1 BÁO CÁO PHÚC TRÌNH Đánh giá tác động của di cư nông thôn - thành thị và các chương trình tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh của Chương trình mục tiê
Trang 11
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
Đánh giá tác động của di cư nông thôn - thành thị và các chương trình tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh của Chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Lê Thanh Sang
Đỗ Thuỷ
TP Hồ Chí Minh, 2014
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chân thành cảm ơn Văn phòng IOM tại Thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Long An, và Lãnh đạo chính quyền địa phương tại xã Mỹ Lạc, huyện Thủ Thừa
và xã Bình Hoà Nam, huyện Đức Huệ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để chúng tôi tiến hành nghiên cứu này Xin gửi lời cảm ơn tới chị Trần Thị Ngọc Thư, cán bộ Văn phòng IOM, và anh Trịnh Hữu Thuận, cán bộ Chi cục Phát triển nông thôn đã phối hợp, hỗ trợ hết sức nhiệt tình và hiệu quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu Xin cảm ơn các nhà khoa học và các nhà quản lý đã đọc và góp ý cho bản thảo báo cáo này Chúng tôi đặc biệt biết ơn những người đã tham gia các cuộc khảo sát và phỏng vấn của chúng tôi Không có
sự giúp đỡ nhiệt thành của họ, chúng tôi không thể hoàn thành cuộc nghiên cứu này Tất cả những thiếu sót là hoàn toàn thuộc về nhóm nghiên cứu
Xin vui lòng gởi nhận xét góp ý và câu hỏi liên quan đến báo cáo cho trưởng nhóm nghiên cứu Lê Thanh Sang, theo địa chỉ email: lethanhsang.vkhxh@gmail.com
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu
3 Câu hỏi nghiên cứu
4 Phương pháp luận nghiên cứu
4.2 Chọn điểm nghiên cứu
4.2 Dân số nghiên cứu
4.3 Mẫu nghiên cứu
4.4 Chiến lược chọn mẫu
4.5 Phương pháp phân tích
4.6 Ưu điểm và hạn chế
5 Các kết quả nghiên cứu chính
5.1 Phát triển nông thôn trong bối cảnh Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới
5.1.1 Phát triển nông thôn nhìn từ những thay đổi của cộng đồng
5.1.2 Phát triển nông thôn nhìn từ những thay đổi hộ gia đình
5.2 Di cư và phát triển nông thôn
5.2.1 Đặc điểm di cư lao động nông thôn-thành thị
5.2.2 Tác động của di cư lao động nông thôn-thành thị đối với phát
triển nông thôn 5.2.4 Các nhu cầu và nguyện vọng của lao động di cư và gia đình họ
5.2.5 Xu hướng di cư trong thời gian tới
5.2.6 Một số vấn đề thảo luận về mối quan hệ giữa di cư lao động nông
thôn-thành thị và phát triển nông thôn 5.3 Tái định cư và phát triển nông thôn
5.3.1 Tái định cư do tác động của biến đổi môi trường
5.3.2 Tác động của tái định cư đối với phát triển nông thôn
5.3.3 Một số vấn đề thảo luận về mối quan hệ giữa tái định cư và phát
triển nông thôn
Trang 55
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Một số đặc điểm chính về tỉnh và huyện nghiên cứu
Bảng 2 Qui mô và phân bố mẫu nghiên cứu
Bảng 3 Đánh giá của người dân về sự thay đổi ở địa phương: 2009-2014 Bảng 4 Tỷ lệ lao động hiện đang di cư và di cư trở về trong hộ
Bảng 5 Đặc điểm của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay Bảng 6 Sự thay đổi về tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ hiện
nay so với 5 năm trước
Bảng 7 Trình độ học vấn của những người trong độ tuổi lao động và
những lao động đang di cư hiện nay
Bảng 8 Thu nhập bình quân nhân khẩu hộ theo nguồn thu
Bảng 9 Thu nhập của hộ từ tiền lương của lao động di cư trong năm 2014 Bảng 10 Cơ cấu chi tiêu bình quân hộ/tháng từ khoản đóng góp của lao
động đang di cư trong năm 2014
Bảng 11 Khoảng cách giữa cụm, tuyến tái định cư xã Mỹ Lạc và nơi ở trước
