Nói cách khác, ông đã dựng lên cho bạn đọc thấy được diễn biến tâm lí cùng đời sống nội tâm của nhân vật qua hàng loạt chi tiết bên ngoài như một dáng ngồi, một cách ăn mặc, một vài câu
Trang 1Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
VỢ CHỒNG A PHỦ (Tô Hoài) MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH, LỜI BÌNH VÀ TƯ LIỆU
1 Wattpad:
A Cảm nhận của Tô Hoài về "Vợ chồng A Phủ" trích trong "Tác phẩm văn học 1930- 1975", Tập hai, NXB Khoa học Xã hội, 1990, tr 71 "Nhưng điều kì diệu là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội
ác cũng không giết được sức sống con người Lay lắt, đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng mãnh liệt"
B Nguyễn Quốc Luân Ở "Vợ chồng A Phủ" nhà văn đã có sử dụng công và thành công trong miêu tả, trong dựng cảnh Nói cách khác, ông đã dựng lên cho bạn đọc thấy được diễn biến tâm lí cùng đời sống nội tâm của nhân vật qua hàng loạt chi tiết bên ngoài như một dáng ngồi, một cách ăn mặc, một vài câu hỏi, một cái nhìn, một bước đi đến một tảng đá hay một ô cửa sổ khi miêu tả như thế, do đã được nhập vào với số phận của nhân vật, thuộc được hoàn cảnh sống đầy biến động và đổi thay của nhân vật, nhà văn đã định ra được một cách tự nhiên một mạch lời kể chuyện vừa phù hợp với tâm lý riêng của họ, vừa mang sự gãy gọn của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại
Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn hay viết về một sự đổi đời kì diệu Như nhiều truyện ngắn có chung
tư tưởng chủ đề này Vợ chồng A Phủ cũng có cấu trúc chia đôi rất rõ:
1/ Những ngày ở Hồng Ngài: Mị và A Phủ là người - người xinh tươi, khỏe mạnh, giỏi giang - mà phải sống kiếp nô lệ, trâu ngựa khốn khổ ê chề
2/ Những ngày ở Phiềng Sa: Mị và A Phủ là người sống tự do và đã biết bảo vệ lấy tự do ấy Tuy nhiên cái nhìn hay của truyện này là ở chỗ: Chỉ trong chừng 400 chữ, mà nhà văn đã dựng lại được một chặng then chốt của toàn bộ sự chuyển hóa ấy, khiến cho bạn đọc dẫu khó tính cũng phải nhận rằng: Việc Mị
và A Phủ từ đêm đen nô lệ ra vùng ánh sáng tự do là hoàn toàn hợp lí, hợp lẽ tự nhiên Như vậy là chính lòng thương người và thương thân đã chiến thắng nỗi sợ hãi, đã quyết định hành động tự giải thoát
C Tô Hoài
Lời văn viết Truyện Tây Bắc: Năm 1952, tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào miền Tây, tham dự chiến dịch giải phóng Tây Bắc Cái kết quả lớn nhất và trước mắt của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước
và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều, không thể bao giờ quên
Ý bao quát trong khi tôi viết Truyện Tây Bắc là : Nông dân các dân tộc ở Tây Bắc bao năm gian khổ chống đế quốc và bọn chúa đất Cuộc đấu tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc, mang một sắc thái đặc biệt Nhìn lướt qua, nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta dễ tưởng những cảnh những người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ Không, ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng Họ đã thức tỉnh Cán bộ của Đảng tới đâu thì các dân tộc đứng lên tới đấy, trước nhất là những người trẻ tuổi Họ thật đẹp và yêu đời
Một vấn đề khác, đó là những ý thơ trong văn xuôi Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi
đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng hơn lên
2 Facebook:
Chất thơ trong Vợ Chồng A Phủ Nói về việc sáng tác “Truyện Tây Bắc”, Tô Hoài cho biết, “ngoài tài liệu và trên cả sáng tạo”, ông
đã đưa vào trong tác phẩm của mình “những ý thơ”: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi” Thật vậy, cụ thể trong
“Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp một trong những nét đặc sắc nhất của Tô Hoài là biệt tài phát hiện và chuyển tải chất thơ trong cuộc sống bình dị vào trang viết Chất thơ man mác bao phủ bầu không khí của tác phẩm là sự cộng hưởng hiệu ứng của nhiều thủ pháp nghệ thuật, ánh lên từ tình huống truyện đầy nhân văn, từ ngôn ngữ hàm súc và giọng điệu trần thuật giàu tính nhạc Để rồi từ đó, hiện lên trong tác phẩm bàng bạc chất thơ này là thiên nhiên, là lối sống, là phong tục và tâm hồn con người không lẫn vào đâu được
Trang 2Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI
