Chính vì vậy, để tháo gỡ những khó khăn trên cho các doanh nghiệp và để thúc đẩy kinh tế phát triển thì kinh tế nước ta dần chuyển sự quan tâm của mình sang mảng xuất khẩu tư bản.. Nội d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
****************
TIỂU LUẬN MÔN HỌC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
(Học phần 2)
ĐỀ TÀI: Xuất khẩu tư bản và những ảnh hưởng đến Việt Nam trong xu thế hội nhập
Giảng viên hướng dẫn:Th.S Ngô Quế Lân
Hà nội, tháng 07 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
1 Lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lênin về Xuất khẩu tư bản 3
1.1 Nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu tư bản 3
1.2 Khái niêm & tác dụng của xuất khẩu tư bản: 3
1.3 Các hình thức xuất khẩu tư bản: 3
1.4 Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản 4
2 Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản đến Việt Nam trong xu thế hội nhập 4
2.1 Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam 4
2.2 Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với chính trị-xã hội Việt Nam 7
2.3 Ảnh hưởng của sự thâm nhập kinh tế nước ngoài đối với văn hóa Việt Nam 8
2.4 Tác dụng bước đầu của việc doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài 9
3 Một số khuyến nghị 10
3.1 Mục tiêu 10
3.2 Một số khuyến nghị 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ CỦA TỪNG THÀNH VIÊN 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành xu thế chung của thời đại, thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia trên thế giới Một trong những kết quả tích cực của quá trình ấy là kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn về vốn, về khả năng cạnh tranh cũng như thiếu thông tin
về thị trường và đối tác Chính vì vậy, để tháo gỡ những khó khăn trên cho các doanh nghiệp
và để thúc đẩy kinh tế phát triển thì kinh tế nước ta dần chuyển sự quan tâm của mình sang mảng xuất khẩu tư bản Tuy nhiên vấn đề đầu tư ra sao như thế nào để có thể thúc đẩy kinh tế
và đem lại được lợi nhuận lại là một câu hỏi lớn cần giải đáp và còn gặp rất nhiều khó khăn Chính vì thế nhóm tôi chọn đề tài “ xuất khẩu tư bản và những ảnh hưởng đến Việt Nam trong
xu thế hội nhập “
Bằng việc tìm hiểu rõ bản chất của xuất khẩu tư bản và những mặt tích cực và còn hạn chế của vấn đề giúp cho nhóm tôi có thể mở mang thêm được nhiều kiến thức và cùng nhau trao đổi và đưa ra những giải pháp để phát huy mặt tốt cũng như khắc phục mặt hạn chể của nó
để góp phần nhỏ giúp phát triển kinh tế nước nhà
Bằng các phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (phương pháp khảo sát khoa học, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm khoa học, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia) và phương pháp nghiên cứu lý
thuyết (phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết,phương pháp mô hình hóa, phương pháp giả thuyết, phương pháp lịch sử), chúng tôi hướng đến nghiên cứu về đối tượng xuất khẩu lao động và những ảnh hưởng đến Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay trong phạm vi là nền kinh tế thị trường nước ta ở mảng kinh tế thị trường trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến nay Theo Lênin điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị , là việc xuất khẩu hàng hóa Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới trong đó các tổ chức độc quyền thống trị là việc xuất khẩu tư bản
Chủ nghĩa tư bản là nền sản xuất hàng hóa ở mức độ phát triển cao nhất khi mà chính ngay sức lao động cũng là hàng hóa Sự phát triển của trao đổi trong nước và đặc biệt là trên quốc tế
là một điểm tiêu biểu của chủ nghĩa tư bản Sự phát triển không đều và có tính nhảy vọt của các doanh nghiệp khác nhau của các ngành công nghiệp khác nhau và của những nước khác nhau là điều không tránh khỏi trong chế độ tư bản chủ nghĩa
Nội dung bài tiểu luận bao gồm 3 phần chính:
Phần 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lênin về Xuất khẩu tư bản
Phần 2: Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản đến Việt Nam trong xu thê hội nhập
Phần 3: Một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài
và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lênin về Xuất khẩu tư bản
1.1 Nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, vì trong những nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản lớn và nảy sinh tình trạng "thừa tư bản" Tình trạng thừa này không phải là thừa tuyệt đối, mà là thừa tương đối, nghĩa là không tìm được nơi đầu tư
