1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tài liệu Doanh nghiệp nhỏ và chính sách kinh tế pptx

17 339 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Doanh Nghiệp Nhỏ Và Chính Sách Kinh Tế
Trường học VCCI
Thể loại Bản tin
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 115 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doanh nghiệp nhỏ và chính sách kinh tếBản tin Carnegie giành số 43 tháng 3 năm 2004 phân tích đánh giá về doanh nghiệp nhỏ đối với chính sách kinh tế của Nga và các nước Á - Âu.. Bài viế

Trang 1

Doanh nghiệp nhỏ và chính sách kinh tế

Bản tin Carnegie giành số 43 tháng 3 năm 2004 phân tích đánh giá về doanh nghiệp nhỏ đối với chính sách kinh tế của Nga và các nước Á - Âu VCCI xin lược dịch giới thiệu bản phân tích này để bạn đọc tham khảo

Nội dung:

:: Phần 1 Vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ

:: Phần 2 Điểm cân bằng tối ưu và cận tối ưu

:: Phần 3 Các chi phí liên quan tới quy định của chính phủ

:: Phần 4 Quan điểm chính trị của hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp nhỏ

:: Phần 5 Phương pháp đánh thuế

:: Phần 6 Kết luận

Phần 1 Vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ

Trên thế giới, hầu hết hoạt động sản xuất đều có quy mô nhỏ: một hoặc hai cá nhân hoạt động riêng lẻ hơn là một doanh nghiệp có tổ chức Vấn đề quan trọng để phát triển kinh tế là làm thế nào để thuyết phục họ đầu tư, thuê thêm nhân công và hơn nữa là trả thuế

Tóm tắt nội dung

Các thể chế như quyền sở hữu và pháp chế có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh

tế dài hạn và biến động kinh tế ngắn hạn Việc xây dựng các thể chế như vậy luôn được xem là mục tiêu ưu tiên Tuy nhiên, vẫn chưa có một lộ trình chính thức cho những thay đổi này

Theo bài viết, ít nhất đối với các nền kinh tế tập trung thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây, cách tốt nhất là trước tiên phải xoá bỏ các rào cản để các doanh nghiệp quy mô nhỏ dễ dàng trở thành một bộ phận chính thức của nền kinh tế Thêm nữa cũng cần phải thực hiện đồng thời các chính sách về thuế, các quy định và việc thành lập thể chế

về quyền sở hữu Cách thức nhanh và hiệu quả để giải quyết vần đề này là hạ thấp mức thuế thu nhập đánh vào các doanh nghiệp nhỏ Mức thuế thấp có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đồng thời đem lại lợi ích gián tiếp như giảm nhẹ gánh nặng của luật và nạn tham nhũng Các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội trước đây đã áp dụng mức thuế này và nhanh chóng mở rộng số lượng các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Trang 2

Những chính sách này có lợi thế về kinh tế nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất là thay đổi sự cân bằng về chính trị, tạo ra động lực thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế

Kinh nghiệm gần đây của các quốc gia Đông Âu, Đông Á và Nam Mỹ cho thấy các thể

chế như tư pháp, quyền sở hữu và các ngành luật cụ thể khác có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế dài hạn và phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng ở một khía cạnh nào đó các thể chế này được hình thành ít nhất từ thời North và Thomas (1973), Jones (1981), North (1981) và Olson (1982), với các ý tưởng ban đầu từ thời Adam Smith Đã có rất nhiều minh chứng thực tế rằng các thể chế hoạt động hiệu quả là nhân

tố có tính quyết định đối với việc phát triển thị trường tài chính và thu nhập tính theo đầu người và sự phát triển của nền kinh tế các nước trong hơn 30 năm qua Hơn thế mặc

dù không có sự định hướng trước nhưng các thể chế vẫn tồn tại trong thời gian dài Tại các quốc gia như Achentina, các thể chế hoạt động yếu kém dẫn đến hậu quả nền kinh

tế bất ổn và khủng hoảng liên tiếp xảy ra (Acemoglu, Johnson, Robinson và Thaicharoen năm 2003)