đây
Bảng 12 Điều kiện sống tại cụm, tuyến tái định cư xã Mỹ Lạc hiện nay
Bảng 13 So sánh các lĩnh vực tại cụm, tuyến với nơi ở trước khi tái định cư Bảng 14 So sánh cơ cấu thu nhập bqnk của hộ trong 12 tháng qua giữa hộ
lao động di cư với hộ ở cụm, tuyến tái định cư xã Mỹ Lạc
Bảng 15 Số tiền mua nền, xây nhà ở nơi tái định cư, khoản vay và nợ nần
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sự thay đổi chất lượng nhà ở của hộ gia đình: 2009-2014
Hình 2 Sự thay đổi loại nhà vệ sinh của hộ gia đình: 2009-2014
Hình 3 Sự thay đổi về sử dụng điện của hộ gia đình: 2009-2014
Hình 4 Sự thay đổi về nguồn nước uống của hộ gia đình: 2009-2014
Hình 5 Sự thay đổi về cách xử lý rác của hộ gia đình: 2009-2014
Hình 6 Đánh giá của hộ gia đình về mức sống hiện nay so với 5 năm trước Hình 7 Loại hình di cư của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến
nay
Hình 8 Tỷ lệ lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay phân
theo năm di cư lần đầu (trái) và lần gần đây nhất
Hình 9 Tuổi trung bình khi di cư qua các giai đoạn của lao động di cư lần
đầu (trái) và lần gần đây nhất
Hình 10 Nơi đến của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay
đối với lần di cư đầu (trái) và lần gần đây
Hình 11 Lý do di cư của lao động đang di cư và di cư trở về đối với lần di cư
Trang 66
đầu (trái) và lần gần đây nhất
Hình 12 Tình trạng việc làm của lao động đang di cư hiện nay
Hình 13 Điều kiện nhà ở tại nơi đến của lao động đang di cư hiện nay
Hình 14 Tình trạng hộ khẩu tại nơi đến của lao động đang di cư
Hình 15 Tỷ lệ lao động di cư trở về phân theo năm trở về của lần di cư đầu
(trái) và lần gần đây nhất
Hình 16 Tỷ lệ lao động di cư trở về phân theo lý do trở về của lần di cư đầu
(trái) và lần gần đây nhất
Hình 17 Cơ cấu dân số của hộ gia đình có người lao động di cư hiện nay ở
Mỹ Lạc (trái) và Bình Hoà Nam theo nhóm tuổi và giới tính
Hình 18 Cơ cấu tuổi và giới tính của người di cư đối với di cư lần gần đây ở
xã Mỹ Lạc (trái) và xã Bình Hoà Nam
Hình 19 Cơ cấu dân số của những người di cư hiện nay ở Mỹ Lạc (trái) và xã
Bình Hoà Nam theo nhóm tuổi và giới tính
Hình 20 Tỷ lệ lao động đang di cư và di cư trở về có được đào tạo theo các
hình thức khác nhau trong quá trình di cư
Hình 21 Tỷ lệ các ngành học mà lao động đang di cư và di cư trở được đào
tạo trong quá trình di cư
Hình 22 Khó khăn đối với SXNN do lao động đang di cư và cách giải quyết Hình 23 Tỷ lệ tích luỹ và hình thức tích luỹ tài sản của lao động di cư trở về Hình 24 Giá trị tích luỹ tài sản (triệu) của lao động di cư trở về
Hình 25 Tỷ lệ đầu tư và hình thức đầu tư cho SXNN của lao động di cư trở
về
Hình 26 Tỷ lệ đầu tư và hình thức đầu tư phi NN của lao động di cư trở về Hình 27 Tỷ lệ lao động di cư có con dưới 6 tuổi khi di cư và có mang con
theo (trái) và hình thức giữ trẻ
Hình 28 Tỷ lệ hộ có ý định di cư đến nơi khác trong vài năm tới
Trang 77
BÁO CÁO TÓM TẮT
BỐI CẢNH, MỤC TIÊU, VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Sự quan tâm về mối quan hệ giữa di cư và tái định cư với phát triển nông thôn đang tăng lên mạnh mẽ từ khi Việt Nam thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước Đồng bằng sông Cửu Long
là nơi diễn ra quá trình di cư lao động nông thôn-thành thị và tái định cư nông thôn do lũ lụt trên qui mô lớn Các chuyển động này không thể tách rời với quá trình phát triển nông thôn như là các quan hệ nhân quả Nghiên cứu này đánh giá tác động của các dòng di cư lao động nông thôn-thành thị và các chương trình tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại Đồng bằng sông Cửu Long