Theo lí luận văn học Mác – xít, một tác phẩm văn học bất kỳ không nằm ngoài ba phương thức – thể loại: trữ tình, tự sự và kịch Tác phẩm văn học nếu không là thơ thì sẽ là văn xuôi (văn xuôi nghệ thuật – phân biệt với văn xuôi chính luận và các dạng văn xuôi khác không cùng khái niệm “văn học”) hoặc kịch Cái nhìn phân xuất của lí luận là như vậy Nhưng trên thực tế, đã, đang và sẽ tiếp tục hình thành những tác phẩm mà ở đó có sự kết hợp, trộn lẫn, xuyên thấm giữa những yếu tố hình thức và “cái nhìn bên trong” của các thể loại khác nhau, ở những mức độ đậm nhạt nhất định, và cho ra đời những sản phẩm “là nó, nhưng đồng thời không chỉ là nó” khá đặc sắc Ở đây, ta xét tới khía cạnh hiện tượng thâm nhập của thơ đến lãnh địa của văn xuôi, hay nói một cách cụ thể là khảo sát chất thơ trong tác phẩm văn xuôi
Pha-đê-ép từng nói: “Văn xuôi cần phải có cánh Đôi cánh ấy chính là thơ” Tolstoy từng thốt lên:
“Tôi không bao giờ hiểu đâu là ranh giới giữa văn xuôi và thi ca” Paustovsky, trong “Truyện cuộc đời”, từng bộc bạch: “Tôi đã nhìn thế giới xung quanh qua tấm lăng kính trong suốt của thơ” và với ông, “văn xuôi là sợi cốt còn thơ là sợi ngang Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả” Còn Puskin hay nhắc tới khái niệm “văn xuôi chân chính”, đó là thứ văn chương “bao giờ cũng có tiết tấu của nó”, “bao giờ cũng thấm đượm chất thơ như chất nước ngọt ngào thấm trong trái táo” Như vậy, trong quan niệm sáng tác của các nhà văn, chất thơ không đơn giản chỉ là sự trang trí, một thứ trang sức làm lộng lẫy cho văn xuôi mà chính nó là một phẩm chất bắt buộc của văn xuôi Bởi đó, chất thơ trở thành chiếc cầu nối mềm mại đưa văn xuôi thấm vào hồn người êm ái và dịu dàng hơn bao giờ hết
Hiểu theo nghĩa rộng, chất thơ phải gắn với cái đẹp Nói như giáo sư Đỗ Lai Thúy, đó có thể là cái đẹp tự nhiên “như cảnh mây trắng nhởn nhơ bay trên bầu trời xanh thẳm” hay chất thơ được tạo ra từ những tình cảm, hành động của con người “như sự nhớ nhung, sự uyển chuyển của các điệu múa”… Khi nói đến chất thơ, người ta cũng thường có thói quen nghĩ ngay đến những cái gì đẹp, thơ mộng, lý tưởng
và bay bổng như một phong cảnh nên thơ, một tâm hồn thơ mộng Người ta ít nghĩ hơn đến chất thơ trong những cảnh đời lam lũ, mệt nhọc hay những cảnh tưởng bề bộn, tăm tối Quan niệm ấy tuy có phần đúng nhưng không đủ và có tính chất hẹp hòi Trong cuộc sống, không phải mọi đối tượng, mọi cảnh ngộ và sự việc đều nên thơ như nhau nhưng cũng không thể xác định rằng có đối tượng nên thơ
và đối tượng không nên thơ Vấn đề là ở mức độ và phân lượng khác nhau, và quan trọng chính là ở sự phát hiện Biết phát hiện ở đối tượng khách quan phần nên thơ của nó, cung cấp cho nó một hình dáng, một cách giải thích, một lý tưởng đẹp, đó chính là nhiệm vụ của văn chương nghệ thuật Chính vì vậy, chất thơ trong nghệ thuật bao gồm sự thống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo chủ quan của nhà thơ Thực tế khách quan được chọn lọc ở những mặt kết tinh tiêu biểu, ở những chi tiết và hình ảnh chân thực là tiền đề trực tiếp nhất để tạo nên chất thơ trong tác phẩm
CHẤT THƠ TRONG TÁC PHẨM
Chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài hiện lên trước hết qua hình ảnh thiên nhiên vời vợi với những núi non, nương rẫy, sương giăng… không thể lẫn được với một nơi nào trên đất nước ta Những chi tiết miêu tả thiên nhiên đan xen, hoà quyện trong lời kể của câu chuyện Có khi, chỉ một vài điểm nhấn, tác giả đã phác ra được cái nét rất riêng của đối tượng Những ngày sống trong căn phòng ngột ngạt, tù túng của mình ở nhà thống lí Pá Tra, Mị nhìn ra trời qua khung cửa sổ bé bằng bàn tay, lúc nào Mị cũng “chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” Không gian ấy chỉ có thể tìm được ở Tây Bắc bởi núi rừng trùng điệp Ban ngày, ánh mặt trời cũng khó có thể xua tan những màn sương giăng trắng làng bản Đêm xuống, sương đêm hoà với ánh trăng tạo nên thứ không gian huyền ảo như trong ảo mộng Đặc biệt, nhà văn đã có những câu văn thật hay nêu bật được hình ảnh đặc trưng về thiên nhiên Tây Bắc những ngày giáp Tết: “Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”, “trẻ con đốt những lều canh nương”, “gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa đã đem phơi trên những mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ, gió và rét rất dữ dội” Những câu văn mang đầy “ý
Trang 3Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
