Nhưng sau đó Schweinittz và Dorset 1903 đã chứng minh bệnh dịch tả là do một loại virus gây ranên đã xác định S.choleraesuis lafvi khuẩn gây bệnh phó thương hàn... - Hầu
Trang 11
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_oOo _
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
BÀI TẬP NHÓM MÔN: VI SINH THỰC PHẨM
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ VI KHUẨN GÂY BỆNH SALMONELLAS
GVHD: Th.S Đào Hồng Hà
Trang 3MỤC LỤC
7.12.1 Giới thiệu tổng quát về vi khuẩn Salmonellas 3
7.12.1.1 Lịch sử phát hiện 3
7.12.1.2 Phân loại 3
7.12.1.3 Nội độc tố (exotoxin) 3
7.12.1.4 Độc tố đường ruột và độc tố tế bào 4
7.12.2 Vi khuẩn Salmonellas và đặc điểm của nó 4
7.12.3.Các nguồn lây nhiễm bệnh của vi khuẩn Salmonellas và hội chứng của nó gây ra 7
7.12.3.1 Vi khuẩn salmonellosis (nhiễm khuẩn đường ruột) 7
7.12.3.1.1 Các nguyên nhân lây nhiễm 9
7.12.3.1.2 Cách phòng ngừa và điều trị 10
7.12.3.2 Vi khuẩn salmonella typhi ( sốt thương hàn ) 10
7.12.3.2.1 Tác nhân gây bệnh 11
7.12.3.2 Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh 12
7.12.3.3.Điều trị bệnh thương hàn 14
7.12.4 Phân lập và nhận dạng: 14
7.12.5 Salmonellas với thực phẩm 18
Trang 4BÀI TẬP NHÓM:
TÌM HIỂU VỀ VI KHUẨN GÂY BỆNH SALMONELLAS
7.12.1 Giới thiệu tổng quát về vi khuẩn Salmonellas
7.12.1.1 Lịch sử phát hiện
- Năm 1885, Slamon và Smith tìm được Salmonella từ lợn mắc bệnh dịch tả được gọi là Bacilus cholerasuis, hiện nay được gọi là Salmonella Nhưng sau đó
Schweinittz và Dorset 1903 đã chứng minh bệnh dịch tả là do một loại virus gây ranên đã xác định S.choleraesuis lafvi khuẩn gây bệnh phó thương hàn
- Năm 1888, A.Garner phân lập được mầm bệnh từ thịt bò và lách người bệnh, ônggọi vi khuẩn này là Bacillus enteritidis và ngày naybđược gọi là S.enteritidis Vi khuẩn này còn nhiều tên gọi khác
- Năm 1889, Klein phân lập được S.gallinarum và Rettger cũng đã phân lập được S.pullorum năm 1990 Trước đây người ta cho rằng đây là hai loại vi khuẩn gây ra hai bệnh khác nhau nên gọi chung là bệnh phó thương hàn gà
- Năm 1896, C.Archard và Rbensauded đã phân lập được vi khuẩn S.paratyphi equi và S paratyphi bacilus Ngày nay vi khuẩn này được gọi là S.paratyphi B và đến năm 1898, S.paratyphi A đã tìm được do N.Guyn và H Keyser
• Giống: Salmonella lignieres 1900
7.12.1.3 Nội độc tố (exotoxin)
- Nội độc tố là lipopolysaccharide (LPS) được giải phóng từ vách tế bào vi khuẩn
khi bị dung giải Trước khi thể hiện độc tính, LPS cần phải liên kết với các yếu tố liên kết tế baofhoawcj các receptor bề mặt tế bào Rất nhiều cơ quan trong cơ thể chịu sự tác động của nội độc tố LPS: gan, thận, cơ, hệ tim mạch,….với các bệnh lý: tắc mạch máu, giảm trương lực cơ thiếu oxy mô bào, toan huyết,…
Trang 5- Nội độc tố tác động trực tiếp lên hệ thống miễn dịch của cơ thể vật chủ, kích thích hình thành kháng thể LPS tác động lên các tế bào tiểu cầu, gây sốt nội độc tố, theo cơ chế:
