Sinh thiết lõi vẫn là một tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và theo dõi các bệnh lý tại gan. Việc chẩn đoán chính xác cần có sự kết hợp cả hình thái học và các yếu tố lâm sàng lẫn các xét nghiệm cận lâm sàng. Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán bệnh gan dựa trên các kiểu tổn thương trên mẫu sinh thiết lõi rất có ý nghĩa trong thực hành chẩn đoán giải phẫu bệnh gan.
Trang 1SƠ ĐỒ TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN BỆNH GAN BẰNG SINH THIẾT LÕI
Lê Minh Huy 1 , Phan Đặng Anh Thư 1 , Vũ Tuấn Dũng 1 , Lê Trọng Hiếu 1
TÓM TẮT
Sinh thiết lõi vẫn là một tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và theo dõi các bệnh lý tại gan Việc chẩn đoán chính xác cần có sự kết hợp cả hình thái học và các yếu tố lâm sàng lẫn các xét nghiệm cận lâm sàng Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán bệnh gan dựa trên các kiểu tổn thương trên mẫu sinh thiết lõi rất có ý nghĩa trong thực hành chẩn đoán giải phẫu bệnh gan
Từ khoá: sinh thiết gan, thấm nhập tế bào viêm trong khoảng cửa, phản ứng tăng sản ống mật, xơ hoá
ABSTRACT
PRACTICAL PATTERN-BASED ALGORITHMS IN DIAGNOSIS OF LIVER DISEASES
Le Minh Huy, Phan Dang Anh Thu, Vu Tuan Dung, Le Trong Hieu
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 – No 6 - 2021: 50 - 60
Liver biopsy remains the foundation of evaluation and management of liver disease although the role of the liver biopsy is changing with development of alternative methods of diagnosis and advancement of hepatic imaging techniques An Accurate diagnosis requires a combination of both morphological and clinical factors as well as laboratory tests An algorithm based on patterns of liver demage is very useful in the practice of pathological diagnosis
Keywords: liver biopsy, portal infiltrates, duct reaction, fibrosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay có nhiều cách tiếp cận bệnh gan
không xâm lấn như chẩn đoán hình ảnh, vai trò
của kháng thể và các yếu tố trong huyết thanh
Mỗi xét nghiệm và hình ảnh học đều có giá trị
thực tiễn trong chẩn đoán bệnh, tuy nhiên, việc
phân tích hình thái trên mẫu sinh thiết gan vẫn
có vai trò đáng kể trong y học hiện đại Sinh thiết
gan cần thiết đối với việc chẩn đoán, đánh giá
tiên lượng và diễn biến của một loạt các bệnh
gan do virus, ung thư và viêm gan Vì vậy, sinh
thiết gan và đánh giá mô học của nhu mô gan
vẫn được xem là ‚tiêu chuẩn vàng‛ trong chẩn
đoán và phân giai đoạn bệnh Phân loại và phân
giai đoạn viêm gan mãn tính là điều cần thiết để
đánh giá tiên lượng và quyết định bệnh nhân
nào nên được ưu tiên điều trị Sinh thiết gan
cũng hữu ích để loại trừ các chẩn đoán khác và
đánh giá tình trạng nhiễm mỡ và sắt(1) Tuy
nhiên, sinh thiết gan tự nó đã bao hàm hàng loạt
rủi ro và sự khó chịu cố hữu cho người bệnh
Mặc dù sinh thiết gan là một thủ thuật xâm lấn, nguy cơ xảy ra các biến chứng lớn là rất thấp (0,22-0,75%)(2,3) Tỷ lệ tử vong do thủ thuật này được ước tính trong một phần nghìn ca sinh thiết và thường là thứ phát do chảy máu; nguy
cơ này thậm chí còn thấp hơn khi sinh thiết gan không do u(4)
Gần đây, các phương pháp không xâm lấn
đã được phát triển để đánh giá mức độ xơ hóa của gan Trong bối cảnh này, phương pháp đo
độ cứng của gan bằng phương pháp đo đàn hồi được sử dụng rộng rãi để lựa chọn những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị bằng thuốc Tuy nhiên, sinh thiết gan vẫn là tiêu chuẩn vàng và là phương pháp được sử dụng nhiều nhất
CÁC DẠNG TỔN THƯƠNG GAN