thơ” đã lột tả được hồn cốt thiên nhiên Tây Bắc với núi rừng trùng điệp, cao rộng vời vợi Điểm vào cái nền thiên nhiên xanh mướt ấy là những dấu ấn của con người: những nương lúa, nương ngô uốn lượn trên sườn đồi sườn núi; những đống lửa bốc lên từ các lều canh nương; những đám cỏ gianh vàng ửng; những chiếc váy hoa xoè rực rỡ nhiều màu sắc của những cô gái H’mông là điểm nhấn đầy thi vị cho bức tranh thiên nhiên ấy
Chất thơ còn được nhận ra bởi đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của con người nơi đây Đọc truyện, ta rất dễ bắt gặp những hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong đời sống hằng ngày của đồng bào Tây Bắc Đó là ngôi nhà gỗ với bếp lửa đặt trong nhà suốt mùa đông không tắt hòn than, là những công việc hằng ngày như cõng nước, cắt cỏ cho ngựa ăn, quay sợi,… Trang phục đặc trưng của người phụ
nữ H’mông vùng cao này là váy xoè sặc sỡ đi kèm với những chiếc vòng bạc lấp lánh
Truyện cũng miêu tả rất tinh tế một phong tục rất đẹp, rất thơ của đồng bào vùng cao là lễ hội mùa xuân Tết của người vùng cao không giống tết ở miền xuôi Người vùng cao có cách tính ngày Tết rất độc đáo thể hiện thuần túy tư duy nông nghiệp Họ ăn tết khi ngô lúa đã gặt xong, mùa xuân có niềm vui thu hoạch mùa màng Và dù cái Tết năm ấy đến Hồng Ngài “giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội” cũng không ngăn được niềm vui đang trỗi dậy trong tâm hồn những người dân ở đây, đặc biệt là ở những đôi trai gái yêu nhau Không khí ngày xuân của Hồng Ngài mang những dấu ấn đặc trưng đậm hương vị núi rừng Tây Bắc: Mùa xuân đến, trai gái tìm đến nhau để tỏ tình Họ bận những
bộ quần áo đẹp nhất Họ chơi ném còn, chơi quay, thổi sáo, đàn môi, uống rượu,… Tất cả đều mê mải, say sưa trong tiếng sáo dìu dặt, tình tứ
Tô Hoài đã đặc tả không khí ngày tết với những từ ngữ giàu chất tạo hình, qua đó hiện lên bức tranh ngày tết miền núi tràn ngập màu sắc và âm thanh: “Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa
đã đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ [ ] Đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà” Ông cũng đặc biệt chú trọng đến phong tục của họ qua con mắt tò mò, hóm hỉnh của mình: “Trai gái kéo nhau lên núi chơi Đi chơi trên núi từng đoàn”, “Các chị Mèo đỏ, váy thêu,
áo khoác, khăn hoa chùm rực rỡ Các chị Mèo trắng chít khăn xếp phẳng lì, tóc mai cạo xanh nhẵn”
Khi viết về những ngày tết ở Hồng Ngài, nhà văn Tô Hoài cũng rất chú ý miêu tả tiếng sáo Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ nói lên tình cảm trong lòng: “Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi” Đó là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng Trong “Vợ chồng A Phủ”, ngòi bút Tô Hoài cũng tỏ ra rất thành công khi lột tả được nét đặc trưng, lột tả được “cái hồn” của tiếng sáo: “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng
ai thổi sao rủ bạn đi chơi”, “Tiếng sáo réo rắt suốt đêm ngoài đầu núi tranh” Tiếng sáo còn là cách tỏ tình đặc biệt của người con trai miền núi: “Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách” Thời gian cứ tiếp nối, những ngày tết vùng cao và đêm tình mùa xuân của ngày xưa
và ngày sau dường như vẫn thế Tiếng sáo gọi bạn tình vượt qua thời gian, tồn tại vĩnh hằng trong trái tim biết bao chàng trai cô gái miền sơn cước
Bên cạnh những phong tục đẹp đẽ thể hiện tâm hồn thuần phác, nồng hậu của đồng bào Tây Bắc
là những phong tục còn mông muội, chứa nhiều điều bất công vẫn còn tồn tại ở Tây Bắc những năm trước Cách mạng Đó là sự phân chia đẳng cấp giàu – nghèo rất rõ Trang phục của con nhà giàu cũng có những dấu hiệu khác: “Rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo” Đó là tục bắt vợ, cúng ma trình vợ đầy mê tín Cái hủ tục lạc hậu ấy đã trở thành một thứ thần quyền ghê gớm án ngữ tư tưởng của người lao động nơi này, khiến họ luôn bị bóng đêm của sự mông muội đè nén, giày xéo không sao ngẩng đầu lên được Đó là cái lệ đi ở trừ nợ: “bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày làm con trâu, con ngựa cho nhà tao Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi” Đặc biệt, hình ảnh ngôi nhà gỗ nghi ngút khói thuốc phiện với bữa tiệc phạt vạ được miêu tả trong câu chuyện không thể tìm thấy được ở vùng đất nào khác Tài năng của nhà văn tập trung trong việc quan sát, dựng cảnh sắc sảo cảnh xử kiện nhà thống lí
