đích lập khoản dự phòng rủi
ro, đẻ dành cho tuổi già, cho việc học tập của con cái và bản thân, xây dựng tài sản, thậmchí thỏa mãn tính hà tiện đơn thuần, v.v Ngoài khối tiết kiệm cá nhân kể trên còn có khốitiết kiệm có tổ chức (của các công ty, cơ quan chính quyền, v.v ) nhằm mục đích tiết kiệmkinh doanh (bảo đảm nguồn tài chính để thực hiện cuộc đầu tư mới mà không mắc nợ), dựtrữ tiền mặt (bảo đảm nguồn tiền mặt để đối phó với những bất trắc xảy ra), động lực cải tiến(bảo đảm tăng thu nhập nhờ hiệu suất) và động lực thận trọng về tài chính (bảo đảm quỹ dựtrữ tài chính) Nhóm một này có xu hướng giảm tiêu dùng, qua đó giảm tổng cầu của xã hội.Nhóm thứ hai có xu hướng giảm tiết kiệm và tăng tiêu dùng (thích hưởng thụ, thiển cận, hàophóng, phô trương, xa hoa, )
Do vậy, Keynes kết luận rằng việc làm tăng sẽ làm tăng thu nhập, tuy nhiên do sự gia tăngtiêu dùng là chậm hơn gia tăng thu nhập nên sẽ gây ra tình trạng cầu tiêu dùng giảm súttương đối, qua đó gián tiếp làm giảm động lực sản xuất ở phía cung, gây ra tình trạng giảmphát và thất nghiệp Chính vì thế các chính sách điều chỉnh kinh tế của Keynes hầu hết tậptrung nhằm kích thích chi tiêu, tạo động lực từ phía cầu
1.1.2. Số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư là mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập (dR) với gia tăng đầu tư (dI) Nó xácđịnh sự gia tăng đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần (là hệ số bằng số nói lênmức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầu tư)
Cụ thể ta có: C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập và dC là gia tăng tiêu dùng;
R là Thu nhập và dR là gia tăng thu nhập;
I là đầu tư và dI là gia tăng đầu tư;
S là tiết kiệm và dS là gia tăng tiết kiệm;
Trang 5nhân Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên Đến lượt nó tăng thu nhập lại làm tiền đề cho
sự gia tăng đầu tư mới Quá trình số nhân đầu tư như vậy biểu hiện dưới hình thức dâychuyền, tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập, tăng thu nhập làm tăng cầu, cầu tăng sẽ làm tăngđầu tư mới, đầu tư mới lại làm tăng thu nhập mới Như vậy, thu nhập qua số nhân đầu tư đãđược phóng đại lên nhiều lần khi mà đầu tư của lớp người này sẽ trở thành thu nhập của lớpngười khác
1.1.3. Hiệu quả giới hạn của tư bản
Theo Keynes, mục đích của các doanh nhân khi đầu tư là bán có “thu hoạch tương lai” Đó làchênh lệch giữa số tiền bán hàng với phí tổn cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Tươngquan giữa “thu hoạch tương lai” và phí tổn cần thiết để sản xuất hàng hóa đó gọi là hiệu quảcủa tư bản Ông cho rằng cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư thì hiệu quả của tư bản giảmdần và Keynes gọi đó là hiệu quả giới hạn của tư bản Nó phụ thuộc vào tỷ suất mong đợi của
số tiền đầu tư mới
Nguyên nhân được dẫn giải chủ yếu là đầu tư tăng làm cho khối lượng hàng hóa đó tăng,cộng với sự tăng lên chậm rãi của cầu so với sự gia tăng thu nhập như đã phân tích ở trên vôhình chung dẫn đến giá cả hàng hóa sản xuất thêm giảm Mặt khác khi lượng hàng hóa tănglên thì chi phí dùng để duy trì việc kinh doanh hàng hóa đó như chi phí vận hành các cửahàng, bảo quản, chi phí vận chuyển, v.v cũng sẽ tăng lên Điều đó làm cho phí tổn sản xuấttăng trong khi kỳ vọng về nguồn thu không được cao do giá hàng hóa giảm và tình trạngcung vượt quá cầu khiến cho kỳ vọng về “thu hoạch tương lai” của nhà đầu tư giảm Đâycũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra giảm phát
Do tâm lý này mà trường phái Keynes cho rằng để hoạt động kinh doanh đầu tư không bịđình trệ thì cần tác động vào phía cầu để tiêu dùng lượng hàng hóa sản xuất thêm, mặt kháccần làm tăng mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư Một trong những cách tốt nhất là tác động
Trang 6đến lãi suất, vì chừng nào hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất của thị trường, tức làhoạt động kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận hơn việc gửi tiền vào ngân hàng kiếm lời qualãi suất ngân hàng, người ta sẽ tiếp tục đầu tư Ngoài ra chính phủ cũng phải làm sao để thịtrường chứng khoán hoạt động sôi nổi, ổn định, tránh những cú sốc để người đầu tư thấy rằngviệc kinh doanh sẽ luôn được tiến hành suôn sẻ.