+ Giải phóng các chất hoạt động mạnh như: Histamin
+ Ngưng kết các tiểu cầu động mạch
+ Đông vón, tắc mạch quản
- LPS tác động lên quá trình trao đổi glucid: LPS làm tăng cường hoạt lực của các men phân giải glocose, các men phân giải glycogen, làm giảm hoạt lực các men tham gia quá trình tổng hợp glycogen
7.12.1.4 Độc tố đường ruột và độc tố tế bào
- Độc tố đường ruột có hai thành phần chính: độc tố thẩm thấu nhanh và độc tố thẩm thấu chậm
- Độc tố tế bào có ba dạng:
+ Dạng 1: không bền nhiệt, mẫn cảm với trypsin, không bị trung hòa bởi kháng thểkháng độc tố Độc tố này tác động theo cơ chế ức chế tổng hợp protein của tế bào Hela và làm teo tế bào
+ Dạng 2: có nguồn gốc từ protein màng ngoài tế bào vi khuẩn có cấu trúc và chức năng gần giống các dạng độc tố tế bào do Shigella và các chủng ETEC sinh ra Dạng độc tố này cũng phổ biến ở hầu hết các serovar Salmonella gây bệnh
+ Dạng 3: có trọng lượng phân tử khoảng 62kDa, có liên hệ với độc tố Hemolysin và liên hệ với các độc tố tế bào có sự khác biệt với Hemolysin và khác về trọng lượng phân tử và phương thức tác động lên tế bào theo cơ chế dung giải các không bào nội bào
7.12.2 Vi khuẩn Salmonellas và đặc điểm của nó
Trang 6Salmonellas là thành viên của Enterobacteriaceae Trực khuẩn Gram âm, bào tử
hình que( điển hình là 0,5 μm đến 1-3 μm ) ,kỵ khí tùy nghi , có khả năng di động, m đến 1-3 μm đến 1-3 μm ) ,kỵ khí tùy nghi , có khả năng di động, m ) ,kỵ khí tùy nghi , có khả năng di động,
không có vỏ, không sinh nha bào, nói chung là giống với lông roi peritrichous.
- Tự nhiên: sống được 1 tuần trong nước và 2 tháng trong phân Đó cũng là nguyênnhân gây ra các bệnh dịch lớn cho cả con người và động vật hiện nay
- Ở nhiệt độ cao: chịu đựng kém (vi khuẩn bị chết ở 50°C/sau 1 giờ và 100°C/sau 5phút
- Đối với các hoá chất sát trùng: bị tiêu diệt bởi các thuốc sát trùng ở nồng độ thông thường như phenol 5%, HCl 1/500, v.v
+ Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên men glucose
không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methyl dương tính, VP
âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính, H2S dương tính (trừ Salmonella paratyphi A: H2S âm tính)
+ Tăng trưởng tốt từ nhiệt độ 50C lên đến 470C và tối ưu ở 370C Salmonellas
nhạy cảm với nhiệt và dễ dàng bị phá hủy bởi nhiệt độ thanh trùng S.Senftenberg
775W là các loại huyết thanh kháng nhiệt cao nhất và có trong sữa của D72 ở hoạt độ nước thấp 0,09
+ Khả năng chịu nhiệt đã được chứng minh bằng tăng cường nhiệt gây sốc nguy hiểm tại 48 0C trong 30 phút và cũng có thể được tăng lên rõ rệt trong những môi
trường hoạt độ thấp, ví dụ S Typhimurium của D70 có 11,3-17,5 h trong nước sốt
sô cô la Trong thực phẩm đông lạnh, số lượng vi khuẩn Salmonella giảm dần, tỷ
lệ giảm theo nhiệt độ lưu trữ giảm