Pá Tra Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn, hủ tục, lề lối, sự tàn bạo, dã man của thế lực phong kiến miền
Trang 4Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
núi đã được lột tả hết sức sinh động: “Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút […] Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch” Phải thấm thía cảnh sống đau đớn, tủi nhục như thế, ta mới cảm nhận được hết sức mạnh
“cởi trói” tựa như bản năng sinh tồn mãnh liệt của những thân phận bị chà đạp
Tóm lại, nghệ thuật miêu tả sinh hoạt và phong tục của nhà văn đã giúp người đọc có thêm nhiều hiểu biết phong phú về đời sống của đồng bào Tây Bắc Trong truyện ngắn này, bằng vốn hiểu biết phong phú và khả năng quan sát tinh tế, tác giả đã khắc hoạ lại được những bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng, thể hiện được nhiều phong tục độc đáo và miêu tả sinh động những người H’mông hồn nhiên, ngay thẳng Từ cảnh xuân trên bản đến cảnh vui chơi trong ngày Tết, cảnh xô xát giữa hai đám thanh niên đến cảnh xử kiện,… tất cả đều được phác hoạ sống động, tài tình, tạo nên phong vị đặc trưng của vùng núi Tây Bắc cụ thể, xác thực
Nét đặc sắc nhất của chất thơ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” biểu hiện ở tâm hồn nhân vật Mị
Ẩn sâu trong tâm hồn Mị, một cô gái tưởng chừng như héo hắt, sống một cuộc đời lầm lũi “đến bao giờ chết thì thôi” ấy, có ai ngờ, vẫn le lói những đốm lửa của khát vọng tự do, của tình yêu cuộc sống Ở nhà thống lí Pá Tra, Mị có cái vẻ ngoài âm thầm chịu đựng nhưng bên trong, kỳ thực, đó lại là một sức sống tiềm tàng, rạo rực Đúng như Tô Hoài đã nói: “Ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng” Tính nhân văn trong câu chuyện là đây Chất thơ đặc biệt được tác giả tạo nên là đây Đó là khi nghe tiếng sáo gọi bạn trong những đêm tình mùa xuân vọng về, lòng Mị lại “thiết tha bổi hổi” Tiếng sáo giao duyên ấy chạm vào phần sâu kín nhất của tâm hồn Mị, phần tâm hồn rạo rực của cô gái trẻ ngỡ như đã chết đi khi cô mang thân phận con dâu trừ nợ nhà thống lí Pá Tra Tiếng sáo giao duyên ấy đã dẫn lối tâm hồn Mị trở về với ký ức của những ngày tự do xưa: “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” Và tiếng sáo giao duyên ấy thức tỉnh tâm hồn Mị:
“Mị thấy phơi phói trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước Mị trẻ lắm
Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi…” Đến đây, ta chợt nhớ lại một câu châm ngôn rằng: “Cái chết không phải là mất mát lớn nhất trong cuộc sống Mất mát lớn nhất chính là ta để tâm hồn mình lụi tàn ngay cả khi còn sống.” Mị, từ một nhân vật sống không bằng chết, nay đã sống lại trong tâm hồn Và khi tâm hồn
Mị không lụi tàn chính là khi sức sống tiềm tàng, rạo rực trong Mị chỉ chờ cơ hội đến là trỗi dậy mạnh
mẽ Như vậy, trong quá trình xây dựng nhân vật Mị với một cuộc đời đầy bi kịch, nhà văn Tô Hoài đã thật khéo léo thêm vào nhân vật mình một nét tâm hồn rất “thơ” và giàu tính nhân văn Dù viết về mảng
đề tài bi kịch trong cuộc sống của con người, những trang văn của Tô Hoài vẫn thấm đượm chất thơ Chất thơ ấy chứa đựng trong nỗi khát khao mãnh liệt về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng cho mỗi con người
Làm nên chất thơ của “Vợ chồng A Phủ” không thể không nhắc đến ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn với hàng loạt các âm thanh, các hình ảnh gợi hình, gợi cảm rất nên thơ và đậm màu sắc Ngôn ngữ văn xuôi của Tô Hoài ngoài cái ý nghĩa cụ thể trong từng câu chữ còn có một cái vô hình khó chỉ ra nhưng hoàn toàn có thể cảm thấy, đó chính là giọng điệu, là âm điệu câu văn cùng tiết tấu nhịp nhàng của nó Tiết tấu đó chính là sự thể hiện những điệu tâm hồn, những cung bậc khác nhau trong tình cảm của nhà văn Những điều này sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau, khi phân tích về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm
Tóm lại, chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài được tạo nên bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn cái khí sắc lãng mạn với bút pháp trữ tình cùng cái duyên mượt mà của một văn phong điêu luyện Đó là kết quả từ việc nhà văn vận dụng các loại hình nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc vào nghệ thuật viết văn; là
Trang 5Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