có lợi nhuận cao ở trong nước Tiến bộ kĩ thuật ở các nước này đã dẫn đến tăng cấu tạo hữu
cơ của tư bản và hạ thấp tỉ suất lợi nhuận; trong khi đó, ở những nước kém phát triển về kinh
tế, nhất là ở các nước thuộc địa, dồi dào nguyên liệu và nhân công giá rẻ nhưng lại thiếu vốn
và kĩ thuật
1.2 Khái niêm & tác dụng của xuất khẩu tư bản:
Lênin đã chỉ ra, xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản Lênin cũng khẳng định rằng, xuất khẩu tư bản khác về nguyên tắc với xuất khẩu hàng hóa và
là quá trình ăn bám bình phương
Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài chính ra toàn thế giới Tuy nhiên, việc xuất khẩu tư bản, về khách quan có những tác động tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu Như thúc đẩy quá trình chuyển kinh tế tự cung tự cấp thành kinh tế hàng hóa, thúc đẩy sự chuyển biến từ cơ cấu kinh tế thuần nông thành cơ cấu kinh tế nông-công nghiệp, mặc
dù cơ cấu này còn yếu và phụ thuộc nhiều vào chính quốc
1.3 Các hình thức xuất khẩu tư bản:
* Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức , nếu xét cách thức đầu tư gồm có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
- Đầu tư trực tiếp: hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ
- Đầu tư gián tiếp: hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi Thông qua các ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tư nhân hoặc các nhà
tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn định khác nhau để đầu tư vào các đề án phát triển kinh tế
* Xét theo chủ sở hữu, có xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân:
- Xuất khẩu tư bản nhà nước: hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư sản lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự
+ Về kinh tế: xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân
+Về chính trị: viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài
+ Về quân sự: viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào các khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đưa quân tham chiến
Trang 5chống nước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơn thuần để bán vũ khí
- Xuất khẩu tư bản tư nhân: hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư nhân thực
hiện
* Xét về hình thức hoạt động:
- Chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia
- Hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng
- Các trung tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ
1.4 Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản
Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản Trước kia, luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém phát triển ( chiếm tỷ trọng trên
70% ) Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước
tư bản phát triển với nhau Tỷ trọng xuất khẩu tư bản giữa ba trung tâm tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, đặc biệt dòng đầu tư chảy mạnh theo hướng từ Nhật Bản vào Mỹ và Tây Âu , cũng như từ Tây Âu chảy sang Mỹ làm cho luồng xuất khẩu tư bản vào các nước đang phát triển giảm mạnh, thậm chí chỉ còn 16,8% (1996) và hiện nay khoảng 30%
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những biến đổi nhảy vọt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều ngành công nghiệp mới ra đời và phát triển thành các ngành mũi nhọn như : ngành công nghệ sinh học, ngành chế tạo vật liệu mới, ngành bán dẫn và vi điện tử, ngành vũ trụ và đại dương Sự xuất hiện những ngành nghề mới đã tạo ra nhu cầu đầu tư hấp dẫn vì trong thời gian đầu nó tạo ra lợi nhuận siêu ngạch rất cao Mặt khác thời gian này, xu hướng liên kết các nền kinh tế ở các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh
Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là trong FDI Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển mà nổi bật là các nước châu
Á
Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên Chẳng hạn, trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình thức mới như BOT, BT sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp đồng buôn bán hàng hoá , dịch vụ, chất xám không ngừng tăng lên
Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ bỏ dần
và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao
2 Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản đến Việt Nam trong xu thế hội nhập.