Cách mô tả đơn giản những gì quan sát được trên kính hiễn vi dựa trên một lát cắt mâ̂u sinh thiết gan mang lại như̂ng giá trị chẫn đoán rất giới hạn Sự phù hợp giư̂a tỗn thương mô bệnh học thấy được với một kiểu tổn thương nào đó
1 Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh , Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2của gan, kết hợp với thông tin lâm sàng chính là
chìa khóa để có được chẩn đoán
Đáp ứng cũa tế bào gan với tỗn thương khá
giới hạn bất kễ nguyên nhân Như̂ng thay đỗi
trong mô bệnh học có thể được tóm tắt gồm t ế
bào phồng (ballooning), thoái hóa mơ̂, ứ mật ,
hoại tử, apoptosis, viêm, tái tạo hay thay đổi cấu
trúc có hoặc không kèm với xơ hóa Như̂ng đặc
điễm trên có thễ biễu hiện đơn lẽ hay cùng xuất
hiện tạo nên một kiểu tổn thương mô bệnh học
gan riêng biệt mà mô̂i dạng tổn thương này sẽ
bao gồm nhiều chẫn đoán phân biệt Việc phân
tích theo lưu đồ sẽ giúp đưa ra chẩn đoán mà
nếu kết hợp với dư̂ kiện lâm sàng sê giúp chúng
ta có được một chẫn đoán chính xác hơn
Các dạng tổn thương gan chính thường gặp
trên mẫu sinh thiết:
Kiểu hình 1: Thấm nhập tế bào viêm
Kiểu hình 2: Phản ứng tăng sinh ống mật Kiểu hình 3: Biến đỗi tối thiễu hoặc hầu như bình thường
Kiểu hình 4: Tỗn thương tiểu thùy gan
Kiểu hình 5: Thoái hóa mỡ
Kiểu hình 6: Xơ hóa
Kiểu hình 7: Khối u
Khi khảo sát mẫu sinh thiết, đầu tiên cần xác định có sự thay đỗi nào trong cấu trúc bình thường cũa ti ểu thùy gan , sự hiệ n diện cũa khoảng cửa với bộ ba cấu trúc (động mạch, tĩnh mạch và ống mật), tĩnh mạch trung tâm và sự đồng nhất trong phân bố bè gan (Hình 1)
Hình 1 Sơ đồ tiếp cận mẫu sinh thiết gan (5)
Kiểu hình 1: thấm nhập tế bào viêm
Khoảng cửa thấm nhập tế bào viêm là một
trong như̂ng hình ãnh thường thấy nhất trong
bệnh học cũa gan , có thể gặp trong rất nhiều
bệnh lý khác nhau mà chũ yếu liên quan đến
viêm hoại tử như viêm gan virus , viêm gan tự
miê̂n và viêm gan do thuốc Ngoài ra cũng có thể
thấy ỡ bệnh lý tắc mật mạn như viêm đường mật
nguyên phát (PBC), viêm đườ ng mật xơ hóa
nguyên phát (PSC), bệnh lý chuyễn hóa như bệnh Wilson, thiếu α1 antitrypsin hay các tân sinh như lymphôm, bệnh bạch cầu và hội chứng tăng sinh lymphô sau ghép
Sau khi xác định được tình trạng thấm nhập tế bào viêm ỡ khoảng cửa, kết hợp các yếu tố mô bệnh học khác như loại tế bà o viêm, tình trạng viêm chỉ giới hạn ở bè gan hay tiễu thùy gan, có hoại tử hay xơ hóa không
Trang 3+ Thấm nhập lympho bào ỡ khoãng cữa: Có
thễ thấy chũ yếu ỡ các bệnh lý như viêm gan B
và C mạn , viêm gan cấp do các virus khác và
thuốc(6,7)
Ví dụ: Hình ảnh của viêm gan siêu vi C mạn
tính đặc trưng bởi:
- Thấm nhập nhi ều lympho bào ỡ khoãng
cữa hoặc tạo thành nang lympho với trung tâm
mầm
- Hoại tử quanh khoảng cửa (Interface
hepatitis)
- Viêm trong tiễu thùy với th ấm nhập
lympho bào
- Hoại tử tế bào gan có hoặc không kèm
apoptosis
- Thoái hóa mỡ hạt lớn
- Xơ hóa tùy giai đoạn bệnh
nhập khoãng cữa với ưu thế tương bào có thễ
xảy ra ở các bệnh lý viêm gan tự miễn , viêm
đường mật nguyên phát , viêm đường mật xơ
hóa nguyên phát, bệnh IgG4, bệnh học ghép, các
bệnh lý tái phát như viêm gan tự miễn , viêm
đường mật, và thải ghép muộn giàu tương bào
(8-11)
Ví dụ: Hình ảnh viêm gan tự miê̂n đặc trưng
bởi:
- Khoảng cửa thấm nhập ưu thế nhiều tương
bào
- Hoại tử quanh khoảng cửa (Interface hepatitis)
- Tế bào gan xếp dạng hoa hồng
- Viêm trong tiễu thùy
- Giọt hyaline trong tế bào Kupffer
Bạch cầu ái toan hiện hiện trong nhiều bệnh khác nhau Ưu thế bạch cầu ái toan , ngoài các nguyên nhân liên quan đến đ ộc tính do thuốc , còn gặp trong bệnh cảnh hệ thống với tăng bạch cầu ái toan máu, bệnh viêm ruột bạch cầu ái toan hay nhiê̂m ký sinh trùng như sán máng ỡ hệ cữa