Còn nhiều tranh cãi về ý nghĩa của những sự phát hiện này đối với vấn đề chính sách (xem ví dụ Frankel 2002) Làm thế nào để một quốc gia nghèo có thể cải thiện đáng kể được các thể chế của mình? Liệu điều này mất thời gian hay có thể thực hiện được nhanh chóng? Tất nhiên chúng ta chưa thể biết rõ nên thay đổi thể chế như thế nào cũng như đưa ra lời khuyên các quốc gia nên và không nên làm gì? Sẽ không có một phương thuốc kỳ diệu hay một thể chế nào phù hợp cho tất cả Tuy nhiên trong bài viết

sẽ đưa ra một gợi ý phù hợp với các nước xã hội chủ nghĩa trước kia đó là xoá bỏ rào cản để doanh nghiêp nhỏ có thể gia nhập nền kinh tế một cách chính thức và giảm dần chi phí vận hành bằng cách áp dụng mức thuế thu nhập thấp và đơn giản

Bài viết này cũng so sánh tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ trong các nền kinh

tế khác nhau và tại sao các quốc gia lại rơi vào tình trạng phát triển mất cân đối và hoạt động mang tính chính thức khu vực doanh nghiệp nhỏ lại rất yếu ớt Tiếp đó bài viết phân tích các ý tưởng và việc đối xử công bằng đối với mọi loại hình doanh nghiệp đồng thời nghiên cứu chi tiết chính phủ nên áp dung các mức chi phí như thế nào đối với các doanh nghiệp nhỏ Trong phần cuối, bài viết phân tích mức thuế khoán (lump-sum taxes) được áp dụng trên thực tế như ra sao, và xem xét khía cạnh chính trị của việc thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ cũng như tiếp tục luận bàn về thuế và mức thuế trần

Vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ

Trên thế giới, hầu hết hoạt động sản xuất đều có quy mô nhỏ: một hoặc hai cá nhân hoạt động riêng lẻ hơn là một doanh nghiệp có tổ chức Vấn đề quan trọng để phát triển

Trang 3

kinh tế là làm thế nào để thuyết phục họ đầu tư, thuê thêm nhân công và hơn nữa là trả thuế

Các doanh nghiệp nhỏ có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và sự phát triển kinh

tế Tại các quốc gia phát triển trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khoảng 60% tổng thu nhập quốc nội là đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ, nghĩa là các doanh nghiệp có nhiều nhất là 50 nhân công (theo OECD năm 2002) Một nền kinh

tế thị trường hiện đại bao gồm hàng nghìn thị trường, các thị trường này yêu cầu hàng triệu doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng và hoạt động hiệu quả Rất nhiều các doanh nghiệp nhỏ có sức cạnh tranh mạnh và một nền kinh tế hiện đại bao gồm nhiều hoạt động kinh tế đến mức có càng nhiều doanh nghiệp càng tốt Các quốc gia đang phát triển tại châu Mỹ la tinh hoặc nhóm các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây có số lượng rất ít các doanh nghiệp nhỏ, đây được xem là một trong những điểm yếu cố hữu

về cơ cấu của nền kinh tế (De Soto 2000; Ngân hàng thế giới 2002)

Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ không chỉ là tính kinh tế mà cả tính chính trị Nếu một quốc gia có ít các doanh nghiệp nhỏ thì các chính sách của các quốc gia này sẽ hướng vào lợi ích của các doanh nghiệp lớn và duy trì ít các doanh nghiệp nhỏ, điều này cản trở năng suất lao động của quốc gia đó Trái lại tại các quốc gia có nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ thì số lượng sẽ luôn duy trì ở mức cao Rất ít trường hợp các doanh nghiệp

bị cản trở khi muốn thành lập - ngoại trừ Liên bang Nga trong thập niên 30 và một số các quốc gia ở Đông Âu sau năm 1945