2.1 Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Tóm tắt quá trình phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là một chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước trong bối cảnh đất nước khó khăn: bị bao vây, cấm vận về kinh tế-xã hội, phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của nước ngoài, lạm phát phi mã 3 con số, sản xuất công nông nghiệp đình đốn, thiếu trầm trọng lương thực và hàng tiêu dung Cuối năm 1987, Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đánh dấu sự thay đổi mang tính bước ngoặt về nhận thức, quan điểm của nước ta về Đầu tư nước ngoài (ĐTNN)
Theo thống kê chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 8/2018 Việt Nam đã có
26500 dự án FDI, với tổng vốn đăng kí hơn 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ
Trang 6USD Đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với tỷ trọng khoảng 23.7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Theo thống kê có 58% tổng vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực chế biến tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp trong cả nước Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chiếm ngày càng cao trong xuất khẩu đạt 72.6% trong năm 2017 và
71.4% trong 9 tháng đầu năm 2018 Số thu nộp ngân sách của khu vực ĐTNN tăng đều qua các năm và đạt hơn 8 tỷ USD trong 2017 và chiếm 14.46% tổng thu ngân sách nhà
nước (Trích: “Tạp trí tài chính-Cơ quan thông tin của bộ tài chính”).
Hiện nay, 58.2% vốn ĐTNN tập trung vào lính vực công nghệ chế biến, chế tạo tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin… Bên cạnh đó, ĐTNN đã góp phần phát triển nhiều ngành dịch vụ chất lượng cao như tài chính-ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, logistics, giáo dục-đào tạo, y tế, siêu thị, khách sạn, du lịch… Ngoài ra còn góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu, tạo ra một số phương thức sản xuất mới, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa
phương (Trích “Hội nhập kinh tế quốc tế WTO-FTA”).
Việt Nam đã liên tục hoàn thiện thể chế, chính sách ưu đãi về tài chính để thu hút và quản lý tốt hơn nguồn lực đầu tư nước ngoài Tựu chung lại, các ưu đãi về tài chính tập trung vào 3 lĩnh vực: (i) Ưu đãi về thuế TNDN, (ii) Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu và (iii) Ưu đãi về tài chính đất đai Cụ thể:
1 Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo điều 26 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: “Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng nộp thuế lợi tức từ 15%-25% lợi nhuận thu được Đối với dầu khí và một số tài nguyên quý hiếm khác thì thuế lợi tức cao hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế” Cũng theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, điều 27 cho phép “Tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, quy mô vốn đầu tư, khối lượng hàng xuất khẩu, tính chất và thời gian hoạt động, cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn thuế lợi tức cho xí nghiệp liên doanh trong một thời gian tối đa là 2 năm, kể từ năm bắt đầu kinh doanh có lãi và giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa
là 2 năm tiếp theo Trong quá trình hoạt động, xí nghiệp liên doanh được chuyển
lỗ của bất kỳ năm thuế nào sang năm tiếp theo và được bù số lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo, nhưng không được quá 5 năm.”
Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã quy định trong điều 28 “Trong trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư, thuế lợi tức có thể được cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài giảm tới 10% lợi nhuận thu được và thời hạn miễn, giảm thuế lợi tức có thể được kéo dài hơn thời hạn quy định ở Điều 27 của Luật này.”
Từ năm 1991, chính sách thuế nhập khẩu đã cho phép miễn thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa tạo tài sản cố định của các doanh nghiệp FDI, nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho phía nước ngoài Giai đoạn 1995-2000, Chính phủ tiếp tục cải cách thuế xuất nhập khẩu theo nguyên tắc ưu tiên khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất (hầu hết thuế nhập
Trang 7khẩu là 0%) hơn là hàng tiêu dùng; ưu tiên khuyến khích xuất khẩu hàng hóa đã qua chế biến (thuế suất 0%) hơn là đối với hàng hoá ở dạng nguyên liệu thô Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức tham gia vào Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và ký kết Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
(CEPT) (Trích “Tạp trí tại chính-cơ quan thông tin của Bộ tài chính”).
Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, để hỗ trợ DN, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ, cụ thể như:
(i) Giảm 50% tiền thuê đất trong giai đoạn từ năm 2011-2014;
(ii) Điều chỉnh giảm mức tỷ lệ (%) tính đơn giá thuê đất chung từ 1,5% (quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP) xuống còn 1% (quy định tại Nghị định số 46/2014/NĐ-CP) và UBND cấp tỉnh quy định cụ thể mức tỷ lệ (%) trong khung từ 0,5% đến 3% theo từng khu vực, tuyến đường tương ứng với từng mục đích sử dụng đất để áp dụng thu tiền thuê đất tại địa phương;
(iii) Quy định áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất trong xác định giá đất tính thu tiền thuê đất đối với thửa đất hoặc khu đất mà giá trị của diện tích tính thu tiền thuê đất tính theo giá đất trong Bảng giá đất dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với tỉnh còn lại.