có thể gây áp xe bạch cầu ái toan Như̂ng chẫn đoán phân biệt khác có thễ kễ đến như khối u , hoặc giả u như bệnh mô bào Langerhans, viêm giả u, u nguyên bào sợi cơ và phãn ứng thãi ghép cấp sau ghép(12,13)
+ Thấm nhập hô̂n hợp tế bào viêm (lympho
bào, tương bào và bạch cầu đa nhân hoặc ái
toan): Tình trạng này có thể gặp trong phản ứng
thải ghép cấp , lymphôm Hodgkin, viêm gan
virus cấp và viêm gan do thuốc cấp
+ Viêm dạng hạt: Tỉ l ệ vi êm dạng hạt dao
động từ 2,4%-15%, trong đó 60% là thứ phát sau bệnh lý hệ thống, 1/3 nguyên phát do bệnh lý tại gan và khoãng 6-10% không rô nguyên nhân(13-15) Viêm dạng hạt có thể ở khoảng cửa hoặc nhu mô gan hoặc cã hai Vị trí và đặc điểm của viêm
dạng hạt có thể giúp gợi ý chẫn đoán (Bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm của viêm dạng hạt ở gan
Bệnh tự miễn Viêm gan mật nguyên phát (25-50%) Tế bào dạng biểu mô không kèm hoại tử bã đậu, có thể kèm đại bào đa nhân có thể vùi trong bào tương
Thường gặp quanh ống mật ở khoảng cửa Hiếm gặp trong tiểu
thùy
Sarcoidosis (12-30%) U hạt lớn, xơ hóa quanh u hạt Thường ở khoảng cửa và quanh khoảng cửa
Nhiễm trùng Lao (90% lao kê)
Tế bào dạng biểu mô và đại bào đa nhân, các tế bào lympho bao xung quanh, trung tâm có hoại tử bã đậu
Cấy hoặc PCR phát hiện trực khuẩn kháng axit-cồn
Khoảng cửa và/hoặc tiểu thùy Mycobacterium avium-nội bào (AIDS,
50% lan tỏa) Tích tụ các bọt bào Xét nghiệm phát hiện trực khuẩn kháng axit-cồn Khoảng cửa và/hoặc tiểu thùy Phong thể u (60%) Tích tụ các bọt bào Xét nghiệm phát hiện trực khuẩn kháng axit-cồn Khoảng cửa và/hoặc tiểu thùy
Trang 4Nguyên nhân Đặc điểm Vị trí
Phong thể củ (20%) Tích tụ các bọt bào kèm đại bào đa nhân Xét nghiệm phát hiện trực khuẩn kháng axit-cồn Khoảng cửa và/hoặc tiểu thùy Nhiễm nấm Histoplasma ở bệnh
nhân suy giảm miễn dịch
Đại thực bào, tế bào lympho kèm tế bào dạng biểu mô
ở trung tâm Có thể có hoại tử bã đậu Xét nghiệm phát
hiện histoplasma capsulatum Khoảng cửa và/hoặc tiểu thùy Nhiễm Listeria ở trẻ sơ sinh và bệnh
nhân suy giảm miễn dịch Vi áp xe kèm với các u hạt nhỏ Tiểu thùy, có thể ở khoảng cửa Rickettsia hoặc sốt Q Viêm hạt kèm vòng sợi tơ huyết hoặc không bào mở
bao xung quanh Tiểu thùy Sán máng Viêm hạt giàu bạch cầu đa nhân ái toan, có thể thấy xơ
hóa xung quanh trứng sán Quanh khoảng cửa HCV (1-10%) mới khởi phát hoặc sau
điều trị với interferon Viêm hạt nhỏ kèm tế bào dạng biểu mô và hoại tử trung tâm Vị trí bất kỳ
Thuốc hoặc hóa chất (10%) Thường đi kèm các tổn thương khác như tắc mật, gan nhiễm mỡ, viêm gan Vị trí bất kỳ, thường ở khoảng cửa kèm viêm trong tiểu thùy
Bệnh lý ác tính Lymphôm, carcinôm tế bào sáng Viêm hạt không kèm hoại tử hoặc u hoạt có vòng tơ huyết xung quanh Vị trí bất kỳ
Vô căn (3-37%) Viêm hạt thường nhỏ, không kèm hoại tử Vị trí bất kỳ
U hạt mỡ Mô bào và đại thực bào bao quanh các không bào mỡ Viêm hạt thường nhỏ và không kèm hoại tử Tiểu thùy, có gan nhiễm mỡ kèm
theo Viêm hạt do dị vật như bột talc,
silicon, dầu sau phẫu thuật hoặc sau
thủ thuật chẩn đoán hình ảnh
Các thể vùi trong bào tương, nhìn thấy được bằng kính
hiển vi đối quang Khoảng cửa, tĩnh mạch
Kiểu hình 2: phản ứng tăng sinh ống mật
Trước đây, danh pháp tăng sinh ống mật
được sữ dụng nhằm chỉ sự tăng sinh của những
ống mật nhỏ nằm ở ngoại vi của khoảng cửa, tuy
nhiên danh pháp này còn liên quan đến như̂ng
thay đỗi trong mô đệm khoãng cữa , vị trí tiếp
giáp giữa khoảng cửa với nhu mô gan và ỡ cã
trong nhu mô gan Việc kết hợp các thành tố trên