Trang 7- Các hoạt độ nước tối thiểu đối với tăng trưởng khoảng 0,93 nhưng các tế bào sống sót tốt trong thực phẩm khô, tỷ lệ sống tăng lên khi hoạt độ nước giảm Các
pH tối thiểu của tăng trưởng khác nhau với các acidulant từ 5,4 với acetic axit 4,05 với axit hydrochloric và citric Tăng trưởng tối ưu ở khoảng pH 7
- Kỹ thuật quan trọng nhất cho các tiểu phân chia là đề án loại huyết thanh của Kauffman và White Điều này không cung cấp thông tin đầy đủ cấu trúc các kháng nguyên của mỗi salmonella, cũng không cung cấp một đề án khả thi sử dụng khángnguyên có giá trị chuẩn đoán Trong trường hợp phổ biến hơn của các loại huyết
thanh như S.typhimurium và S Enteritidis một chương trình phân biệt hơn
là phân loại cần thiết cho mục đích dịch tễ học và điều này đã được cung cấp bởi cách phân loại bằng thể thực khuẩn
- Điều này lần đầu tiên được áp dụng cho S.typhi, nơi mà hầu hết các chủng có thể
được xếp vào một trong 11 loại thực khuẩn sử dụng một tập hợp các thể thực khuẩn mà đã làm trên vi khuẩn và những kháng nguyên Một mức độ cao của sự tương quan đã được quan sát thấy giữa loại thể thực khuẩn và nguồn bệnh dịch Đề án phân loại giống bằng thể thực khuẩn đã được phát triển cho những người
khác, S.typhimurium , trong đó sử dụng 36 thực khuẩn để phân biệt ít nhất 232 loại khác nhau được công nhận, S.enteritidis và S Virchow Kiểu sinh học theo đặc
điểm sinh hóa đôi khi hữu dụng trong khảo sát dịch tễ học, nơi nó có thể bổ sung bằng thể thực khuẩn hoặc chia nhỏ một nhóm lớn các chủng khác loại Điều này đã
được chứng minh hữu ích nhất cho S.typhimurium dựa trên 15 xét nghiệm sinh hóa
đã xác định được 184 loại sinh học
- Hình dạng Plasmid xét trên sự cô lập và tách plasmid bằng điện di trên gel
agarose cũng có một số thành công như là một công cụ dịch tễ Một ví dụ đáng chúý của việc sử dụng nó là trong những năm đầu năm 1980 nó được sử dụng để xác
định chủng S.muenchen cho một ổ dịch ở Hoa Kỳ, nơi đa số thực phẩm là cần sa
- Các hồ sơ plasmid đã đủ khác biệt và ổn định để cho phép sự bùng phát được phân biệt với các chủng loại huyết thanh khác và chủng không bùng nổ của
S.muenchen Một số phân tử bằng thể thực khuẩn khác được mô tả trong chương
10 đã được sử dụng với Salmonella bao gồm cả xung điện trường gel ( PFGE )
- Salmonellas là sinh vật cư trú đầu tiên của đường tiêu hóa yếu Chúng có ở một
loạt các động vật thực phẩm, động vật hoang dã, động vật gặm nhấm, vật nuôi, chim, bò sát và côn trùng, thường không có biểu hiện bệnh rõ ràng Chúng có thể được truyền đi thông qua phân vào đất , nước ,thực phẩm và thức ăn và từ đó đến các động vật khác ( kể cả con người ) Hiện nay có tới 2000 loại huyết thanh
Trang 8Salmonella khác nhau Chúng gây bệnh cho người hoặc động vật hoặc cả hai Các bệnh do Salmonella gây ra ở người có thể chia thành 2 nhóm:
+ Salmonella typhi.