2.1.2 Thành tựu
Sau 10 năm đối mới, với sự hỗ trợ của nguồn lực ĐTNN, tăng trưởng GDP hàng năm đạt 8.2% tạo nền tảng để kinh tế-xã hội tiếp tục tăng trưởng và phát triển Tính đến ngày 20/9/2018 các dự án có vốn ĐTNN khi đi vào hoạt động đã đóng góp lớn cho sự phát triển của kinh tế-xã hội cả nước.Có thể thấy rõ ở mấy điểm sau: Tỷ trọng ĐTNN trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ gần 15% (2005) lên 23.7% (2017), riêng 2008 tỷ trọng này tăng lên 30.8% Đóng góp của ĐTNN vào tăng trưởng kinh tế cũng ngày càng cao, nếu giai đoạn 1986 - 1996, khu vực ĐTNN chỉ đóng góp 15,04% thì đến giai đoạn 2010 - 2017
đã đóng góp đến 27,7% Khu vực ĐTNN cũng đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách, với giá trị nộp ngân sách tăng từ 1,8 tỷ USD (giai đoạn 1994 - 2000) lên 14,2 tỷ USD (giai đoạn 2001 - 2010) Giai đoạn 2011 - 2015, thu ngân sách từ khu vực FDI đạt 23,7 tỷ USD, chiếm gần 14% tổng thu ngân sách; năm 2017, khu vực FDI đã đóng góp vào thu ngân sách gần 8 tỷ USD, chiếm 14,46% tổng thu ngân sách nhà nước
2.1.3 Hạn chế, thách thức
Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng khu vực đầu tư nước ngoài hiện nay cũng còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục, cụ thể:
1 Chuyển giao công nghệ chưa như kỳ vọng: Hầu hết các nhà đầu tư FDI vào Việt Nam
là từ các nước châu Á, có công nghệ và kỹ thuật lạc hậu, các nước Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc có công nghệ tiên tiến, hiện đại lại chiếm tỷ trọng nhỏ Trong số các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam chỉ có khoảng 5% là công nghệ cao, 80% công nghệ trung bình, 15% sử dụng công nghệ thấp
và lạc hậu
2 Tỷ lệ nội địa hóa thấp: Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa của ngành công nghiệp ô tô lên 30%-40% nhưng thực tế chỉ đạt khoảng 10%; linh kiện, phụ kiện cho lắp ráp ô tô đang còn phải nhập khẩu vì chưa có công nghệ chế tạo
3 Nguy cơ doanh nghiệp Việt Nam thua doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường nội địa: một số doanh nghiệp nhà nước liên doanh với doanh nghiệp FDI
6
Trang 8với mong muốn tăng thêm tiềm lực về vốn, công nghệ, cơ chế quản lý để học tập
và phát triển Thế nhưng, hầu hết các doanh nghiệp liên doanh đều đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài với các hoạt động và quy trình quản
lý khép kín
2.2 Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với chính trị-xã hội Việt Nam
2.2.1 Thành tựu
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được một số thành công nhất định trong hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục Cụ thể như sau:
Năm 2000 với 4 dự án được đầu tư có số vốn đầu tư lớn nhất trong tất cả các năm
là 40 triệu USD Số vốn này được đầu tư thành lập các trường đại học, viện ngôn ngữ
và các trung tâm
Hai địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất là Hà Nội và TP
HCM TP Hồ Chí Minh có 59 dự án đầu tư nước ngoài thành lập cơ sở giáo dục được cấp phép, với tổng số vốn đăng kí trên 33 triệu USD
Về vốn đầu tư, Australia là đối tác lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục đào tạo có vốn đầu tư nước ngoài, với 10 dự án đầu tư lớn nhỏ, trong đó có dự án đầu tư thành lập Trường Đại Học RMIT với tổng số vốn đầu tư trên 37 triệu USD Ngoài ra còn có Singapore với 23 dự án và tổng số vốn là 3.4 triệu USD Bên cạnh đó còn có một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ cũng có nhiều dự án dạy nghề, dạy ngoại ngữ…
Về hình thức đầu tư: Các dự án đều đầu tư 100% vốn nước ngoài và cấp đào tạo chủ yếu là dạy nghề, tin học, ngoại ngữ… Mầm non chiếm số lượng dự án nhiều nhất (9 dự án) Đại học có một dự án trường RMIT Tiểu học, THPT, THCS có tổng cộng
4 dự án với tổng vốn đăng ký chiếm gần 12 triệu USD
Về quan hệ hợp tác song phương: Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực trong Hội đòng Bảo an Liên hợp quốc, các nước trong nhóm G8, nâng quan hệ đối tác với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng quan hệ nội hàm chiến lược đối tác với Nga, thiết lập đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban
Nha (Trích “Bộ ngoại giao Việt Nam”)
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam có mối quan hệ tích cực đối với các
tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Đặc biệt, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã có một bược đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007 sau 11 năm đàm phán tham gia tổ
chức ngày (Trích “Bộ ngoại giao Việt Nam”).