giúp xác định các bệnh lý đặc trưng bởi ưu thế
phản ứng tăng sinh ống mật Quá trình tái tạo
khi các tế bào gốc gan phãn ứng với những tổn
thương ống mật và tế bào gan tạo nên hình ãnh
chuyễn sãn mật ỡ quanh khoãng cữa Khi phãn
ứng tăng sinh ống mật nỗi bật, các nguyên nhân
đầu tiên nên nghĩ đến là bệnh lý đường mật cấp
hoặc mạn tính(16,17)
Phản ứng tăng sinh ống mật nổi trội
Tắc nghên đường mật cấp hoặc mạn tính do
sỏi, ký sinh trùng, xơ hóa hoặc khối u thường
không cần đến sinh thiết gan vì lâm sàng và hình
ảnh học thường dê̂ dàng đưa ra chẫn đoán Tắc
nghẽn được tìm thấy trên các mâ̂u sinh thiết hậu
ghép hoặc trong tử thiết Như̂ng nguyên nhân
khác gây phản ứng tăng sinh ống mật như viêm
đường mật ngược dòng, viêm đường mật chậm, viêm gan cấp với hoại tữ rộng, và các bệnh lý tắc mật mạn như viêm đường mật nguyên phát và viêm đường mật xơ hóa nguyên phát Phản ứng tăng sinh ống mật được định nghîa là tăng sinh ống mật kèm theo thấm nhập bạch cầu đa nhân, được chia thành 3 loại chính: Loại 1 liên quan đến tắc nghẽn mật; Loại 2 liên quan đến viêm gan hoạt động, và Loại 3 liên quan đến hoại tử tế bào gan lan rộng Danh pháp này chỉ hữu dụng trong việc đưa ra những chẩn đoán khả thi(18-20)
Tắc nghẽn mật cấp thường có các hình ảnh sau
Tăng sinh ống mật tạo thành dạng thông nối Phù nề mô đệm khoảng cửa
Thấm nhập bạch cầu đa nhân
Ứ mật tại ống mật và tế bào gan
Nhồi máu ống mật nếu tắc nghẽn nặng
Viêm đường mật ngược dòng
Tăng sinh biểu mô ống mật kèm theo hiện diện bạch cầu đa nhân trong lòng ống mật Viêm cấp trên biểu mô ống mật
Giãn ống mật, biểu mô dẹt
Trang 5Ứ mật trong các vi quản mật
(hepatocanalicular cholestasis)
Thường gặp nhồi máu ống mật quanh
khoảng cửa
Viêm đường mật chậm
Viêm đường mật chậm xảy ra ở những bệnh
nhân sắp diễn tiến nhiễm trùng huyết hoặc đang
nhiễm trùng huyết, do tắc nghẽn của đường dẫn
mật hoặc là kết quả của nội độc tố Được coi là
một cấp cứu y khoa và đặc trưng bởi tăng sinh
ống mật kèm theo ứ mật trong các ống mật giãn,
mật lắng đọng ở khoảng cửa hoặc vùng ranh
giới giữa khoảng cửa và nhu mô gan, trong khi
hình ảnh viêm lại rất ít
Viêm gan cấp với hoại tử rộng
Ưu thế phản ứng tăng sản ống mật do hoạt
động của những tế bào gốc tái tạo lại nhu mô và
hồi phục lại chức năng của tế bào này:
Phù nề tối thiểu
Viêm nhẹ, thường hiện diện bạch cầu đa
nhân
Đại thực bào chứa chất bắt màu với nhuộm
PAS-diastase
Tắc nghẽn mạn và ứ mật mạn
Tăng sinh tế bào mật
Phù nề tối thiểu
Viêm nhẹ với chủ yếu lympho bào
Hoại tử quanh khoảng cửa
Ứ mật tại ống mật và tế bào gan
Ứ đồng quanh khoảng cửa
Xơ hóa quanh khoảng cửa
Kiểu hình 3: biến đổi tối thiểu
Có khoảng 5% mẫu sinh thiết không có thay đổi nào đặc biệt tuy nhiên có thể thấm nhập ít tế bào viêm ở quanh khoảng cửa hoặc tiểu thùy gan Không có bằng chứng của xơ hóa hay thay đổi cấu trúc Trong 80% những bệnh nhân trên
có tình trạng tăng men gan bất thường và 20% báng bụng không rõ nguyên nhân mà phải cần đến sinh thiết gan
Có thể xác định được nguyên nhân của khoảng một nửa số bệnh nhân nếu có đầy đủ tiền sử lâm sàng và cận lâm sàng Bao gồm những tổn thương gan như bệnh lý tự miễn hệ thống có thể kể đến là lupus ban đỏ hệ thống và viêm khớp dạng thấp (15%), viêm gan tự miễn, viêm đường mật nguyên phát (10%), hội chứng chuyển hóa (10%), tình trạng viêm mạn của đường tiêu hóa (5%), thiếu máu gan (1-5%) và tăng áp cửa không xơ gan (1%) Những tổn thương bệnh học trên không đồng nhất và có thể chỉ từng vùng như bệnh lý ứ mật mạn và bệnh gan thoái hóa mỡ Một số khác có khoảng không hoạt động trong diễn tiến lâm sàng của bệnh