kết quả của sự cộng hưởng giữa thơ ca và văn xuôi Chất thơ say đắm lòng người không chỉ ở vẻ đẹp huyền diệu của thiên nhiên mà còn ở những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn con người Bên cạnh nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, Tô Hoài còn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi khả năng diễn đạt tài tình những rung động sâu xa, tinh tế trong thế giới đa cung bậc và muôn vàn sắc thái của tình cảm Cảm thức tinh tế của Tô Hoài trong việc nắm bắt và tái hiện sự biến chuyển của màu sắc,
âm thanh, ánh sáng, mùi vị trong thiên nhiên là một trong những yếu tố tạo nên bầu không khí trữ tình, trong trẻo, đẹp đẽ bao quanh thế giới nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài Nhịp điệu, chất nhạc trong văn xuôi Tô Hoài bắt rễ từ vốn hiểu biết tinh tường về ngôn ngữ mẹ đẻ, những trực cảm tinh tế về ngôn ngữ (Trần Thị Nhàn Thanh, giáo viên Ngữ văn trường THPT Bùi Thị Xuân)
3 Nhãn quan phong tục trong Vợ chồng A Phủ:
Tô Hoài được mệnh danh là nhà văn của phong tục Ông có một nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén và sắc sảo Những phong tục bao đời nay của dân tộc ta vốn đã rất phong phú và độc đáo nhưng khi vào tác phẩm của Tô Hoài, nó lại được miêu tả sinh động và lôi cuốn bội phần
Có thể nói, dù viết về những người dân ngoại thành Hà Nội, về đồng bào miền núi cao Tây Bắc hay về loài vật, Tô Hoài cũng khéo léo đưa vào đó những phong tục, tập quán quen thuộc của con người Việt Nam Ở đây, xin đi sâu phân tích nhãn quan phong tục của Tô Hoài trong tác phẩm tiêu biểu của ông: Vợ chồng A Phủ
Phong tục là đặc trưng văn hóa dân tộc, là niềm tự hào của một cộng đồng người từng quần tụ với nhau hàng nghìn năm trong một vùng lãnh thổ Đó là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo Việc thể hiện phong tục trong tác phẩm đem đến cho người đọc những tri thức bổ ích về đời sống, những hiểu biết thú vị về những vùng trời xa lạ hay về một thời kì lịch sử thường không còn vang bóng Thông qua những trang viết đậm màu sắc phong tục, người đọc biết được
ở thời kì ấy, miền đất ấy, dân tộc ấy có những thói quen sinh hoạt, cách ăn mặc, nói năng, vui chơi, lao động, cách giao tiếp, ứng xử, những nghi lễ tôn giáo như thế nào
Vợ chồng A Phủ là tác phẩm tiêu biểu nhất của Tô Hoài viết về đề tài miền núi Mảng sáng tác về
đề tài này được coi là một “đặc sản” của ông Căn cứ vào số lượng tác phẩm và hành trình sáng tác, có thể coi Tô Hoài là nhà văn viết nhiều nhất, thủy chung nhất với đề tài miền núi Chính những năm tháng thâm nhập thực tế vùng núi cao Tây Bắc đã giúp Tô Hoài có một vốn sống phong phú và sâu sắc về cuộc sống và con người đồng bào các dân tộc vùng đất này.Bởi vậy, đọc Vợ chồng A Phủ, ngoài bức tranh hiện thực về đời sống xã hội, người đọc còn bị thu hút bởi những trang miêu tả phong tục sinh hoạt với màu sắc dân tộc đậm đà, với những chi tiết độc đáo, sinh động của một cây bút có óc quan sát thông minh, tinh tế
1 Tục cho vay nặng lãi:
Tục cho vay nặng lãi ở miền núi thời phong kiến được thể hiện tập trung ở nhân vật Mị Số phận của Mị tiêu biểu cho số phận người phụ nữ H’mông nghèo ngày trước: có đầy đủ phẩm chất để được sống hạnh phúc nhưng lại bị đọa đày trong kiếp sống nô lệ
Đi tìm nguyên nhân cho số phận bất hạnh của cô Mị, người đọc có dịp hiểu về tục cho vay nặng lãi – nỗi lo sợ hãi hùng của biết bao số phận người lao động nghèo khổ miền núi trước Cách mạng Ngày xưa, bố mẹ Mị lấy nhau không có đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ Mỗi năm phải đem nộp lãi một nương ngô Rồi đến khi mẹ Mị chết, bố Mị đã già mà món nợ ấy vẫn như một sợi dây oan nghiệt: “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, đến bây giờ người ta bắt con trừ nợ, không thể làm khác được rồi” Mị muốn được làm chủ cuộc đời bằng sức lao động của chính mình: “Con nay đã biết cuốc nương, làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu” Nhưng đâu có được! Tục cho vay nặng lãi đã trói Mị vào món nợ truyền kiếp Từ đây, Mị phải sống cuộc đời của người con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra Định mệnh bi thảm đã giáng xuống cuộc đời người thiếu nữ ấy, buộc chặt cô vào số phận nô lệ không có lối thoát
2 Tục cướp vợ trình ma
Trang 6Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