và đưa ra những kiến nghị về chính sách dựa vào các phát hiện thực tiễn
Cuộc nghiên cứu chọn Long An làm địa bàn điều tra mẫu vì Long An là cửa ngõ của Đồng bằng sông Cửu Long đến Thành phố Hồ Chí Minh và chiếm diện tích lớn nhất của vùng lũ Đồng Tháp Mười, do vậy có nhiều lao động di cư nông thôn-thành thị và các dự án tái định cư do lũ lụt Hơn nữa, cùng với các tác động lan toả từ Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình công nghiệp hoá và cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn của Long An cũng diễn ra mạnh mẽ, cung cấp một trường hợp điển hình để nghiên cứu về mối quan hệ giữa di cư và tái định cư với phát triển nông thôn Hai xã được chọn để nghiên cứu gồm xã Mỹ Lạc của huyện Thủ và xã Bình Hoà Nam của huyện Đức Huệ, trong đó Mỹ Lạc gần trung tâm hơn, phát triển hơn và có lịch sử di cư lâu hơn
Nghiên cứu này sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để thu thập thông tin, bao gồm điều tra bằng bản hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu, và thảo luận nhóm tập trung Đối với hợp phần di cư, qui mô mẫu nghiên cứu là 400 hộ , mỗi xã 200 hộ có lao động hiện đang di cư nông thôn-thành thị hoặc di cư trở về từ 2004 đến nay Đối với hợp phần tái định cư, qui mô mẫu nghiên cứu là 101 hộ tái định cư tập trung tại xã Mỹ Lạc, trong đó có 50 hộ tái định cư tại cụm và 51 hộ tái định cư tại tuyến Chúng tôi đã phỏng vấn 80 hộ, trong đó 50 hộ có người di cư, 15 hộ tái định cư tại cụm và 15 hộ tái định cư tại tuyến Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn phi chính thức một số cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương, một số hộ không tái định cư hoặc đã tái định cư một thời gian nhưng sau đó lại trở về nơi ở trước đây Đối với thảo luận nhóm, chúng tôi thực hiện 11 cuộc ở các cấp hành chính từ tỉnh, huyện, xã, ấp Thành phần tham gia là lãnh đạo chính quyền địa phương, ban, ngành, đoàn thể có liên quan đến phát triển nông thôn, di cư, và tái định cư
Trang 88
Nghiên cứu tập trung tìm hiểu các lĩnh vực và các cơ chế thông qua đó các mối quan hệ giữa di cư, tái định cư và phát triển nông thôn được xác lập
CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH CỦA CUỘC NGHIÊN CỨU
Các thành tựu nổi bật của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nông thôn Long An trong những năm gần đây Cho đến nay bình quân toàn tỉnh đạt 12,5 tiêu chí trên 19 tiêu chí của Chương trình xây dựng nông thôn mới, tăng gấp đôi so với đầu năm 2011 khi bắt đầu triển khai Đánh giá của người dân về sự thay đổi ở địa phương trên 29 lĩnh vực cơ bản của phát triển nông thôn so với 5 nămtrước đã xác nhận sự chuyển biến tích cực.Các lĩnh vực có sựcải thiện rõ rệt nhất là đường giao thông nông thôn, cơ sở vật chất trường học, nhà trẻ, cung cấp điện, nước, nhà văn hóa, chợ, và qui hoạch khu dân cư Các lĩnh vực này là thành quả trực tiếp của các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội nông thôn mà Chương trình xây dựng nông thôn mới xác định là các mục tiêu ưu tiên hàng đầu.Đối với hộ gia đình, tình trạng nhà ở, nhà vệ sinh, điện, nước sạch, và thu nhập cũng có sự cải thiện đáng kể so với trước, trong đó có sự đóng góp của các
dự án phát triển nông thôn và của chính người dân
Đặc điểm của di cư lao động nông thôn-thành thị
Di cư là một quá trình chọn lọc nguồn nhân lực, lao động di cư trẻ và có học vấn trội hơn Những người di cư tại địa bàn nghiên cứu hầu hết là lao động trẻ, với