+ Salmonella paratyphi A, B, C
- Đặt tên cho mỗi loài Salmonella mới tìm ra có thể lấy tên động vật mang mầm
bệnh hoặc tên địa phương đã phân lập ra chúng lần đầu tiên Một số loài
Salmonella đáng được chú ý nhất
+ S.typhi: Chỉ gây bệnh cho người Ở nước ta bệnh thương hàn chủ yếu do S.typhi
gây ra
+ S.paratyphi A: Cũng chỉ gây bệnh thương hàn cho người Ở nước ta cũng hay gặp loài này sau S.typhi
+ S.paratyphi В: Gây bệnh thương hàn chủ yếu cho người, đôi khi ở cả súc vật
Bệnh thường gặp ở các nước Châu Âu
+ S.paratyphi С: Vừa có khả năng gây bệnh thương hàn, vừa có khả năng gây
viêm dạ dày ruột và nhiễm khuẩn huyết thường gặp ở các nước đông nam Châu Á
+ S.typhimurium và S enteritidis gây bệnh cho người và súc vật Hai loài này là
nguyên nhân chủ yếu của nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn do Salmonella
+ S.choleraesuis: Là căn nguyên thường gặp trong các nhiễm khuẩn huyết do Salmonella ở nước ta
- Hầu hết salmonellas lây nhiễm một loạt các loài động vật, nhưng một số loại huyết thanh là chủ thích nghi như S.enteritidis Pt4, S.pullorum và S.gallinarum trong gia cầm và S.cholerae - suis ở lợn Trong những trường hợp truyền trực tiếp
từ động vật sang động vật có thể quan trọng hơn và lây truyền dọc có thể xảy ra -
cha mẹ lây nhiễm cho con Ví dụ, S.enteritidis Pt4 có từ đàn gà mới nở có thể
vượt qua đến khi gà đẻ trứng và nhiễm transovarian vào trứng hay vỏ của nó
7.12.3.Các nguồn lây nhiễm bệnh của vi khuẩn Salmonellas và hội chứng của nó gây ra
- Điển hình là viêm ruột do salmonellosis và sốt thương hàn do vi khuẩn
salmonella typhi
7.12.3.1 Vi khuẩn salmonellosis (nhiễm khuẩn đường ruột)
Trang 9- Bệnh nhiễm khuẩn salmonella là một bệnh nhiễm khuẩn đường ruột do vi khuẩn
gọi là Salmonella gây ra Nhiễm khuẩn có thể lây lan từ ruột vào máu trong cơ thể và các nơi khác trong cơ thể bệnh có thể biến chứng nghiêm trọng nếu không có
cách điều trị thích hợp và loại phổ biến nhất của salmonellosis
- Khi một bệnh nhân mắc bệnh phải được điều trị kịp thời kết hợp với kháng sinh đặc hiệu; ở Anh chỉ có khoảng 200 týp huyết thanh được phát hiện trong một năm
Hiện nay S.enteritidis, và S.typhimurium, là phổ biến nhất, chiếm khoảng ba phần
tư phòng thí nghiệm báo cáo Kiểu huyết thanh tương đối thông thường khác là
S.virchow, S.infantis và S.newport.
- Đặc trưng của bệnh: các triệu chứng thường phát triển từ 6 – 72 giờ đồng hồ sau khi vi khuẩn bị nuốt vào Các triệu chứng bao gồm:
+ Sốt thương hàn do S.typhi, S.paratyphi, S.shottmuleri Các loài vi khuẩn theo
thực phẩm vào đường tiêu hóa gây độc, một số gây nhiễm khuẩn máu Từ máu salmonella đi khắp cơ thể gây nên những áp xe khu trú Thời gian ủ bệnh từ 10 - 14ngày, nhiệt độ tăng và người bệnh cảm thấy lạnh Cơ thể sẽ bị suy nhược, mệt mỏi,gan lách to dần, xuất huyết ngoài da, lượng bạch cầu giảm Sau 3 tuần bệnh giảm dần và có trường hợp bị tái phát Ngoài ra Salmonella còn có thể đến khu trú ở phổi, xương và màng não
+ Viêm ruột do S.typhimurium Khi chúng vào trong ruột hoặc máu mới sinh độc
tố gây viêm niêm mạc ruột Sau khi vào cơ thể 8 - 48 giờ, bệnh nhân thấy đau và nhức đầu nhẹ, ói, tiêu chảy, có bạch cầu trong phân Một số ca nặng dẫn đến tử vong Bệnh có thể khỏi sau 2 - 3 ngày
+ Ngoài ra khi bị nhiễm vi khuẩn Salmonella, đặc biệt là người già và trẻ sơ sinh
rất dễ bị mất nước
Trang 107.12.3.1.1 Các nguyên nhân lây nhiễm