Quy mô của khu vực doanh nghiệp nhỏ rất khác nhau trong nội bộ quốc gia và thậm chí trong khu vực và giữa các nước ý là ví đụ điển hình với số lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ trong thời kỳ Emilia xã hội chủ nghĩa ở phía Bắc, trong khi ở phía Nam là chế độ bảo thủ thì thiếu vắng các doanh nghiệp nhỏ

Dưới thời xã hội chủ nghĩa, Ba Lan có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, trái lại Séc và Slovakia hầu như không có Thậm chí tình hình này còn xảy ra trong giai đoạn các cuộc chiến tranh thế giới Séc đã từng nổi tiếng với các doanh nghiệp nhỏ và hầu hết các doanh nghiệp nhỏ của Ba Lan là của người Do Thái và đều đã bị giải thể hoặc di chuyển trong giai đoạn năm 1940 và 1950 (Ăslund 1985)

Một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới về sự chuyển đổi của các nền kinh tế chỉ

ra rằng các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây đều có một số lượng rất ít các doanh nghiệp nhỏ và hiện có thể chia làm hai nhóm rất khác nhau Một nhóm gồm các quốc gia như Cộng hoà Séc, Hungari, Latvia, Lituani và Ba Lan thì các doanh nghiệp nhỏ đóng góp 50% đến 60% tổng thu nhập quốc dân, gần tương đương với các quốc gia công nghiệp hoá Tây Âu Trái lại, trong nhóm nước thứ hai gồm Nga và Kazactan, các doanh nghiệp nhỏ chỉ đóng góp 20% tổng thu nhập quốc dân

Trang 4

Sự quan sát trên cho thấy ba điểm Thứ nhất một sự khác biệt nhỏ về thể chế có thể dẫn đến sự khác biệt rất lớn về quy mô của khu vực doanh nghiệp nhỏ Thứ hai, nếu thể chế không đổi thì số lượng các doanh nghiệp nhỏ sẽ vẫn rất khác nhau, trái lại các khu vực kinh tế sẽ tương đồng hơn trong thời gian dài Thứ ba, nhữngthay đổi nhất định

về chính sách có thể dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về quy mô của khu vực doanh nghiệp nhỏ

Phần 2 Điểm cân bằng tối ưu và cận tối ưu

Chắc chắn là có hai điểm cân bằng trong nền kinh tế chính trị vào giai đoạn quá độ hậu chủ nghĩa xã hội Một số quốc gia trong thời kỳ quá độ đều rơi vào điểm cân bằng cận tối ưu với mức đóng góp 20% trong GDP của khu vực doanh nghiệp nhỏ, trái lại các quốc gia khác đạt được điểm cân bằng tối ưu với khoảng 50% đến 60% trong GDP Thực tế khác biệt này được hiểu là có hai lựa chọn điểm cân bằng: một là điểm cân bằng tối ưu, hai là điểm cân bằng cận tối ưu Mục đích của chính sách chính phủ là chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế cận tối ưu sang tối ưu

Tuy nhiên, một số các doanh nghiệp nhỏ lại không đòi hỏi được hưởng những điều kiện tốt hơn Chính quyền rất dễ gây khó khăn cho các công ty, do vậy mà các công ty lại mất nhiều hơn là được (Olson 1971) Có lẽ các doanh nghiệp nhỏ sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi không bị chén ép quá mức bởi vì sự độc quyền trong nền kinh tế hợp pháp khiến các doanh nghiệp mất đi những khoản tiền còn lớn hơn những khoản hối lộ cho các quan chức chính quyền

Tuy nhiên các doanh nghiệp quy mô nhỏ sẽ không còn chịu thiệt thòi do tình trạng độc quyền gây ra Hiện nay họ cần cạnh tranh bằng giá, cắt giảm chi phí và đòi hỏi chính phủ giảm thuế ở điểm này, các doanh nghiệp nhỏ cần có sự hậu thuẫn về chính trị để không dễ dàng bị chén ép Để chuyển từ điểm cân bằng cận tối ưu sang điểm tối ưu, điều quan trọng là tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ hơn mức thấp hiện nay