Ở một số trường hợp, đặc biệt ở những nguyên nhân gây tăng áp cửa không xơ gan, những thay đổi mạch máu rất tinh tế và giới hạn Giãn xoang gan, giãn mạch cửa hoặc xơ hóa có thể không nổi bật và dễ dàng bỏ xót Trong 25% trường hợp, chức năng gan bất thường sẽ về lại bình thường và ở 25% trường hợp khác sẽ bất
thường kéo dài nhiều năm Bảng 2 tóm tắt những
bệnh có biến đổi tối thiểu và mô tả những thay đổi mô bệnh học có thể tìm thấy khi mà những tổn thương đặc hiệu không có trên mẫu sinh thiết và mẫu sinh thiết hầu như bình thường(13)
Bảng 2 Đặc điểm của dạng tổn thương III, các biến đổi tối thiểu
Biến đổi
xoang tĩnh
mạch
- Viêm gan giai đoạn hồi phục: Các biến đổi tùy loại
thuốc, viêm gan virus tự giới hạn
- Dãn xoang tĩnh mạch: Hội chứng tăng đông và bất
thường dòng máu tĩnh mạch (bệnh đa hồng cầu, bệnh
Waldenstrom, đa u tủy xương, thuốc, bệnh tự miễn,
thiếu máu đến gan)
- Viêm tối thiểu ở tiểu thùy và/hoặc khoảng cửa Đại bào ngấm sắc tố, dương tính với PAS-diastase Các biến đổi tái tạo với tế bào gan 2 nhân, bè gan dày Không thấy dấu hiệu mạn tính
- Thay đổi không rõ ràng, thường không kèm viêm, giãn và sung huyết chủ yếu ở các xoang tĩnh mạch ở vùng 3, xơ hóa tĩnh mạch trung tâm tối thiểu
Biến đổi tế
bào gan
- Thiếu α1-antitrypsin
- Bệnh gan do glycogen (bệnh nhân đái tháo đường)
- Các tế bào máu dương tính với PAS-diastase ở quanh khoảng cửa
Trang 6Vị trí Tình trạng đi kèm Biến đổi kiểu hình
- Ty thể khổng lồ (đặc trưng cho NASH, bệnh tắc mật
mạn, các bất thường chuyển hóa của ty thể, rối loạn
chu trình urê và các rối loạn chuyển hóa khác)
- Biến đổi bào tương dạng kính mờ do thuốc hoặc do
ức chế miễn dịch
- Biến đổi bào tương do tăng sản hệ lưới nội bào hoặc
do thuốc
- Tắc mật nhẹ do thuốc, tắc mật lành tính tái diễn,
nhược giáp hoặc cường giáp, tắc mật trong gan do
thai kỳ
- Tăng kích thước tế bào gan, bào tương nhạt màu hơn
- Cấu trúc bình thường, không viêm Thể vùi tròn, nhỏ bắt màu hồng đậm trong bào tương tế bào gan (âm tính với PAS)
- Thể vùi trong bào tương tế bào gan
- Tế bào gan thay đổi màu bào tương, có thể bắt màu tím hoặc 2 màu riêng biệt, thấy rõ khi nhuộm PAS
- Tắc mật trong các tiểu quản mật, cần đánh giá cẩn thận
để phát hiện
Kiểu hình 4: tổn thương tiểu thùy gan
Khi cấu trúc tiểu thùy gan bình thường và
khoảng cửa dãn rộng thì cần tìm hình ảnh tổn
thương tiểu thùy gan hoặc thoái hóa mỡ (Hình 2)
Khi quan sát tiểu thùy gan ở vật kính nhỏ mà
ranh giới tiểu thùy không rõ ràng, có thể do
thấm nhập nhiều tế bào viêm hoặc do hoại tử, thì
có thể đó là hình ảnh tổn thương hoặc phá hủy
tiểu thùy gan Vì thế cần phải quan sát ở vật kính
lớn nhằm tìm thêm những mấu chốt giúp đưa ra
chẩn đoán khi kết hợp với lâm sàng
Vài ví dụ của tổn thương này là viêm gan
cấp; viêm gan bán cấp; viêm gan virus không
hướng gan như CMV, Herpes, Adenovirus,
Epstein-Barr và viêm gan E; những tổn thương
do bệnh lý hệ thống như bệnh Celiac, lymphôm,
bệnh bạch cầu, ngộ độc vitamin A và khi sắc tố như lipofuscin, đồng hay sắt được tìm thấy(21-25) Thường viêm gan cấp sẽ không cần đến sinh thiết gan trừ những trường hợp hiếm như khi có nghi ngờ hay có vấn đề trong chẩn đoán lâm sàng, hoặc dù đã có chẩn đoán thì bác sĩ lâm sàng vẫn cần thêm thông tin về giai đoạn bệnh, mức độ nặng, và theo dõi sau ghép Viêm gan cấp trung bình đến nặng có hình ảnh ưu thế viêm ở tiểu thùy gan, thấm nhập ít lympho bào ở khoảng cửa, tế bào thoái hóa phồng (ballooning), hoại tử hoặc apoptosis rải rác trong tiểu thùy, thể acidophilic, tập trung nhiều đại thực bào chứa chất dương tính với PAS-diastate và ứ mật ở vi quản mật