- Vi khuẩn Salmonella sống trong ruột của người và thú vật và rời khỏi cơ thể qua
phân Nếu một người bệnh không rửa tay sạch sẽ sau khi đi nhà vệ sinh, họ có thể
truyền vi khuẩn này đến người khác từ tay của họ Vi khuẩn Salmonella có thể ô
nhiễm thức ăn, thức uống, hoặc sữa, bao gồm các sản phẩm thịt, thịt gia cầm và cácsản phẩm gia cầm nấu không đủ chín, các thực phẩm còn sống hoặc chỉ nấu sơ sài có chứa trứng và các sản phẩm trứng, sữa và các sản phẩm sữa không được khử trùng, và các thức ăn bị ô nhiễm phân bệnh của người làm đồ ăn Vi khuẩn
Salmonella có thể nhiễm vào thức ăn được pha chế hoặc xử lý bằng các dụng cụ
nấu bị ô nhiễm hoặc trên những tấm thớt hay trên mặt quầy bị ô nhiễm Vi khuẩn Salmonella cũng lây lan qua việc tiếp xúc với thú vật bị nhiễm bệnh, đặc biệt là giacầm, lợn, trâu bò, chuột, và thú nuôi như là loài bò sát, gà con, vịt con, rùa, chó và mèo
- Sinh vật ăn vào, mà tồn tại lối đi qua axit dạ dày, làm tê liệt các tế bào biểu mô của hồi tràng thông qua mannose-resistant Họ sau đó được nhấn chìm bởi các tế bào trong một quá trình được gọi là thụ thể endocytosis qua trung gian Khả năng của salmonellas nhập không phago-cytic tế bào là một đặc tính cần thiết để gây bệnh của họ Sự hiểu biết của chúng ta về cơ sở phân tử của quá trình này đã tăng lên đáng kể với việc phát hiện ra rằng nó chủ yếu được mã hóa trên một khu vực 35-40 kb của nhiễm sắc thể, được mô tả như một hòn đảo gây bệnh Khu vực này của DNA mã hóa một hệ thống bài tiết phức tạp cho các protein cần thiết trong báohiệu sự kiện mà phá vỡ các tế bào chủ và cuối cùng dẫn đến hấp thu vi khuẩn Được biết đến như là một loại III hoặc, trong một số trường hợp, một số liên lạc hệthống bài tiết phụ thuộc, các hệ thống này cũng có mặt trong một số
enteropathogens khác như Shigella, Yersinia, bệnh đường ruột và
enterohaemorraghic E coli Phân tích phát sinh loài và căn cứ của họ vị trí cho
rằng những khu vực của DNA có thể có được do một vi sinh vật như là một khối; một sự kiện đánh dấu một cách rõ ràng bước tiến hóa quan trọng đối với khả năng
gây bệnh Endocytosed salmonellas đi qua các tế bào biểu mô trong màng sinh chất
và khóa chặt không bào, nơi chúng sinh sôi và sau đó được phát tán vào propria lamina qua màng tế bào đáy Tế bào bệnh phát tán làm sưng viêm các tế bào lành dẫn đến sự ra đời của prostaglandins trong đó kích hoạt adenylate cyclase sản xuất tiết dịch vào trong lòng ruột
- Liều nhiễm salmonella cao, trật tự 106 tế bào, nhưng điều này sẽ thay đổi theo
một số yếu tố như tính độc hại của các type huyết thanh, sự nhạy cảm của các cá nhân và các thực phẩm xe liên quan Một số ổ dịch đã xảy ra nơi mà dịch tễ học
Trang 11bằng chứng ological trỏ đến một liều nhiễm thấp 10-100 tế bào Điều này thể hiện rõ ở trẻ em và người già.
7.12.3.1.2 Cách phòng ngừa và điều trị
- Việc nhiễm vi khuẩn Salmonella có thể được chẩn đoán bằng thử nghiệm cấy
phân Trong nhiều trường hợp, cơn bệnh được đỡ hơn trong 5-7 ngày mà không cần điều trị đặc biệt Bị nhiễm nặng và bị nhiễm bệnh ở những người có nhiều nguy cơ bị nhiễm nặng cần phải được điều trị bằng thuốc kháng sinh Uống nhiều nước để ngăn ngừa bị mất nước
- Phòng ngừa