Ngân hàng thế giới (2002) cho rằng con số này sẽ đạt được khi các doanh nghiệp nhỏ đăng ký chính thức đóng góp khoảng 40% vào tổng sản phẩm quốc nội Điều này được xem là điểm nút về chính trị nhằm đưa các doanh nghiệp nhỏ chính thức đi vào hoạt động hợp pháp Nếu con số các doanh nghiệp đóng thuế tăng hơn mức hiện nay thì các doanh nghiệp nhỏ sẽ có vị thế chính trị hơn và như vậy vị trí của các doanh nghiệp này

sẽ thay đổi

Một kết luận lôgic là cần phải đề ra những biện pháp mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp nhỏ để thúc đẩy sự đóng góp của họ vào GDP Điều này đi ngược lại một trong

số các nguyên tắc chuẩn của một chính sách kinh tế là tất cả các doanh nghiệp đều được đối xử công bằng về luật và thuế

Trang 5

Bản chất của sự công bằng

Một nguyên tắc kinh tế chuẩn là tất cả các doanh nghiệp cần được đối xử công bằng thông qua mức thuế suất, tuy nhiên chính phủ lại áp đặt nhiều mức thuế đối với các doanh nghiệp có quy mô khác nhau và như vậy sự công bằng là tương đối chứ không phải tuyệt đối Các quy định và thuế luôn luôn có liên hệ mật thiết với quy mô kinh tế Ví

dụ các yêu cầu về báo cáo số liệu là quy định chung đối với tất cả các doanh nghiệp, nhưng chính quy định này lại gây sự bất hợp lý rất lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ Thuế suất đa dạng chắc chắn có lợi đối với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp này sẽ áp dụng linh hoạt các mức cắt giảm về thuế hơn các doanh nghiệp nhỏ Các quy định và việc kiểm tra các doanh nghiệp không thay đổi theo quy mô doanh nghiệp mà chính là hiệu quả kinh tế

Thực tế tất cả các quốc gia thuộc tổ chức OECD đều thống nhất quan điểm về sự công bằng khi một văn bản của OECD (1999) đưa ra vấn đề này:

Tất cả các quốc gia thuộc tổ chức OECD đều áp dụng các biện pháp cần thiết như các biện pháp về thuế nhằm cải thiện môi trường kinh tế và kỹ thuật của các doanh nghiệp nhỏ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của khu vực doanh nghiệp này Lý do quan trọng cho của chính sách này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn phải chịu mức chi phí cao hơn theo tỷ lệ, sự không hoản hảo của thị trường, lợi ích về xã hội luôn được đặt cao hơn lợi ích về kinh tế và những mục tiêu xã hội khác có liên quan

Có rất nhiều lý do giải thích cho sự phân biệt đối xử ngày càng lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ ở các quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi Tệ tham nhũng rất phổ biến tại các quốc gia kém phát triển (Treisman 2000), và điều này cũng xảy ra tại các quốc gia đang trong thời kỳ chuyển đổi (Transparency International 2002) Hơn nữa tệ tham nhũng tràn lan thì không thể có chuyện công bằng trong đối xử mà thậm chí còn làm trầm trọng thêm sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp nhỏ Tại các quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi, do nhà nước muốn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nên các công ty có địa vị chính trị thường tận dụng sự ưu đãi của nhà nước để thu lợi cho bản thân (Hellman 1998, Jones, Kaufmann và Schankerman 2000; Hellman, Jones và Kaufmann 2000)

Trên thực tế tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước kia, các doanh nghiệp nhỏ phải chịu sự phân biệt đối xử rất lớn, điều này thể hiện rất rõ trong rất nhiều các cuộc nghiên cứu doanh nghiệp của các nền kinh tế chuyển đổi (EBRD 1999, 2002) ở Ukraina vào năm 1999 một tập đoàn tài chính quốc tế nhận thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ tính toán số thuế họ phải nộp chiếm 30% tổng doanh thu