độ tuổi trung bình là 25,6 ở Mỹ Lạc và 23 ở Bình Hoà Nam Tỷ lệ lao động di cư độc thân chiếm đa số, tương ứng với hai xã trên là 55,6% và 67,8% Đa số những người di cư có mức học vấn trung học cơ sở trở lên, cao hơn chút ít so với mức học vấn trung bình ở địa phương (77.8% so với 67.4% ở Mỹ Lạc và 88.9% so với 73% ở Bình Hòa Nam)
Đa số những người di cư chưa có kinh nghiệm làm việc Trước khi di cư, khoảng
hơn một nửa là chưa làm việc, đa số còn lại là lao động phổ thông Trong số những người đã từng làm việc trước khi di cư thì đa số là trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp (51,9% ở Mỹ Lạc và 69,8% ở Bình Hoà Nam), tiếp đến là trong lĩnh vực công nghiệp-xây dựng (34,7% ở Mỹ Lạc và 24.1% ở Bình Hoà Nam) Tương ứng với các lĩnh vực việc làm, có đến 60% và 72,2% lao động di cư ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam đã làm việc trong phạm vi xã trước khi di cư Các khu vực thành thị trong tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi mà một bộ phận đáng kể lao động di
cư đã từng làm việc trong (những) lần di cư trước đây điều này cho thấy di cư nông thôn – thành thị là dạng di cư phổ biến hơn so với các hình thức di cư khác
Trang 99
tại Long An Gần một nửa trong số những người đã từng làm việc trước khi di cư
là tự làm cho mình (47% ở Mỹ Lạc và 49,4% ở Bình Hoà Nam), chủ yếu là các hộ nông nghiệp, nhưng cũng có đến 31,3% ở Mỹ Lạc và 24,1% ở Bình Hoà Nam là làm cho doanh nghiệp, chủ yếu là những người đã từng di cư trước đó Tỷ lệ những người đã làm cho doanh nghiệp trước đó cao hơn hẳn ở Mỹ Lạc cũng cho thấy quá trình di cư nông thôn-thành thị ở Mỹ Lạc diễn ra sớm hơn so với Bình Hoà Nam Một tỷ lệ đáng kể (11,2% ở Mỹ Lạc và 22,8% ở Bình Hoà Nam) là đi làm mướn (cả trong nông nghiệp và phi nông nghiệp), một dạng kiếm sống rất phổ biến ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long
Lĩnh vực việc làm trước khi di cư lần gần đây
Trang 10Đặc điểm của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay
1 Lý do chính của lao động di cư là nhu cầu cấp bách cần có việc làm chứ
không phải là họ có nhiều lựa chọn cho những công việc có thu nhập cao
Hầu hết lao động di cư là để tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp, chỉ khoảng 10% là muốn có mức thu nhập cao hơn, cho thấy nhu cầu việc làm đang là một vấn đề bức bách đối với lao động nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh
và các trung tâm công nghiệp trong tỉnh là nơi đến chủ yếu của hầu hết lao động di cư Mức thu nhập trung vị của lao động di cư hiện nay khoảng 4 triệu/tháng, chủ yếu dành cho các chi tiêu cơ bản của bản thân và gia đình
họ Ít có sự khác nhau giữa nam và nữ Tuy nhiên, có sự khác nhau khá rõ
về mức thu nhập giữa những người có học vấn từ trung học trở xuống và những người từ trung cấp trở lên (trung vị về thu nhập 5 triệu/tháng) Đa
số lao động di cư ở lại và hầu hết trong số họ sống trong những khu nhà trọ thiếu tiện nghi, nhưng một tỷ lệ đáng kể đi về hàng ngày bằng xe buýt
Trang 1111
hoặc xe máy Các kết quả trên cho thấy dù lao động di cư là những người trẻ, họ có trình độ học vấn và tay nghề thấp, nên thu nhập cũng thấp và ít tích luỹ
Tác động của di cư lao động nông thôn-thành thị đối với phát triển nông thôn
2 Di cư làm tăng nhanh xu hướng lão hoá dân số nông thôn Các bằng chứng xác
nhận rằng di cư thu hút chủ yếu lao động trẻ và phần lớn trong số họ là từ khu vực nông nghiệp nên quá trình này đã làm thay đổi cơ cấu tuổi của dân số nông thôn theo hướng giảm các nhóm lao động trẻ, đặc biệt là nhóm tuổi 15-29, làm tăng nhanh xu hướng lão hoá dân số nông thôn và lão hoá lao động nông nghiệp