+ Rửa tay bằng xà bông và nước ấm trước khi cầm đến bất cứ thực phẩm nào, khi cầm đến các loại thực phẩm khác nhau, và sau khi đi nhà vệ sinh Nấu chín tất cả các loại thịt, đặc biệt là thịt gia cầm, thịt lợn, các sản phẩm trứng và các món ăn có thịt Các loại thịt còn sống nên được giữ riêng khỏi các rau cải, thực phẩm đã nấu chín, và các thực phẩm ăn liền Tay, thớt, mặt quầy, dao, và các dụng cụ khác nên được rửa kỹ sau khi đã đụng đến các thực phẩm còn sống Khử trùng các chỗ và các dụng cụ dùng để pha chế thực phẩm còn sống sau mỗi lần dùng (1 thìa cà phê thuốc tẩy gia dụng cho mỗi ga-lông nước) Đừng xả lại bằng nước và để hong khô Pha dung dịch thuốc tẩy mới này mỗi ngày Đừng ăn trứng sống hoặc trứng nấu còn hơi sống Chỉ uống sữa đã được khử trùng Vứt bỏ tả đúng cách và rửa tay sau
khi thay tả Vì loài bò sát là loài đặc biệt dễ bị vi khuẩn Salmonella, mọi người nên
rửa tay ngay lập tức sau khi đụng đến loài bò sát Loài bò sát (bao gồm rùa) không phải là loài thú nuôi thích hợp cho trẻ nhỏ và không nên ở chung trong nhà với mộtấu nhi Trẻ em và người lớn bị tiêu chảy không nên sử dụng các khu vực bơi công cộng cho đến khi họ được bình phục
7.12.3.2 Vi khuẩn salmonella typhi ( sốt thương hàn )
Trang 12- Bệnh thương hàn là một bệnh cấp tính toàn thân do vi khuẩn Salmonella enterica type huyết thanh typhi gây nên với bệnh cảnh sốt kéo dài, có nhiều biến chứng nặng như xuất huyết tiêu hoá, thủng ruột, viêm cơ tim, viêm não dễ dẫn đến tử vong Bệnh chủ yếu lây qua đường tiêu hoá, lưu hành ở những khu vực có tình trạng vệ sinh thấp kém, đôi khi bùng phát thành dịch
- Bệnh phó thương hàn có biểu hiện bệnh lý và lâm sàng tương tự nhưng nói chungnhẹ hơn, do nhiều typ huyết thanh của Salmonella gây ra nhưng hay gặp nhất là Salmonella typ huyết thanh Paratyphi A, Schottmuelleri (ParaTyphi B) và
Hirschfeldii (Paratyphi C)
7.12.3.2.1 Tác nhân gây bệnh
- Bệnh thương hàn do vi khuẩn Salmonella enterica typ huyết thanh Typhi (gọi tắt
là Salmonella Typhi) gây nên Đây là trực khuẩn Gram âm không sinh nha bào, có
roi, catalase dương tính, hiếu kỵ khí tuỳ tiện, oxydase âm tính, lên men glucose và khử nitrate Vi khuẩn tổng hợp roi lông khi di động, có kháng nguyên thân O
(oligosaccharide), kháng nguyên roi H (protein), kháng nguyên vỏ bao vi
khuẩn(polysaccharide) và một phức hợp đại phân tử lipopolysaccharide gọi là nội độc tố tạo thành phần phía ngoài của thành vi khuẩn Nội độc tố này bao gồm ba lớp: lớp ngoài (O), lớp giữa (R) và lớp nền (lớp lipid A)
- Vi khuẩn có khả năng sinh đề kháng kháng sinh truyền qua các plasmid
- Sự đề kháng kháng sinh
+ Năm 1952, chỉ 2 năm sau khi bắt đầu sử dụng kháng sinh điều trị thành công
bệnh thương hàn thì đã có báo cáo về S.typhi kháng chloramphenicol - Các vụ bùng phát S.typhi kháng chloramphenicol xảy ra ngày một nhiều ở các nước đang
phát triển từ đầu những năm 1970 đến giữa những năm 1980
+ Cuối những năm 1980 cho đến đầu những năm 1990, phát hiện thấy S Typhi có plasmid đề kháng với chloramphenicol, ampicillin, cotrimoxazol ở châu Á và Đông Bắc Phi Một nghiên cứu ở Việt Nam năm 1993-1994 cho thấy có tới hơn 70% các chủng phân lập là đa kháng và 4% kháng acid nalidixic
+ Nhiễm các chủng đa kháng cho thấy liên quan đến số lượng vi khuẩn trong máu cao hơn, đáp ứng với điều trị chậm hơn, tăng biến chứng và tăng tỷ lệ tử vong
+ Các Fluoroquinolone và Cephalosporin thế hệ III nổi lên trong những năm 1990
như là những thuốc hiệu quả để điều trị các trường hợp sốt thương hàn có mầm bệnh kháng với các kháng sinh tiêu chuẩn