Như vậy có lý do sát đáng để cho rằng các quy định và thuế nhằm đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp thực tế lại phân biệt đối xử với các doanh nghiệp nhỏ Một cách lôgic thì các quốc gia cần phải xoá bỏ sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp nhỏ bởi

Trang 6

điều này gây tổn hại cho lợi ích kinh tế chung Nếu nạn tham nhũng còn tồn tại thì càng cần phải có những hành động kiên quyết Bởi vậy các biện pháp mạnh mẽ cần được thực hiện tại các quốc gia đang trong thời kỳ chuyển đổi

Một điều nghịch lý là cộng đồng các nhà kinh tế quốc tế lại gây cản trở đối với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ khi họ khằng định rằng những biện pháp mạnh mẽ

là không đúng và rằng tất cả các doanh nghiệp đều phải tuân theo luật pháp cho dù họ

bị thiệt thòi Thật không hay là cả Tổ chức Tiền tệ Thế giới và Ngân hàng Thế giới đều tán thành quan điểm này Sự công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ chỉ thực sự có được khi và ở những nơi lẽ thường thay thế những quan điểm kinh tế cố hữu

Tổ chức OECD, một tổ chức quốc tế đã có sự quan tâm đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ, tuy nhiên tổ chức này vẫn chưa đưa ra được những kết luận về vấn đề này

Tổ chức này cũng đề ra một khung chính sách nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ tại các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi nhưng rút cục cũng chỉ là một danh sách dài dòng về những điều nên làm mà không có mấy thay đổi (OECD 1999)

Phần 3 Các chi phí liên quan tới quy định của chính phủ

Các khoản phí nhà nước quy định đối với các doanh nghiệp có thể chia làm ba loại chính: thuế, các quy định và quyền sở hữu Thuế là một khoản thu dễ hiểu và minh bạch nhất của chính phủ Các chi phí đliên quan tới quy định của chính phủ thì luôn thay đổi và đặt ra các giới hạn mà các doanh nghiệp được phép làm (bao gồm thủ tục hành chính, kiểm tra và xử phạt nếu vi phạm) Quyền sở hữu gồm luật về đăng ký quyền sở hữu như cấp giấy phép và luật bảo vệ quyền sở hữu

Các khoản phí nhà nước quy định đối với các doanh nghiệp có thể chia làm ba loại chính: thuế, các quy định và quyền sở hữu Thuế là một khoản thu dễ hiểu và minh bạch nhất của chính phủ Các chi phí đliên quan tới quy định của chính phủ thì luôn thay đổi và đặt ra các giới hạn mà các doanh nghiệp được phép làm (bao gồm thủ tục hành chính, kiểm tra và xử phạt nếu vi phạm) Quyền sở hữu gồm luật về đăng ký quyền sở hữu như cấp giấy phép và luật bảo vệ quyền sở hữu

Tuy nhiên cũng có rất nhiều điểm giống nhau giữa ba loại trên Xử phạt vi phạm luật mang tính chất tài chính và cấp giấy phép lại vừa có tính thủ tục đồng thời có tính chất tài chính Mục đích chính là đơn giản hoá cả ba loại hình trên - đây thực sự là một nhiệm vụ khó khăn Ví dụ Nga đang thực hiện một loạt thay đổi về luật để thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ nhưng cho đến nay không mang lại kết quả Khi chính quyền không

Trang 7

can thiệp vào một lĩnh vực nào đó thì ngay lập tức xiết chặt việc thực thi một quy định khác bởi vì động cơ của họ là không đổi

Ví dụ tại Thụy Sỹ các doanh nghiệp nhỏ chiếm lĩnh khu vực rừng phía Nam trong khi các doanh nghiệp lớn chiếm lĩnh các khu rừng trung tâm Sự thiếu vắng các doanh nghiệp nhỏ tại trung tâm Thụy Sỹ chủ yếu là do biện pháp của chính quyền, việc phân chia khu vực là nhằm duy trì số lao động khan hiếm tại các doanh nghiệp lớn Không có đất cho doanh nghiệp thì việc giảm thuế cũng không có ích gì