1.1.4. Lãi suất
Lãi suất là phần trả công cho sự chia ly của cải tiền tệ, hay là sự đánh đổi tiêu dùng hiện tại
để nhận về thu nhập trong tương lai và không được áp dụng cho các khoản tiết kiệm tiền mặt.Lãi suất cũng tuân theo quy luật cung cầu Nếu lãi suất tăng có nghĩa là tổng số nhu cầu tiềnmặt của dân cư đang có xu hướng vượt quá số cung về tiền mặt và ngược lại nếu lãi suấtgiảm
Lãi suất chịu ảnh hưởng của hai nhân tố
Một là khối lượng tiền tệ Keynes cho rằng khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông càng tăng thìlãi suất càng giảm Đây là một điểm quan trọng để ông đưa ra các chính sách điều chỉnh kinh
tế nhà nước Để kích thích đầu tư, ông chủ trương làm giảm lãi suất bằng cách tăng cungtiền, bằng cách mua vào trái phiếu chính phủ, giảm lãi suất liên ngân hàng và trực tiếp inthêm tiền
Hai là sự ưa chuộng tiền mặt hay còn gọi là tính ưa thích thanh khoản Một bộ phận có nhu cầu tiền mặt cho giao dịch Lượng cầu tiền mặt này là hàm số thuận của thu nhập Con người điển hình hễ có thu nhập nhiều hơn thì tiêu dùng nhiều hơn Bộ phận còn lại là nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu cơ Lượng cầu tiền mặt thứ hai này là hàm số nghịch của lãi suất Lãi suất càng hấp dẫn thì người ta càng ít giữ tiền mặt Lãi suất kém hấp dẫn thì có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn
Phần thu nhập kiếm được nếu không đem tiêu dùng mà để đấy dưới dạng tiền mặt thì không sinh lời Muốn nó sinh lời thì phải đem đầu tư vào đâu đó, chẳng hạn mua chứng khoán Giữ tiền mặt thì có cái lợi là tính tính thanh khoản cao Còn nếu mua chứng khoán thì lại được cáilợi là sinh lãi Những người lạc quan thì dự tính giá chứng khoán lên, hay lãi suất ngân hàng giảm và sẽ từ bỏ tiền mặt và mua chứng khoán Những người bi quan thì dự tính giá chứng khoán giảm, đẩy lãi suất lên cao, sẽ bán chứng khoán đang giữ đi và nhận tiền mặt về gửi vàongân hàng Chứng khoán sẽ di chuyển từ tay người bi quan sang tay người lạc quan Giá chứng khoán rốt cục cùng bị quy định bởi cả những người lạc quan mua vào và những người
bi quan bán ra Và lãi suất cũng bị quy định cùng bởi mức độ thích tiền mặt của hai loại người này
Trang 71.2. Điều chỉnh kinh tế theo lý thuyết của Keynes
Căn cứ vào các lý luận của mình ở trên, Keynes đã đưa ra một số lý thuyết để điều chỉnh nềnkinh tế vĩ mô trong thời kì suy thoái như sau
1.2.1. Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân
Qua phân tích lý thuyết chung về việc làm, J.M.Keynes đi đến kết luận: muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải có chương trình đầu tư quy mô lớn Dựa vào đó, nhà nước thực hiện việc điều tiết kinh tế Trước hết, theo ông, để đảm bảo có sự cân bằng về kinh tế, khắc phục thất nghiệp và khủng hoảng thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết mà cần sự can thiệp của nhà nước vào kinh kế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập Vì vậy, ông yêu cầu nhà nước phải duy trì cầu đầu tư, kể cả đầu tư nhà nước và tư nhân