2.2.2 Hạn chế, thách thức
Bên cạnh những thành tựu tích cực, còn có một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, số lượng tạo ra việc làm chưa tương xứng, đời sống lao động chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng Tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3.4% trong tổng số lao động có việc làm năm 2011)
Trang 9Thu nhập bình quân lao động ở khu vực FDI chỉ cao hơn vùng doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước Nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp ứng được Từ năm 1995 đến nay, cả nước đã xảy ra 4142 cuộc đình công, trong đó 75.4% của doanh nghiệp FDI, chủ yếu xảy ra tại doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản Trên thực tế, tổ chức công đoàn còn nhiều hạn chế trong việc bảo đảm các quyền lợi cho người lao động, đặc biệt là thỏa thuận mức tiền lương và điều kiện lao động
Thứ hai, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI còn hạn chế, thậm chí còn xảy ra hiện tượng chèn lấn Mặc dù doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ khu vực FDI chủ yếu thông qua tác động mở rộng thị trường nhưng từ năm 2007 đến nay doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong nước ở một số lĩnh vực đã chịu tác động chèn lấn của doanh nghiệp FDI
Thứ ba, một số dự án chưa đảm bảo, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng tài nguyên, chưa chú ý đến an ninh quốc phòng Không ít dự án nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không phát hiện kịp thời Một số dự án chiếm giữ đất lớn nhưng không triển khai gây lãng phí tài nguyên Một số trường hợp thu hút đầu tư chưa tính đến hiệu quả tổng thể về an ninh quốc phòng, nhất là các dự
án trồng rừng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy hải sản ở vùng nhạy cảm về an ninh quốc phòng, một số dự án sử dụng nhiều lao công phổ thông nước ngoài
2.3 Ảnh hưởng của sự thâm nhập kinh tế nước ngoài đối với văn hóa Việt Nam
2.3.1 Thành tựu
Thứ nhất, sự phát triển các thiết chế văn hóa góp phần xây dựng đời sống văn hóa phong phú, môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, phát triển con người toàn diện, hài hòa Các thiết chế văn hóa đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm trong bố trí quy hoạch sử dụng quỹ đất, nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết chế văn hóa bảo đảm nhu cầu sinh hoạt về văn hóa, thể thao của nhân dân Toàn quốc hiện có 69 thiết chế văn hóa cấp tỉnh (trung tâm văn hóa, nhà triển lãm ); 613/713 quận, huyện có trung tâm văn hóa - thể thao hoặc nhà văn hóa huyện, đạt khoảng 86% Cả nước có 5.996/10.230 xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa, thể thao (đạt 58,5%); 66.513/109.727 thôn, buôn, bản có nhà văn hóa, đạt 60,6%
Thứ hai, sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa làm cho người dan tiếp thu thông tin nhanh và chính xác Một số ngành điện ảnh, sân khấu, xuất bản được sử dụng hiệu quả vốn đầu tư Cả nước có hơn 129 đơn vị biểu diễn nghệ thuật Các loại hình khác như báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, sản xuất băng đĩa, âm nhạc, rạp hát, thư viện, khu vui chơi giải trí… cũng có những bước tiến vượt bậc đáp ứng nhu cầu thưởng thức, có thêm điều kiện để tiếp xúc, lựa chọn các phương thức giải trí khác nhau
Và đồng thời việc xuất hiện báo chí, phát thanh truyền hình còn nhằm cung cấp thông tin
bổ ích cho người dân