Để thúc đẩy sự phát triển của khu vực các doanh nghiệp nhỏ, điều cần làm là gắn kết 3 thể chế gồm thuế, các quy định và quyền sở hữu Một câu hỏi lớn là làm thế nào giảm thiểu được ba loại phí của chính phủ Mục tiêu là là tìm ra được một chính sách loại bỏ được những ảnh hưởng tiêu cực, khả thi về mặt chính trị và đủ mạnh để thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ vượt qua được khó khăn to lớn này

Chi phí theo quy định của chính phủ cũng tương tự như thuế Trong một nghiên cứu về các doanh nghiệp sản xuất mới tại Balan, Rummani, Nga, Slovakia và Ukraina thực hiện vào năm 1997, Johnson, McMillan và Woodruff (2000) nhận thấy rằng mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Nga, Ukraina là thuế và dịch vụ toà án Mặc dù tại châu Âu lục địa tổng số thuế thu được trong tổng thu nhập quốc nội luôn ở mức cao nhưng các doanh nghiệp chỉ phải chi 16% trong tổng doanh thu cho thuế trong khi tại Nga và Ukraina số thuế mà các doanh nghiệp phải trả chiếm 24% doanh thu Một điều khá thú vị là các doanh nghiệp Nga phải chi nhiều hơn 50% trong tổng doanh thu so với các doanh nghiệp ở châu Âu cho các khoản đút lót, trong khi các doanh nghiệp Ukraina phải chi hơn 75% Con số này cho thấy thuế và các khoản tiền hối lộ có quan hệ mật thiết Nếu điều này là có thực thì nạn tham nhũng hay những chi phí hành chính ngầm

sẽ bị loại bỏ nhờ vào việc đánh thuế thấp

Hàng triệu doanh nghiệp trên toàn thế giới hiện đang lún sâu trong nền kinh tế ngầm,

và không thể làm gì do các doanh nghiệp này không có quyền sở hữu hợp pháp Quyền

sở hữu không rõ ràng thì bất cứ hoạt động đầu tư nào cũng chứa đựng rủi ro, ví dụ như doanh nghiệp không có quyền kiện tại toà án Hơn nữa các doanh nghiệp cũng không thể vay tiền ngân hàng hay thế chấp tài sản Các hoạt động tống tiền và tội phạm có tổ chức dễ gây tác động tới các doanh nghiệp do bản thân các doanh nghiệp hoạt động trái phép

Trang 8

Một số chuyên gia nhìn nhận vần đề rất khác nhau Rất nhiều chuyên gia tập trung vào việc tiếp cận vốn nhưng đó mới chỉ là vấn đề thứ yếu còn quyền sở hữu mới là quan trọng Xét cho cùng, trong giai đoạn đầu chuyển đổi nền kinh tế phần lớn các khoản đầu

tư là từ các khoản thu nhập để lại Điều cần làm là đơn giản hoá thủ tục đăng ký theo luật định đối với các doanh nghiệp nhỏ

Điều này được thể hiện bằng việc giảm đến mức thấp nhất ba loại chi phí riêng biệt của chính phủ:

c1= thuế (chi phí), cg= chi phí hành chính và cp= chi phí quyền sở hữu, có nghĩa là

min f = c1+ cg + cp (1)

Tuy nhiên chúng ta đã có:

cg= kc1

Có k là một hằng số < 1 Như vậy chi phí đăng ký của một doanh nghiệp là một bộ phận của thuế, điều này có nghĩa là cp= 0 Ta có đẳng thức được rút gọn như sau:

min f = c1 (1 + k)

Thuế khoán trọn gói (Lump-sum tax)