Để duy trì cầu đầu tư tư nhân, ông chủ trương phải sử dụng ngân sách của nhà nước đưa ra các đơn đặt hàng của nhà nước, thực hiện những sự trợ cấp về tài chính, tín dung từ ngân sách nhà nước để tạo sự ổn định về lợi nhuận và kích thích sự ham muốn, sở thích đầu tư cho
tư bản độc quyền
Do đó, nhà nước cần dành một phần chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho xây dựng các doanh nghiệp nhà nước, làm tăng chi tiêu của nhà nước Hoạt động chi tiêu này của chính phủ được gọi là chính sách tài khóa
Theo Keynes, sự tham gia của nhà nước như thế sẽ làm kích thích đầu tư tư nhân cũng như tăng tiêu dùng của nhà nước lên, làm cho cầu có hiệu quả, tiến sát với đường biến đổi thu nhập Nhờ đó mà tăng việc làm, tăng thu nhập, chống khủng hoảng và thất nghiệp
1.2.2. Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ
Trong lý thuyết của J.M.Keynes, tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ là công cụ kinh tế vĩ
mô quan trọng để điều chỉnh nền kinh tế khi có giảm phát (hay suy thoái), nói cách khác ông chủ trương sử dụng các chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm tăng lạm phát kích thích tăng trưởngkinh tế
Thứ nhất, sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ để kích thích lòng tin, tínhlạc quan và tích cực đầu tư của nhà kinh doanh Để thực hiện ý đồ đó, ông chủ trương tăng
Trang 8thêm khối lượng tiền tệ vào lưu thông để giảm lãi xuất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh
mở rộng quy mô vay vốn, mở rộng đầu tư tư bản
Đồng thời, để tăng hiệu quả tư bản, ông chủ trương “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá
cả hàng hóa Trong điều kiện chi phí chưa thay đổi, các nhà kinh doanh đạt được khối lượng lợi nhuận nhiều hơn Vì vậy, một mức lạm phát hợp lý là được coi là một “liều kích thích” thịtrường hợp lý mà không gây ra sự nguy hiểm
Thứ hai, để bù đắp thiếu ngân sách nhà nước, ông chủ trương in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách hoạt động, mở rộng đầu tư nhà nước và đảm bảo chi tiêu cho chính phủ.thứ ba, ông chủ trương sử dụng công cụ thuế để điểu tiết kinh tế Theo ông, đối với người laođộng, cần thiết phải tăng thuế để điều tiết bớt một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ, đưa phần này vào ngân sách nhà nước để mở rộng đầu tư Đối với nhà kinh doanh, ông chủ trương giảm thuế để nâng cao hiệu quả của tư bản, khuyến khích nhà kinh doanh tích cực đầu
tư phát triển
Các chính sách trên sẽ làm giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tư nhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái Tuy nhiên, nếu việc giảm lãi suất là liên tục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán Hậu quả là đầu tư tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích tổng cầu Đây được gọi là Bẫy thanh khoản
1.2.3. Các hình thức tạo việc làm
Để nâng cao tổng cầu và việc làm, ông chủ trương mở rộng nhiều hình thức đầu tư, thậm chí
cả những hoạt động mang tính ăn bám nhất như sản xuất vũ khí chiến tranh, quân sự hóa nền kinh tế… Theo ông, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, vì như vậy sẽ giải quyết được việc làm,
có thêm thu nhập và chống khủng hoảng, thất nghiệp
1.2.4. Khuyến khích tiêu dùng