Hình 2 Sơ đồ đánh giá mẫu sinh thiết với cấu trúc tiểu thùy bình thường với khoảng cửa giãn rộng kèm tổn
thương tiểu thùy gan và gan nhiễm mỡ (5)
Trang 7Các trường hợp viêm gan do virus khác không
phải virus viêm gan thường có những đặc điểm
đặc trưng riêng của từng loại virus
Cytomegalovirus (CMV)
CMV xảy ra ở những bệnh nhân suy giảm
miễn dịch và có hình ảnh thấm nhập lympho
bào ở khoảng cửa và tiểu thùy gan, bạch cầu đa
nhân tạo thành vi áp xe ở tiểu thùy gan, và thể
vùi virus CMV phân bố không theo vùng
Herpes Simplex
Viêm gan thứ phát do virus Herpes tương tư
như viêm gan do CMV, hiếm và cũng thấy ở
bệnh nhân suy giảm miễn dịch Hình ảnh viêm,
hoại tử rải rác trong tiểu thùy, thể vùi trong nhân
với vòng sáng xung quanh
Adenovirus
Nhiễm Adenivirus hiếm, gặp ở bệnh nhân
suy giảm miễn dịch và thường tử vong Virus
tương tự như Herpes, hoại tử một vùng lớn nhu
mô gan mà không phân bố theo vùng, thấm
nhập lympho bào ở ngoại biên của vùng hoại tử
và hiện diện nhiều thể vùi adenovirus
Tăng sinh tế bào xoang gan
Tăng số lượng tế bào ở xoang gan có thể rất
tinh tế và đòi hỏi phải quan sát ở vật kính lớn
Khi mật độ tế bào ở xoang gan trở nên dễ nhận
thấy, cần phải nghĩ đến các nguyên nhân nhiễm
trùng nặng hoặc các tân sinh
Bệnh Celiac, viêm gan do Epstein-Barr,
lymphôm, bệnh bạch cầu, tạo máu ngoài tủy,
ngộ độc vitamin A và ứ lipid ở tế bào sao là
những nguyên nhân thường gặp gây nên tình
trạng tăng mật độ tế bào ở xoang gan
Bệnh Celiac: Lên tới 30% bệnh nhân tại thời
điểm chẩn đoán bệnh Celiac có tổn thương gan
đi kèm Những hình ảnh tìm thấy có thể từ bình
thường đến viêm gan tiểu thùy, những thay đổi
gợi ý bệnh lý tự miễn như viêm gan tự miễn, xơ
gan mật và viêm đường mật xơ hóa nguyên phát
có kèm hoặc không xơ hóa(24) Tế bào viêm dạng
lympho ở xoang gan, rải tác tế bào apoptotic,
viêm nhẹ khoảng cửa với lympho bào, thoái hóa
mỡ và tăng sản tái tạo nốt
Viêm gan do Epstein-Barr: Viêm gan do
Epstein-Barr thường gặp nhất ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, tuy nhiên vẫn có thể gặp ở bệnh nhân trẻ khỏe mạnh(25,26) Đặc điểm bởi thấm nhập nhiều tế bào viêm dạng lympho ở xoang gan tương tự như hội chứng tăng sinh ưu thế tế bào mono ở tiểu thùy, u hạt tế bào dạng biểu mô nhỏ với vòng xơ sợi, rất ít hoặc không có apoptosis, thấm nhập nhẹ lympho bào ở khoảng
cửa và dương tính với phép lại EBV tại chỗ Lymphôm và bệnh bạch cầu: Đa số các ca
viêm gan do lymphôm và bệnh bạch cầu là thứ phát Các tế bào bất thường dạng lympho thấm nhập ở khoảng cửa và xoang gan Hóa mô miễn dịch và/hoặc miễn dịch tế bào (flow cytometry)
cần thiết để thiết lập chẩn đoán
Tạo máu ngoài tủy: Tạo máu ngoài tủy là cơ
chế bù trừ mà các tế bào máu được sản xuất bên ngoài tủy khi mà tủy không đủ khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu của cơ thể Tạo máu ngoài tủy có thể thấy trong nhiều rối loạn huyết học như bệnh tăng sinh tủy, thiếu máu mạn ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ với hồng cầu khổng lồ và những bệnh lý khác(27,28) Có thể tìm thấy hình ảnh mẫu tiểu cầu khổng lồ, các tế bào blast bình thường, hiện diện của tế bào dòng tủy, dòng
hồng cầu ở xoang gan
Ngộ độc vitamin A hoặc ứ lipid ở tế bào sao:
Ở gan bình thường, vitamin A được trữ ở tế bào sao mà chúng hoạt động và có phenotype tương
tự như nguyên bào sợi cơ, sản xuất ra chất nền ngoại bào Ngộ độc vitamin có thể nặng và thậm chí dẫn đến xơ gan(29,30) Ngộ độc vitamin A được đặc trưng bởi ưu thế tế bào sao ở xoang gan ở khoảng Disse, các tế bào này có nhân tối dạng lưỡi liềm tạo hình ảnh bầu trời sao do xuất hiện nhiều không bào lipid, tăng sinh nguyên bào sợi