Sự thay đổi cơ cấu tuổi này sẽ tác động đến nhiều lĩnh vực khác của phát triển nông thôn hiện nay cũng như dài hạn
Trang 1212
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính của hộ có người di cư (trái) và của người di cư hiện nay tại xã
Mỹ Lạc (trên) và xã Bình Hoà Nam
3 Di cư lao động làm thay đổi cơ cấu việc làm nông thôn, đặc biệt là trong
sản xuất nông nghiệp Hầu hết lao động di cư làm việc trong các ngành
công nghiệp thâm dụng lao động như may mặc và xây dựng nên quá trình này đóng vai trò chủ yếu làm thay đổi cơ cấu việc làm nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, đặc biệt là tăng nhanh tỷ trọng lao động công nghiệp-xây dựng Khi một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang làm việc trong các công ty, họ được đào tạo nghề và do vậy lao động di cư đã góp phần làm tăng tỷ trọng lao động có tay nghề và giảm tỷ trọng lao động phổ thông ở nông thôn Quá trình chuyển dịch này cũng làm tăng tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực chính thức và đồng thời giảm tỷ trọng lao động làm mướn và tự làm cho mình ở nông thôn
Tất cả lao động 2009-2014
Lao động đổi việc 2009-2014
Lao động đổi việc 2009-2014 là người di cư
Lĩnh vực việc làm hiện nay so với 5 năm trước (%)
Nông lâm ngư nghiệp -11.6 -11.6 -26.7 -28.8 -41.5 -49.5 Công nghiệp-Xây dựng 8.6 8.4 22.7 19.7 34.6 45.2
4 Di cư tác động tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Di cư lao
động nông thôn-thành thị có các tác động ngược chiều đối với chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn Một mặt, lao động di cư làm giảm chất lượng nguồn nhân lực nông thôn không chỉ ở khía cạnh thu hút các nhóm dân số trẻ, có sức khoẻ tốt hơn mà còn có trình độ học vấn cao hơn so với những người không di cư, và là thách thức cho sự phát triển bền vững của nông nghiệp và nông thôn trong dài hạn Mặt khác, quá trình di cư lại có tác động tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực nông thôn vì quá trình di cư đã trang bị cho lao động di cư các kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, mạng lưới xã hội… và một số đã trở về đóng góp cho sự phát triển của địa phương
Trang 1313
Tất cả lao động 2009-2014
Lao động đổi việc 2009-2014
Lao động đổi việc 2009-2014 là người di cư
Tình trạng việc làm hiện nay so với 5 năm trước (%)
Lao động phổ thông (1) -4.1 -3.0 -8.4 -5.7 -15.6 -9.3 Lao động có tay nghề (2) 1.1 0.9 3.3 1.4 5.4 1.7
5 Lao động di cư nông thôn-thành thị làm tăng thu nhập của hộ nông thôn Tiền
lương từ lao động di cư là một trong ba nguồn thu lớn nhất của hộ, đóng góp khoảng 38,5% và 45,5% trong tổng thu nhập của hộ có người hiện đang di cư tương ứng ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam Trong 12 tháng qua, 76% số hộ có nhận được tiền gởi từ những người di cư với mức trung bình khoảng 3 triệu/tháng Mức đóng góp này là rất cao so vớitiền lương của họ chỉ “được 3,6 triệu tháng, có tăng ca thì lãnh được 4 triệu, 4,5 triệu” vì nhiều người đã chuyển sang hình thức
đi về hàng ngày bằng xe đưa đón công nhân để giảm chi phí
6 Các bằng chứng rõ ràng cho thấy di cư lao động nông thôn-thành thị thúc đẩy sự
phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc tăng tiêu dùng, đầu tư trực tiếp và
tạo ra tác động lan toả đối với các hoạt động kinh tế khác ở địa phương Phần lớn thu nhập từ lao động di cư của hộ (74,7% ở Mỹ Lạc và 78,9% ở Bình Hoà Nam) được dùng để chi tiêu cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt hàng ngày tại địa phương, qua đó kích cung, tăng thu nhập cho những người buôn bán nhỏ và cung cấp dịch