Ông khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với nhà tư bản, tầng lớp giàu có cũng như đối với người nghèo Đối với người lao động, ông cũng khuyến khích tăng tiêu dùng Song điều đó gặp phải trở ngại vì các biện pháp nhằm tăng giá và “ướp lạnh tiền lương” mà ông đã đề xuấtnhằm chống thất nghiệp và tăng hiệu quả giới hạn của tư bản
Trang 92. Kinh tế Nhật Bản (2013 – 2016) và đánh giá về Abenomics theo lý thuyết
Keynes
2.1. Thực trạng nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn trước 2013
Abenomics là một thuật ngữ nhằm ám chỉ các chính sách của thủ tướng đương nhiệm của Nhật Bản, ông Shinzo Abe – người được tái bổ nhiệm tháng 12 năm 2012 và có các chính sách nhằm vực dậy nền kinh tế Nhật Bản được áp dụng kể từ đầu năm 2013 sau một thời kì dài giảm phát Trước khi ông lên nắm quyền trở lại, thực trạng nền kinh tế Nhật Bản có những vấn đề sau đây
2.1.1. Tình trạng giảm phát kéo dài ở Nhật Bản
Trong suốt hơn 20 năm qua, kể từ những năm 1990, nền kinh tế đã có dấu hiệu của sự trì trệ
và giảm phát liên tục Cụ thể là tốc độ tăng trưởng GDP, xét theo giác độ chu kì kinh tế thì tăng trưởng của nền kinh tế gần như bằng 0, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã khiến cho tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản xuống mức âm Năm 2008, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng -1.04%, năm 2009 tiếp tục tăng trưởng ở mức -5.527% (là thời
kì hậu quả của cuộc khủng hoảng đã lan tràn khắp nền kinh tế) Kể từ đó đến nay, nền kinh tếNhật Bản tăng trưởng rất chậm và gần như không có sự cải thiện nào đáng kể
Về tăng trưởng GDP
Figure 1 GDP Nhật Bản (1986 - 2014) - đơn vị tỉ USD - nguồn: worldbank
GDP của Nhật Bản năm 2011 là 5.9 nghìn tỉ USD, nghĩa là chỉ nhỉnh hơn một chút so với thời kì năm 1995 (5.3 nghìn tỉ USD) Nói cách khác, nền kinh tế Nhật Bản sau hơn 15 năm
Trang 10chỉ tăng thêm khoảng 11% Trong khi đó GDP của Hoa Kì, cũng trong 15 năm đó đã tăng hơn gấp đôi, từ mức 7.1 nghìn tỉ USD năm 1995 lên 15.6 nghìn tỉ USD năm 2012 Cũng phảinói rằng Trung Quốc cũng trong 15 năm đó đã có mức tăng GDP khủng khiếp, GDP năm
2012 của Trung Quốc là 8.5 nghìn tỷ USD, gấp 10 lần mức năm 1995 Cũng kể từ năm 2012 thì Trung Quốc chính thức soán ngôi nền kinh tế lớn thứ hai thế giới của Nhật Bản, và vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong khi Nhật Bản tiếp tục chìm vào suy thoái GDP đầu người của Nhật bản năm 2011 là 46701 USD/người, chỉ tăng cao hơn mức GDP đầu người năm 1995 (42522 USD/người) là 9.82%, trong khi đó GDP đầu người của Hoa Kì tăng thêm hơn 79% Như vậy, có thể thấy rõ Nhật Bản trước đà năm 2013 đã có một thời kì tăng trưởng
âm và giảm phát kéo dài
Về chi tiêu