cơ và xơ hóa dưới xoang gan
+ Sắc tố nội bào:
Sắc tố nội bào thường thấy nhất ở bào tương
tế bào gan Chúng là những hạt thô hay mịn tụ thành đám, bắt màu khác nhau và có thể cần tới
Trang 8hóa mô để xác định bản chất Những sắc tố phổ
biến nhất có thể kể đến là lắng đọng lipofuscin,
sắt, đồng hoặc mật
Lipofuscin: Lipofuscin là thành phần bình
thường ở gan người trưởng thành, đặc biệt ở
tuổi 50-60 Chúng có thể lắng đọng trong bệnh
cảnh gan mạn như HCV và xơ gan mật nguyên
phát(13) Đa số là các hạt có màu vàng và nâu lắng
đọng ở quanh tĩnh mạch trung tâm vùng 2 và 3
hoặc ở vị trí ranh giới giữa các vùng
Siderosis (Lắng đọng sắt): Siderosis có thể
thấy ở các bệnh lý nguyên phát như ứ sắt liên
quan di truyền hay không di truyền, ngoài ra
cũng có thể gặp ở bệnh nhân truyền máu, chạy
thận nhân tạo, và chế độ ăn có lượng sắt quá
nhiều Bệnh lý của gan như viêm gan thoái hóa
mỡ do rượu hay không do rượu và viêm gan C
cũng có thể gây nên siderosis(13,31) Tình trạng này
đặc trưng bởi những hạt sắc tố vụn màu nâu
hoặc vàng lắng đọng quanh khoảng cửa Ở bệnh
nhân ứ sắt di truyền thì các hạt này có ở khắp
tiểu thùy gan Ngoài hiện diện ở các vi quản mật,
lượng sắt dư thừa còn lắng đọng ở tế bào
Kupffer, tế bào nội mô, tế bào mô đệm và biểu
mô ống mật Trường hợp siderosis ở bệnh nhân
truyền máu hoặc do chế độ ăn uống thì sắt lắng đọng chủ yếu ở những tế bào Kupffer Có thể làm nổi bật sắt bằng phép nhuộm với Prussian
blue
Đồng và/hoặc protein huyết thanh gắn đồng: Lắng đọng đồng và/hoặc protein huyết thành gắn đồng có thể do rối loạn trong quá trình bài tiết ở bệnh lý ứ mật mạn hoặc do khiếm khuyết khả năng bài tiết trong bệnh lý
di truyền như bệnh Wilson(13,32) Chúng là các hạt sắc tố màu xám ở trong bào tương, bắt màu vàng gạch trong phép nhuộm rhodamine, orcein và Victoria blue, hoặc trong PAS-diastase Ngoài ra cũng có thể quan sát gián tiếp thông qua lắng đọng protein cố định trên phép nhuộm fuscin aldehyde Trong bệnh ứ mật mạn, các hạt lắng đọng ở vùng ranh giới
nhu mô quanh khoảng cửa
Kiểu hình 5: thoái hóa mỡ
Thoái hóa mỡ là hình ảnh mỡ tích tụ trong tế bào gan và là hình ảnh thường thấy trên mẫu sinh thiết Các chi tiết khác hỗ trợ chẩn đoán là
có kèm theo hình ảnh tế bào phồng, thể Mallory-Denk hay không(33) (Hình 3)
Hình 3 Sơ đồ phân tích kiểu hình gan nhiễm mỡ (5)
Trang 9Kiểu hình 6: xơ hóa
Xơ hóa là tiến triển cuối cùng trong đa số các
bệnh lý gan và không phải là hình ảnh chỉ điểm
tổn thương còn sớm Đánh giá giai đoạn, mức độ
và loại xơ hóa là thành tố không thể thiếu trong
phân tích mẫu sinh thiết Nên lượng giá tình
trạng xơ hóa bằng phép nhuộm phổ biến như
Masson’s trichrome, hoặc ít phổ biến hơn như
Sirius red Tổn thương xơ hóa cung cấp mấu
chốt trong chẩn đoán và phân loại, giúp đánh giá
mức độ nặng của bệnh và sự tương quan với
tình trạng tăng áp cửa(13,34) (Hình 4)
Đánh giá xơ hóa thường dễ quá tay khi sinh
thiết ở vùng dưới vỏ bao Vỏ bao gan có thể dày
lên đến 5 mm và khoảng cửa cũng như tĩnh
mạch trung tâm vùng này có mô đệm dày xơ sợi
hơn Thêm vào đó, lượng mô sợi phụ thuộc vào
kích thước của khoảng cửa và có tỉ lệ tương quan trực tiếp với kích thước cấu trúc bộ ba Ngoài ra, nếu mẫu sinh thiết dọc theo trục dài khoảng cửa,
có thể tạo nên hình ảnh lớp xơ dày hoặc hình ảnh xơ hóa bắc cầu giả
Lắng đọng collagen non (màu xanh nhạt trên phép nhuộm Masson’s trichrome) khá phổ biến