"Bản Mèo ánh trăng sáng
Tay dắt cương giấu con ngựa dưới sàn
Chàng trai người Mông vắt em yêu ngang lưng ngựa đó
Ngựa mang thiên thần lên đỉnh núi"
Những câu hát trong ca khúc “Cướp vợ” của ban nhạc Ngũ Cung đã phần nào nói lên phong tục cưới hỏi rất đặc sắc của người H’mông Trai gái H’mông yêu nhau, chàng trai thỏa thuận với người yêu
tổ chức cuộc “cướp” mang người con gái về nhà mình Sau đó mới đến trình nhà vợ Thường mùa xuân
ăn tết, con trai hay đi “cướp vợ” Đây là phong tục thanh niên rất thích và bây giờ vẫn còn
Mị là cô gái đẹp, thổi kèn hay, nhiều người mê Mị “trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị” Tết năm ấy, Mị bị A Sử - con trai thống lí Pá Tra đánh lừa, lợi dụng tục này cướp cô về làm vợ Xót
xa thay, hắn đâu cưới Mị vì tình yêu, hắn và người nhà hắn bắt Mị về ép duyên để gạt nợ: “Họ nhốt Mị vào buồng Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa” Ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Tô Hoài đã phanh phui bản chất bóc lột giai cấp được ẩn sau những phong tục tập quán Cô
Mị tiếng là con dâu nhưng thực chất chỉ như một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải mua mà lại tha hồ được bóc lột, hành hạ
Ý thức phản kháng của Mị cũng dần tiêu tan chỉ vì ý nghĩ : mình đã bị đem trình ma thì có chết cũng trở thành ma nhà thống lí, chết cũng không được tự do Hủ tục đã giết chết hạnh phúc của Mị Suy nghĩ lạc hậu, mê tín dị đoan – một phần trong tâm linh người dân tộc H’mông cũng là một phần nguyên nhân khiến cuộc đời Mị rơi vào bi kịch Tình cảnh của Mị là chứng cớ tố cáo mãnh liệt nhất bọn cường hào cho vay nặng lãi Vợ chồng A Phủ chính là bản cáo trạng hùng hồn về những nối thống khổ của người phụ nữ miền núi – những người vừa phải chịu gánh nặng của chế độ phong kiến, vừa bị trói chặt trong xiềng xích của thần quyền
3 Tục xử kiện, phạt vạ, trình ma người vay nợ
Sự xuất hiện của nhân vật A Phủ cũng góp phần thể hiện nhãn quan phong tục của Tô Hoài A Phủ có số phận bất hạnh, mồ côi cả cha lẫn mẹ, suốt đời làm thuê làm mướn Anh nghèo đến nỗi không thể nào lấy được vợ và cũng không có nổi cái vòng bạc để đi chơi tết như bao chàng trai H’mông khác Chính những hủ tục “phép rượu”, “phép làng” và tục cưới xin nên A Phủ trở thành tứ cố vô thân, không sao lấy được vợ
Ngày tết, A Phủ rủ bạn đi chơi đánh pao A Sử đến phá đám bị A Phủ đánh Cũng vì thế, A Phủ bị trói mang đến nhà Pá Tra Bằng ngòi bút miêu tả phong tục bậc thầy, Tô Hoài đã tái hiện sống động một cuộc xử kiện quái lạ, từ đó vạch trần cách áp bức dã man, trắng trợn kiểu trung cổ của bọn thống lí miền núi Cuộc xử kiện diễn ra trong không gian của màu khói thuốc phiện “xanh như khói bếp”, của mùi khói thuốc phiện ngào ngạt Những kẻ tham gia vào bộ máy xử kiện thì “nằm dài cả bên khay đèn” Cứ hút xong một đợt thuốc phiện, Pá Tra lại ra lệnh, trai làng lại thay nhau lạy tên thống lí lia lịa rồi xông
ra đánh A Phủ Như vậy, cuộc xử kiện quái đản này thực chất chỉ là một cuộc tra tấn người dã man của bọn chúa đất – những con nghiện: “suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút” Cuối cùng, người con trai tự do của núi rừng như A Phủ cũng không thoát khỏi nanh vuốt của lũ chúa đất Từ đây, anh vĩnh viễn trở thành nô lệ cho nhà Pá Tra: “Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng… Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi” Như vậy, bản chất của phạt vạ ở đây chỉ là để thỏa mãn cho bọn thống quản ăn chơi, hút xách
Bằng nhãn quan phong tục sắc sảo, Tô Hoài đã giúp người đọc hiểu thêm về những tục lệ kì quái,
dã man của bọn chúa đất, chúa rừng trước kia Câu chuyện về A Phủ - người nô lệ gạt nợ đã bổ sung cho câu chuyện về Mị - người con dâu gạt nợ để làm hoàn chỉnh bản án về tội ác của bọn thống trị phong kiến đối với những người lao động lương thiện ở miền núi trước Cách mạng
4 Những ngày tết vùng cao, đêm tình mùa xuân
Trang 7Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Với vốn hiểu biết phong phú, khả năng quan sát sắc sảo và năng lực dựng người, dựng cảnh tinh
tế, tác giả đã phác họa được những bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng, miêu tả sinh động nhiều phong tục độc đáo của người H'mông