vụ nhỏ ở nông thôn Sức mua ở chợ nông thôn tăng mạnh vào các ngày chủ nhật
do lao động di cư mua sắm Một số người từ các xã khác cũng mang hàng hoá đến bán ở đây vào ngày cuối tuần Từ 7,5% đến 8,9% thu nhập từ lao động di cư của hộ được đầu tư vào sản xuất nông nghiệp của gia đình như mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đã góp phần vào việc phát triển nông nghiệp Nhiều hộ ở Bình Hoà Nam đã đầu tư vào mô hình chuyên canh cây chanh đang đem lại hiệu quả kinh tế cao Một số lao động di cư trở về có tích luỹ vốn, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp từ quá trình di cư đã đầu tư vào các lĩnh vực may mặc, sản xuất nước đá, tiệm tạp hoá và dịch vụ uốn tóc, làm móng Tuy nhiên, do chất lượng lao động thấp nên mức độ đóng góp của lao động di cư còn rất giới hạn
Trang 1414
7 Những bằng chứng định tính cho thấy di cư nâng cao nhận thức và vị thế của
phụ nữ nông thôn nhưng lại tạo ra một số tác động tiêu cực khác về mặt xã hội
Di cư làm tăng tương đối vị thế xã hội và sự tự tin của lao động nữ nhờ sự độc lập hơn về kinh tế và sự mở rộng các quan hệ xã hội trong môi trường làm việc công nghiệp Đối với lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, trong khi di cư lao động làm tăng số người có bảo hiểm y tế, quá trình này cũng có tác động tiêu cực đến một số khía cạnh khác như công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và chăm sóc sức khoẻ ban đầu Hầu hết lao động nữ di cư có con nhỏ dưới 6 tuổi phải nhờ người nhà trông giữ hoặc gởi người giữ trẻ tư vì thiếu nhà trẻ, mẫu giáo và không thể trang trải chi phí Những người này thường là lớn tuổi, ít hiểu biết về dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ so với người mẹ nên ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ Hơn nữa, nhiều chương trình thăm khám sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ
em không thể thực hiện đầy đủ và hiệu quả do phụ nữ di cư, không có nhiều thời gian ở tại địa phương Đối với lĩnh vực giáo dục, phụ huynh là lao động di cư thì
có thêm thu nhập để đầu tư cho việc học của trẻ nhưng đồng thời cũng ít thời gian dành cho trẻ, dễ dẫn đến tình trạng học kém hoặc nguy cơ bỏ học, nhất là đối với trẻ trong độ tuổi trung học cơ sở Di cư lao động cũng làm giảm lực lượng thanh niên và phụ nữ là những thành phần năng động nhất trong các hội đoàn nông thôn, và do vậy làm giảm các hoạt động tập thể và sinh hoạt cộng đồng tại địa phương
Các tác động của di cư lao động nông thôn-thành thị đối với các lĩnh vực phát triển nông thôn nêu trên gắn liền với các mục tiêu mà Chương trình xây dựng nông thôn mới đang hướng tới
Tác động của phát triển nông thôn đối với di cư lao động nông thôn-thành thị
8 Có sự thay đổi các khuôn mẫu di cư của một bộ phận lao động di cư từ việc ở
trọ lại sang đi về hàng ngày Sự nâng cấp, mở rộng, và kết nối giao thông nông
thôn với khu vực thành thị như là kết quả nổi bật của Chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm tăng nhanh các dòng di cư lao động nông thôn-thành thị
và thay đổi các khuôn mẫu di cư của một bộ phận lao động di cư từ việc ở trọ lại sang đi về hàng ngày Các bằng chứng cho thấy, số lao động làm việc ở thành thị
đi về hàng ngày lần gần đây trong giai đoạn 2009-2014 chiếm đến 52,9% và 53,9% trong tổng số lao động di cư lần gần đây ở cả hai xã nghiên cứu Đây là giai đoạn mà Chương trình xây dựng nông thôn mới đầu tư vào nhiều dự án phát
Trang 1515