ở viêm gan cấp kèm hoại tử nhu mô gan, làm dễ chẩn đoán sai thành xơ hóa thực sự, kết hợp với nhuộm reticulin cho hình ảnh sụp đổ cấu trúc lưới gan giúp phân biệt bản chất thực sự của tổn thương Để xác định chính xác xơ hóa tương ứng với collagen trưởng thành, cần xác định có mất cấu trúc lưới gan kèm theo tăng sinh ống mật ở vùng hoại tử
Hình 4 Sơ đồ phân tích thay đổi cấu trúc tiểu thuỳ gan do xơ hóa hoặc nốt tân sinh (5)
Xơ hóa quanh tế bào gan hoặc dưới xoang
gan có thể quan sát được ở vùng 3 ở những bệnh
nhân viêm gan thoái hóa mỡ do rượu hoặc
không do rượu Ở giai đoạn trễ, xơ hóa có thể
tiến triển làm tắc tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy
Ngoài ra xơ hóa cũng xảy ra ở những bệnh lý
gây nghẽn tĩnh mạch mạn như bệnh tắc tĩnh
mạch xoang; hội chứng Budd Chiari; bệnh
chuyển hóa như bệnh Wilson, giảm tyrosine
máu, giảm galactose máu; và trong bệnh nhiễm trùng như nhiễm leshmania, giang mai bẩm sinh Xơ hóa quanh khoảng cửa có thể xảy ra ở bất kỳ bệnh gan mạn nào, tuy nhiên đặc biệt ở viêm gan virus B, C, và viêm gan tự miễn Thường xơ hóa sẽ bắt đầu ở khoảng cửa, lan lộng ra xung quanh, trễ hơn sẽ tạo cầu nối xơ hóa giữa khoảng cửa với nhau cũng như khoảng cửa với tĩnh mạch trung tâm và cuối cùng tạo các
Trang 10nốt gan Danh pháp ‚xơ gan sớm‛ được sử dụng
khi nốt gan chưa được xơ hóa hoàn toàn(34)
Kiểu hình 7: khối u
Lưu đồ được sử dụng để xác định khối u ở
gan là dạng nang hay dạng đặc nhằm xác định
loại biểu mô lót hay nguồn gốc tế bào u tăng sinh
(Hình 5) Hóa mô và hóa mô miễn dịch có thể
cung cấp thêm thông tin bản chất tế bào u Ngoài
ra kết hợp với lâm sàng và hình ảnh học là yếu
tố thiết yếu xác định khối u nguyên phát hay thứ phát(35)
Hình 5 Sơ đồ tiếp cận chẩn đoán nốt tân sinh ở gan (5)
KẾT LUẬN
Bệnh gan rất đa dạng và phức tạp Khi đã
tìm ra hình ảnh mô bệnh học quan trọng trên
mẫu sinh thiết, việc sử dụng một lưu đồ sẽ giúp
tiếp cận chẩn đoán một cách đơn giản hơn Tuy
nhiên, chỉ khi có mối tương quan giữa mô bệnh
học và lâm sàng chúng ta mới có được chẩn
đoán tốt nhất và chính xác nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kleiner DE (2005) The liver biopsy in chronic hepatitis C: a
view from the other side of the microscope Seminars in Liver
Disease, 25(1):52-64
2 Huang JF, Hsieh MY, Dai CY, Hou NJ, Lee LP, Lin ZY, et al
(2007) The incidence and risks of liver biopsy in non-cirrhotic
patients: An evaluation of 3806 biopsies Gut, 56(5):736-7
3 Szymczak A, Simon K, Inglot M, Gladysz A 2012 () Safety and
effectiveness of blind percutaneous liver biopsy: analysis of
1412 procedures Hepatitis Monthly, 12(1):32-7
4 Rockey DC, Caldwell SH, Goodman ZD, Nelson RC, Smith
AD (2009) Liver biopsy Hepatology, 49(3):1017-44
5 Panqueva L, Pilar Rd, et al (2016) Useful Algorithms for Histopathological Diagnosis of Liver Disease Based on Patterns
of Liver Damage
6 Chalasani NP, Hayashi PH, Bonkovsky HL, Navarro VJ, Lee
WM, Fontana RJ (2014) ACG Clinical Guideline: the diagnosis and management of idiosyncratic drug-induced liver injury
American Journal of Gastroenterology, 109(7):950-66
7 Villar LM, Cruz HM, Barbosa JR, Bezerra CS, Portilho MM, Scalioni Lde P (2015) Update on hepatitis B and C virus
diagnosis World Journal of Virology, 4(4):323-42
8 Beuers U, Gershwin ME, Gish RG, Invernizzi P, Jones DE, Lindor K, et al (2015) Changing nomenclature for PBC: from
‘cirrhosis’ to ‘cholangitis’ Clin Res Hepatol Gastroenterol,
62(5):1620-2
9 de Boer YS, van Nieuwkerk CM, Witte BI, Mulder CJ, Bouma
G, Bloemena EJH (2015) Assessment of the histopathological
key features in autoimmune hepatitis Histopathology,
66(3):351-62
10 Manns MP, Lohse AW, Vergani DJJ (2015) Autoimmune
hepatitis–update 2015 J Hepatol, 62(1):S100-S11