Chi tiêu tiêu dùng của Nhật Bản kéo theo đó cũng chỉ tăng ở mức rất nhẹ Tổng chi tiêu tiêu dùng năm 2012 của Nhật Bản chỉ hơn mức năm 1995 là 11% Điều này một phần là từ ảnh hưởng từ chính sách thuế tiêu dùng cao (5%) của chính phủ Nhật Bản nhằm cân bằng thâm hụt ngân sách, điều đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng với Nhật Bản Thống kê cho thấy nếu như trước năm 1995, mức nợ công của Nhật Bản vẫn chưa vượt quá 100% GDP (chỉ ở mức khoảng 80% GDP) thì đến năm 2011, nợ công của Nhật Bản đã lên đến 209.4% GDP Mặc dù tiết kiệm nội địa vẫn còn đủ sức bù đắp cho những chi tiêu hoang phí, đôi khi vì mục đích tranh cử, của chính quyền và 95% khoản nợ chính phủ nằm trong tay các nhà đầu tư nội nhưng, tình trạng lão hóa dân số đang đe dọa đảo ngược chiều hướng này Những người đượcsinh ra ở thời kỳ bùng nổ dân số đang đến tuổi về hưu Khi họ rút tiền tiết kiệm để chi tiêu vào lúc tuổi già, tình hình tài chính nhà nước chắc chắn sẽ bị hạn hẹp đáng kể
Tình trạng già hóa dân số
Tình trạng già hóa dân số nhanh chóng của Nhật Bản cũng làm giảm tổng cầu dành cho chi tiêu Một đồng Yên mạnh (duy trì ở mức gần như không đổi 100 JPY đổi 1 USD kể từ năm 1992) phần nào cũng làm giảm tương đối khả năng xuất khẩu của Nhật Bản Một đồng Yên mạnh lẽ ra phải làm tăng cường khả năng chi tiêu tiêu dùng của Nhật Bản, tuy nhiên như đã phân tích ở trên, chi tiêu tiêu dùng của Nhật Bản trong những năm qua lại tỏ ra rất yếu ớt
Ngoài ra, vụ thảm họa kép động đất và sóng thần năm 2011 như một hòn đá tảng đè nặng thêm lên thực trạng kinh tế vốn đã không mấy khả quan của Nhật Bản, kéo dốc đà tăng trưởng của năm 2012 và các năm sau đó Tóm lại, nền kinh tế giảm phát suy thoái kéo dài, không có tăng trưởng, kèm với già hóa dân số, nợ công cao đang đe dọa nghiêm trọng lên nền kinh tế Nhật Bản
2.1.2. Về vấn đề việc làm
Trang 11Khoảng thời gian 2011 – 2012, Nhật Bản cũng đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp
có chiều hướng tăng lên Năm 1995 tỉ lệ thất nghiệp ở mức khoảng 3.5% thì sang đến những năm 2008 – 2009, cao trào của khủng hoảng kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp lên đến mức hơn 5.5%
và trong năm 2011, con số này là khoảng 4.5% Trong khi đó lực lượng lao động của Nhật Bản lại đang trong đà giảm khi tình trạng giảm dân số và tỉ lệ sinh ở mức âm Cụ thể dân số trong độ tuổi lao động của Nhật Bản năm 1998 là khoảng 68 triệu người (chiếm 53.8% dân số) thì đến năm 2011, dân số trong độ tuổi lao động là khoảng 65,6 triệu người (chiếm 51.3%dân số) Một số ngành lao động như xây dựng, dịch vụ công có xu hướng giảm mạnh và người già quá tuổi nghỉ hưu vẫn phải làm những công việc làm thêm để trang trải cuộc sống
Đặc thù của nền kinh tế Nhật Bản là có tỉ lệ lao động nữ giới ở mức rất thấp Theo thống kê của World Bank năm 2011, tỉ lệ nữ trong độ tuổi lao động tham gia lao động ở Nhật Bản chỉ
ở mức 48.1 % (tỉ lệ này ở nam là 70.1%) Một lượng lớn lực lượng lao động (chiếm khoảng 1/3 dân số) đang làm các công việc không chính thức (như những việc làm bán thời gian hoặc việc làm thời vụ) với thu nhập và lợi ích thấp hơn các nhóm ngành công việc chính thức Đây là một lực lượng lao động tiềm năng của Nhật Bản mà theo như World Bank, nếu như tỉ lệ phụ nữ tham gia vào lao động tăng lên có thể thúc đẩy GDP của nền kinh tế tăng thêm 9%
Trang 122.2. Chính sách Abenomics – phân tích dựa theo lý thuyết Keynes