Thứ ba, sự phát triển nền văn hóa cũng tác động không nhỏ đến nền giáo dục Việt Nam Các học sinh, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào nhiều chương trình khoa học, sáng tạo trẻ, nghiên cứu khoa học… Theo một nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên ngành công nghệ thông tin cho thấy, trong số 430 sinh viên được lấy mẫu khảo sát trực tiếp và trực tuyến, có đến gần 80% sinh viên có ý định khởi nghiệp Đây là một kết
Trang 10quả đáng khích lệ, phần nào phản ánh niềm tin và mong muốn tự khẳng định cá nhân của tầng lớp thanh niên Việt Nam ngày nay
Thứ tư, công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh
Hạ tầng mạng lưới viễn thông, Internet tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh mẽ Hoạt động của các cơ quan thông tấn báo chí cũng có nhiều đổi mới, tích cực hội nhập, học hỏi kinh nghiệm truyền thông của thế giới, có những bước phát triển vượt bậc, thông tin
đa chiều, nội dung phong phú, góp phần nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ, giúp người dân tiếp cận nhanh với những tri thức mới của nhân loại, nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống
2.3.2 Hạn chế, thách thức
Thứ nhất, Bản sắc dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt Thái độ ứng xử với trang phục truyền thống qua việc làm mới, cách tân, cải biến Thay vì phát triển, gìn giữ, tôn vinh nét đẹp, giá trị văn hóa dân tộc không ít cách làm biến dạng các trang phục truyền thống Lâu nay người Việt Nam vẫn luôn tôn vinh chiếc áo dài là biểu tưởng cho văn hóa và tâm hồn của người Việt Nhưng bộ trang phục này đã bị một số nhà thiết kế làm cho biến dạng, trở thành những sản phẩm thiếu thẩm mỹ, thậm chí là lố lăng Đáng quan ngại nhất là việc một số nhà thiết kế đã dùng vải lưới, vải ren hay là những tấm vải trong suốt để may chiếc
áo dài “mặc nhưng không mặc” khiến cho người xem phải đỏ mắt Không dừng ở đó một
số nhà thiết kế còn “sáng tạo” ra những chiếc áo dài truyền thống theo kiểu “cưỡng bức văn hóa” khi ghép áo dài với quần sooc, hay áo dài với tất lưới gợi cảm…
Thứ hai, môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội Việc công nghệ thông tin phát triển, hình thành mạng lưới internet đang cuốn hút một bộ phận không nhỏ, đặc biệt là lớp trẻ vào thế giới ảo Sự xuống cấp đạo đức học đường, trong hoạt động kinh doanh và dịch vụ đều đang góp phần làm ô nhiễm môi trường văn hóa nước nhà
Thứ ba, nền văn hóa Việt Nam đang bị các nước lớn chi phối Tình trạng nhập khẩu, nhập siêu sản phẩm văn hóa nước ngoài vào Việt Nam vượt trội, việc tiếp thu sản phẩm văn hóa nước ngoài còn thiếu chọn lọc Tiêu chuẩn về vẻ đẹp của phụ nữ phương Đông
là “công, dung, ngôn, hạnh” bị biến dạng, nhường chỗ cho sự táo bạo, phô trương, thậm chí là thác loạn…
2.4 Tác dụng bước đầu của việc doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
2.4.1 Về kinh tế
Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ Tính đến cuối năm 2015, Việt Nam đã đầu tư 63 quốc gia và vùng lãnh thổ với 891 dự án và tổng vốn đăng ký đạt gần 20 tỷ USD Một số tập đoàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam phải kể đến như:
- Tập đoàn TH True Milk hợp tác với Matxcova (LBN) hợp tác dự án chăn nuôi bò sữa
và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp công nghệ cao, vốn đầu tư 2.7 tỷ
USD
- Công ty sữa Vinamilk, dự án đang được triển khai tại Ba Lan với tổng đầu tư 3 triệu
USD Công ty này cũng đang mở rộng quy mô đầu tư bằng cách đẩy mạnh mua bán
và sát nhập (M&A) dồn vốn dự án đầu tư ra nước ngoài để gia tăng nhanh năng lực cung cấp