Nếu mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chính phủ dẫn đến nạn tham nhũng thì điều này cần phải được khắc phục, mức thuế khoán cố định và thấp sẽ là giải pháp hữu hiệu cho tình trạng trên Điều này giúp cho doanh nghiệp tránh được các quy định, việc kiểm tra đồng thời thực hiện chức năng đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Thuế khoán đã được thử nghiệm trên phạm vi rộng Loại thuế này thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân ở Balan và bảo vệ các doanh nghiệp ở Đông Đức trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa Giai đoạn tự do hoá của các doanh nghiệp nhỏ ở Balan trong năm 1990 cho phép các các nhân tiến hành hoạt động kinh doanh mà không phải trả thuế, điều này là

sự khích lệ to lớn đối với khu vực kinh tế quy mô nhỏ Cách đánh thuế này cũng được triển khai tại các nước Ukraina từ năm 1998 và Kyrgyzstan Kết quả là các doanh nghiệp nhỏ đã bùng nổ tại các quốc gia này, trái lại những thay đổi không triệt để về thuế hầu như không có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác

Trang 9

Một ví dụ cho thấy cả hai xu hướng tại Nga trong năm 1992 Chính sách tự do hoá và không phải nộp thuế đã làm số lượng các doanh nghiệp nhỏ nở rộ vào tháng 1 năm

1992 Tuy nhiên chính sách tự do hoá này bị xóa bỏ vào tháng 5 năm 1992, chính vì thế

sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ bị chững lại Sự thất bại này có thể được hiểu như sau Chính quyền tại các thành phố lớn tìm mọi cách thay đổi chính sách tự do trên bởi họ có thế lực chính trị quá mạnh và không muốn tiếp tục bỏ tiền hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập Các thương nhân đã hoạt động lâu năm trên thị trường thì kịch liệt phản đối tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bởi điều này không mang lại sự công bằng trong kinh doanh Vậy vấn đề là phải có số lượng lớn các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Thuế khoán đã áp dụng thành công trên đây lại gây bất lợi cho các doanh nghiệp kiểu quy mô gia đình hay có số lượng nhân viên không quá hai Đối với những doanh nghiệp quy mô lớn hơn với 10 nhân viên thì thuế khoán thấp nên áp dụng Các doanh nghiệp cũng không cần đến hoạt động kế toán và vì thế mối quan hệ với chính quyền sở tại cũng rất giới hạn Những doanh nghiệp nhỏ cũng có lợi nhưng do không có vị thế chính trị nên rủi ro kinh tế rất dễ phát sinh Nhìn chung nguồn thu thuế của nhà nước từ các doanh nghiệp nhỏ là khiêm tốn bởi vì trước đây các doanh nghiệp này hoặc không tồn tại hoặc không phải trả thuế

Về bản chất thuế khoán không phải là một bước tiến Hầu hết chính phủ các nước đều

ưu tiên áp dụng thuế luỹ tiến để đảm bảo công bằng xã hội Mọi người cho rằng hệ thống thuế luỹ tiến có ảnh hưởng tới các quốc gia có thu nhập đầu người cao, tuy nhiên xét trên phạm vi toàn thế giới thì hệ thống thuế này là lý do chính khiến các doanh nghiệp nhỏ không thế tiến hành kinh doanh lâu dài Vì thế, tại các nước đang và kém phát triển, hệ thống thuế lũy tiến này cần phải được thay thế bằng hệ thống thuế khoán

ở mức thấp

Chính sách này được xem là nhằm xoá bỏ các quy định không công bằng của chính phủ đối với các doanh nghiệp nhỏ Tuy nhiên việc xúc tiến các doanh nghiệp nhỏ cần tập trung vào những khiếm khuyết thực tế, vốn có của thị trường, điển hình là thị trường vốn, tín dụng hoặc chung quy là chính sách trong ngành công nghiệp ở ấn Độ việc xúc tiến các doanh nghiệp nhỏ được cụ thể hoá bằng các chính sách bảo hộ, bao cấp và các quy định Các doanh nghiệp nhỏ không phải đóng thuế nội địa nhưng thuế và các điều luật dành cho các doanh nghiệp này vẫn chưa được đơn giản hoá Các doanh nghiệp được hưởng tín dụng ưu đãi, tham gia vào chương tình xúc tiến kinh doanh và độc quyền bán rất nhiều sản phẩm, tuy nhiên trong hầu hết chính sách thuộc ngành