Các chính sách kinh tế của ông Abe còn được gọi là Abenomics bao gồm một tập hợp các cảicách tiền tệ, tài chính, cơ cấu kinh tế, hướng tới thúc đẩy lạm phát và đưa Nhật Bản thoát khỏi suy thoái giảm phát kéo dài nhiều thập kỷ qua Mục tiêu tổng thể là thúc đẩy tăng trưởng GDP hàng năm và tăng tỷ lệ lạm phát lên 2% thông qua chi tiêu ngắn hạn kích thích kinh tế, nới lỏng tiền tệ, và cải cách để thúc đẩy thị trường lao động trong nước và tăng cường quan hệ đối tác thương mại
2.2.1. Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân
Ông Abe cũng phê duyệt một gói kích cầu ngắn hạn trị giá 10,3 nghìn tỷ yên (trị giá 116 tỉ USD) vào tháng Giêng năm 2013, trong đó ông hứa sẽ đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng, tập trung vào xây dựng cầu, đường hầm và sẽ dành một khoản tiền lớn để đầu tư cho các hạng mục công trình, đào tạo nhân viên hành chính nhằm phục vụ cho Olympic Tokyo 2020 sắp tới, ngoài ra ông cũng sẽ đầu tư nhiều hơn vào các hệ thống đường chống động đất, tiếp tục khắc phục hậu quả và tái thiết các thành phố bị tàn phá bởi thảm họa kép năm 2011 Ông cam kết sẽ tạo ra lạm phát 2% ngay khi gói kích cầu đi vào hoạt động và có thể tạo ra 6000 việc làm Kể từ tháng 1/2013 đến Q4 năm 2016, chi tiêu chính phủ vẫn tiếp tục tăng lên đều đặn theo từng quý
Figure 2 Biểu đồ chi tiêu chính phủ Nhật Bản (Q1/2013 - Q1/2016) – nguồn: Federal Reserve Bank of St.Louis
Theo số liệu thống kê thì trung bình mỗi quý kể từ Q1/2013 đến Q4/2016, chính phủ chi ra khoảng 103 nghìn tỷ yên, tổng cộng mỗi năm trung bình chi ra khoảng hơn 400 nghìn tỷ yên nhằm chi trả cho các hoạt động chi tiêu của chính phủ Các khoản chi tiêu chính phủ kể từ khi Abenomics đi vào thực tiễn luôn chiếm dung lượng khoảng hơn 42% GDP năm đó
Trang 13Theo Keynes, tăng chi tiêu công nhằm phát triển kinh tế có nghĩa là tăng nợ chính phủ với mục tiêu tăng cường cơ sở hạ tầng Nhà nước dùng tiền nợ chính phủ đầu tư vào xây dựng, giúp tăng việc làm cho các công ty xây dựng Các công ty xây dựng lại thuê thêm nhân viên, nhân viên được tăng lương sẽ tăng thêm chi tiêu, giúp tăng doanh thu cho các công ty ngành khác Các công ty và nhân viên có thu nhập lại nộp thuế cho nhà nước, nhà nước dùng thuế
để trả lại nợ đã vay
Để đánh giá xem chính sách tài khóa kích cầu của Nhật Bản có thật sự hiệu quả hay không, chúng ta sẽ đi vào đánh giá chi tiết trong phần 2.3
2.2.2. Chính sách nới lỏng tiền tệ - tăng cung tiền, giảm lãi suất
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng gần gấp đôi mức độ mua hàng năm trái phiếu chính phủ Cụ thể ngày 4/4/2013, BoJ tung ra gói nới lỏng định lượng, mua vào trái phiếu nhằm tăng lượng cung tiền lên khoảng 60 đến 70 nghìn tỷ Yên một năm
Ngày 31/10/2014, BoJ tiếp tục mở rộng gói nới lỏng định lượng, mua vào 80 nghìn tỷ Yên trái phiếu Sự tăng cung tiền này được đo lường bằng lượng tiền M2 (bao gồm tổng lượng tiền mặt, tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn) Với việc liên tục bơm tiền vào nền kinh tế, tính đến tháng 5 năm 2016, BoJ
đã nâng mức cung tiền trong nền kinh tế lên khoảng 937 nghìn tỷ Yên, tăng 12.9 % so với mức hồi tháng 1 năm 2013 (khoảng 830 nghìn tỷ Yên)
Figure 3 Lượng cung tiền M2 Nhật Bản (tháng 1/2013 - tháng 5/2016) – nguồn: Federal Reserve Bank of St.Louis