Tết của người vùng cao không giống tết ở miền xuôi Người H'mông ăn tết khi ngô lúa đã gặt xong, mùa xuân có niềm vui thu hoạch mùa màng Cho nên cái tết năm ấy đến Hồng Ngài giữa lúc "gió và rét rất dữ dội" nhưng cũng không ngăn được niềm vui đang trỗi dậy trong tâm hồn những người dân ở đây, đặc biệt là ở những đôi trai gái yêu nhau Tô Hoài đã đặc tả không khí ngày tết với những từ ngữ giàu chất tạo hình, qua đó hiện lên bức tranh ngày tết miền núi tràn ngập màu sắc và âm thanh: "Trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ [ ] Đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà" Ông cũng đặc biệt chú trọng đến những phong tục lạ, ngộ nghĩnh qua con mắt tò mò, hóm hỉnh của mình: "Trai gái kéo nhau lên núi chơi Đi chơi trên núi từng đoàn", "Các chị Mèo đỏ, váy thêu, áo khoác, khăn hoa chùm rực rỡ Các chị Mèo trắng chít khăn xếp phẳng lì, tóc mai cạo xanh nhẵn"
Khi viết về những ngày tết ở Hồng Ngài, nhà văn Tô Hoài cũng rất chú ý miêu tả tiếng sáo Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ nói lên tình cảm trong lòng:" Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi" Đó là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng Trong "Vợ chồng A Phủ", ngòi bút Tô Hoài cũng tỏ ra rất thành công khi lột tả được nét đặc trưng, lột tả được "cái hồn" của tiếng sáo: "Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sao rủ bạn đi chơi", "Tiếng sáo réo rắt suốt đêm ngoài đầu núi tranh" Tiếng sáo còn là cách tỏ tình đặc biệt của người con trai miền núi: "Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách"
Thời gian cứ tiếp nối, những ngày tết vùng cao và đêm tình mùa xuân của ngày xưa và ngày sau dường như vẫn thế Tiếng sáo gọi bạn tình vượt qua thời gian, tồn tại vĩnh hằng trong trái tim biết bao chàng trai cô gái miền sơn cước
Trong Vợ chồng A Phủ, với biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục xã hội, Tô Hoài đã tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, một không gian nghệ thuật mang đậm màu sắc dân tộc độc đáo ở vùng cao Tây Bắc Thông qua tác phẩm, người đọc có thêm những tri thức bổ ích về đời sống, phong tục tập quán của dân tộc H'mông đó là tục cho vay nặng lãi; tục cướp vợ trình ma; tục
xử kiện, phạt vạ, trình ma người vay nợ Tất cả được Tô Hoài miêu tả với những tìm tòi, khám phá sâu sắc, không phải bằng kiến thức dân tộc học khô khan mà là qua nhãn quan phong tục vô cùng độc đáo
và những trang viết thấm đẫm tình người
Hạnh Ngân
4 Vietnammoi:
Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này
Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là
do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của
Mị trong từng chặng đường đời
Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm
Trang 8Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mắt buồn rười rượi" Đó là tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử
Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến
Mị thành một đứa con dâu gạt nợ Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật
sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém
Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa
Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử
đã trói đứng Mị vào cột Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị
Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: Cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét
Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi" Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến
Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại"
Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ
Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không lau đi được Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia,
“chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”
Lý trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác” Việc trói người đến chết còn ác hơn cả thú dữ trong rừng Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc
Trang 9Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật
Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi
Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi” Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Người kia việc gì mà phải chết như thế A Phủ…
Mị phảng phất nghĩ như vậy” Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ
là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó
Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư?
Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp
Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận
ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng…
Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho
A Phủ Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này
Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?
Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên
Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất” Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình
Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng Chính
nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung
Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó
Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị Quả thật, tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân
Trang 10Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này
Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955 Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”
5 Cảm nhận về 'tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.tiếng của mấy bà đi chợ về" (Chí Phèo - Nam Cao ) và 'Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bổi hổi ' (Vợ chồng A Phủ -Tô Hoài)
HƯỚNG DẪN Trong tác phẩm văn học,chi tiết nghệ thuật cực kỳ quan trọng,nếu ko có nó,tác phẩm dường như chưa thực sự mang tầm Chi tiết nghệ thuật giống như một hạt cát nhưng đủ để mang đến một sa mạc mênh mông,chi tiết nghệ thuật giống như một giọt nước nhưng có thể làm đồng hiện cả đại dương bao la.Trong tác phẩm CP và Vợ chồng A Phủ hai tác giả Nam Cao và Tô Hoài đã làm nên hai"hạt cát","hai giọt nước ấy".Đó là 'tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá.tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.tiếng của mấy bà đi chợ về' (Chí Phèo ) và 'Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bổi hổi '(Vợ chồng A Phủ )
Chi tiết nghệ thuật là những yếu tố nhỏ lẻ của tác phẩm nhưng mang lại sức chứa lớn về cảm xúc
và tư tưởng.sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở sự truyền cảm xúc và thì góp phần quyết định tạo ra sức truyền cảm hấp dẫn, lôi cuốn người đọc là nhờ ở chi tiết Chi tiết bao giờ cũng có khả năng thuyết minh,biểu hiện cái toàn thê.NC̉ xây dựng chi tiết Chí Phèo thức dậy sau cơn say dài và nghe được âm thanh của cuộc sống đời thường rất đỗi bình dị.TH thì thâm nhập vào mê cung tâm trạng của
Mị để thổn thức với tiếng sáo gọi bạn tình rập rờn,thiết tha,bổi hổi Như vậy, điểm chung nhất của NC
và TH đó chính là họ đã thổi vào tác phẩm của mình một âm thanh.Đó là những âm thanh hết sức diệu kỳ,nó len lỏi vào tận sau trong tâm hồn vốn tưởng như đã chết của nhân vật để khơi dậy trong họ niềm ham sống và khao khát sống mãnh liệt.giả dụ như ko có âm thanh ấy, Chí Phèo đã triền miên trong cơn say dài để chẳng bh biết mình có mặt trên cõi đời này.giả dụ ko có tiếng sáo ấy,Mị vẫn chỉ là cô gái ngồi quay sợi gay bên tảng đá,mãi vô cảm,vô hồn như 'cái vỏ ko có ý nghĩa gì hết'.thế nhưng âm thanh tiếng sáo gọi bạn tình đã đánh thức cô Mị ngày xưa,đã đưa cô đến với những phút giây hồi sinh mãnh liệt.Để rồi có sự phản kháng quyết liệt với hoàn cảnh thực tại mang đến bao nhiêu cảm xúc cho người đọc.và cũng chính nhờ thứ âm thanh bình dị, thân thuộc của cuộc sống thôn quê mà Chí Phèo nghe được đã thức dậy cái tính Người vốn dĩ đã vùi dập trong chí Để rồi sau đó ta thấy một Chí Phèo hiền lành, lương thiện biết bao trong cái hình hài vốn đã bị hư hao rất nhiều sau những tháng năm bán mình cho quỹ
dữ
Xây dựng những chi tiết nghệ thuật đặc sắc ấy, NC và TH đã chung nhau một điểm đó là'mượn
âm thanh' để gơị dậy những'âm thanh' vốn dĩ bị chìm khuất trong nhân vật.Đấy cũng là những chi tiết đặc sắc góp phần khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc mới mẻ trong hai tác phẩm Chí Phèo -NC và Vợ chồng A Phủ -TH
Cùng xây dựng chi tiết nghệ thuật ấy nhưng do quan niệm và cách viết khác nhau,đề tài khác nhau nên ở hai chi tiết nghệ thuật trong CP và Vợ chồng A Phủ lại mang những ý nghĩa riêng
Ở tác phẩm'Chí Phèo ' là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống xung quanh 'hôm nào chả có' Đó là tiếng chim hót ngoài vườn, tiếng mấy bà đi chợ về,tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá giả dụ như đó là tiếng quát mắng của Bá Kiến,hay cái giọng lè nhè say của Tự Lãng, hay tiếng khóc
tỉ tê của một người vừa bị Chí làm cho đỗ vỡ thì chắc NC ko bao giờ lay động được lòng người như những