Trang 10

công nghiệp thì chính sách ưu đãi này không được áp dụng Nhược điểm của những chính sách này không liên quan đến thuế khoán

Phần 4 Quan điểm chính trị của hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp nhỏ

Tình trạng độc quyền trong nền kinh tế đã mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp lớn và các quan chức chính phủ Đây là lý do kìm hãm sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ Vấn đề là có quá nhiều các quy định và việc đánh thuế quá nặng, quyền lực quá tập trung vào các cán bộ nhà nước trong khi người dân được hưởng quá ít quyền lợi

Tự do cạnh tranh sẽ khiến giá cả hàng hoá và việc thuê đất độc quyền giảm

Tình trạng độc quyền trong nền kinh tế đã mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp lớn và các quan chức chính phủ Đây là lý do kìm hãm sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ Vấn đề là có quá nhiều các quy định và việc đánh thuế quá nặng, quyền lực quá tập trung vào các cán bộ nhà nước trong khi người dân được hưởng quá ít quyền lợi

Tự do cạnh tranh sẽ khiến giá cả hàng hoá và việc thuê đất độc quyền giảm Thêm nữa nạn tham nhũng cũng giảm do các doanh nghiệp không còn phải chịu mức thuế cao Thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ là biện pháp hữu hiệu kiểm soát nạn tham nhũng Tại nhiều quốc gia các cán bộ nhà nước là những người thu được lợi từ việc phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp nhỏ Tại Nga, các quan chức luôn phản đối việc dễ dàng gia nhập nền kinh tế của các doanh nghiệp mới bởi: thành phố và các cán bộ nhà nước chuyên nhận hối lộ của các doanh nghiệp nhận thấy rằng nếu tính cạnh tranh của nền kinh tế thấp thì họ sẽ dễ dàng kiếm lợi hơn.Trái lại ở Hàn Quốc và Trung Quốc chính quyền địa phương lại mong muốn sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân Chính sách "cây gậy và củ cà rốt" có thể làm thay đổi thái độ của các cán bộ nhà nước Đầu tiên mức thuế khoán hợp lý phải được xây dựng từ cấp trung ương bởi các cấp lãnh đạo địa phương rất dễ đề ra mức thuế quá cao Thứ hai, các cấp lãnh đạo địa phương sẽ có động lực hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ nếu họ nhận được một phần doanh thu từ thuế Thứ ba, các quan chức chính phủ không được phép thậm chí là

"viếng thăm" các doanh nghiệp nhằm làm trong sạch mối quan hệ giữa nhà nước và các doanh nghiệp, đồng thời giảm tới mức thấp nhất việc hối lộ của các doanh nghiệp Thứ tư, cắt giảm biên chế bộ máy quản lý nhà nước, từ đó giảm số cán bộ nhà nước nhưng mức lương sẽ cao hơn Thứ năm, hạn chế bớt quyền lực của các cán bộ nhà nước, ví dụ việc tự ý hợp pháp hoá những vi phạm về thuế, bằng cách này các cán bộ ngành thuế sẽ không được phép sách nhiễu các doanh nghiệp một cách tuỳ tiện

Thái độ của các doanh nghiệp rất khác nhau nhưng điểm khác nhau có thể không hoàn toàn như dự đoán Một vấn đề tranh luận nhiều nhất là các doanh nghiệp lớn luôn có được sự hỗ trợ của nhà nước thì không muốn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp nhỏ Mặc dù việc các doanh nghiệp lớn nhận được sự hỗ trợ của nhà nước là rất rõ ràng

Ngày đăng: 24/01/2014, 22:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w