triển giao thông và đã thúc đẩy các dòng di cư mới Các đường giao thông nội bộ
ấp cũng giúp lao động di chuyển thuận lợi hơn bằng xe đạp hoặc xe gắn máy từ khu vực xa đến nơi có thể đón xe buýt Khi được hỏi, những người lao động đi về hàng ngày cho biết họ có thể tiết kiệm chi phí thuê nhà trọ và sinh hoạt và tham gia vào việc chăm sóc, nuôi dạy con cái tốt hơn
9 Sự cải thiện giao thông nông thôn và quá trình công nghiệp hoá nông thôn đang
từng bước làm thay đổi nơi đến của lao động di cư theo hướng giảm bớt sự tập
trung vào các trung tâm công nghiệp lớn và tăng lên ở các trung tâm công nghiệp ở cấp tỉnh Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh
vẫn là nơi đến chủ yếu của lao động di cư, nhưng vị thế của các trung tâm công nghiệp trong tỉnh đang tăng lên rõ rệt Nếu trong lần di cư đầu, số lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 44,4% và 48%, đến các khu vực thành thị trong tỉnh chiếm 38,4% và 44,8% ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam, thì trong lần di cư gần đây, các tỷ lệ tương ứng đến Thành phố Hồ Chí Minh là 40,2% và 40,5% trong khi đến các khu vực thành thị trong tỉnh là 42,3% và 51,5% “Bây giờ nhiều người cũng qua làm ở các khu công nghiệp bên Đức Huệ Chiều các xe chở công nhân về đông nghẹt ở ở đây” (Bình Hoà Nam) “Nhiều người vẫn làm ở PouYuen nhưng nhiều người về làm cho các công ty ở thành phố Tân An và Bến Lức cho gần nhà hơn” (Mỹ Lạc)
Nơi đến của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay đối với lần di cư đầu (trái) và lần gần đây
10 Sự cải thiện giao thông nông thôn và quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp,
nông thôn đang làm cho độ tuổi di cư tăng lên do thu hút nhiều hơn lao động
nông thôn có độ tuổi lớn hơn Sự mở rộng này còn do áp dụng máy móc và kỹ thuật mới trong nông nghiệp, do cải thiện hệ thống thuỷ lợi, do phát triển các mô hình canh tác hiệu quả mà một phần là do Chương trình nông thôn mới mang lại
Trang 1616
đã làm cho nhu cầu nhân lực trong nông nghiệp, đặc biệt là lao động nữ, giảm mạnh
Ghi chú: Số người di cư trước năm 2000 chỉ có vài trường hợp
Tuổi trung bình khi di cư qua các giai đoạn của lao động di cư lần đầu (trái) và lần gần đây nhất
11 Sự cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn đang bắt đầu thu hút một số hoạt động
sản xuất kinh doanh qui mô nhỏ và có thể làm giảm bớt xu hướng xuất cư trong tương lai Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy một số hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp như sản xuất nước đá, tách hạt điều, may gia công, dịch vụ ăn uống, làm móng, uốn tóc… mới xuất hiện trong vài năm trở lại đây nhờ giao thông thuận tiện, nguồn cung cấp điện đầy đủ hơn, và nhu cầu tăng lên do mức sống cư dân nông thôn tăng Một số hoạt động này là do lao động di cư trở về đầu tư và thu hút được một số lao động nữ địa phương, kể cả lao động di cư trở về
Tác động của tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn
12 Chương trình xây dựng cụm, tuyến tái định cư đã cải thiện một cách cơ bản
điều kiện sống của những hộ tái định cư, qua đó góp phần tích cực vào quá trình
phát triển nông thôn nói chung và đạt các tiêu chí về qui hoạch dân cư và cơ sở
hạ tầng của Chương trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Kết quả nghiên cứu chứng tỏ rằng, trừ tiêu chí “sẵn đất nông nghiệp”, các lĩnh vực khác tại nơi tái định cư tập trung đều được cải thiện so với nơi ở trước khi tái định cư, đặc biệt là các tiêu chí “nơi ở an toàn”, “chất lượng nhà ở”, “tiếp cận giao thông”, “tiếp cận
y tế”, “tiếp cận giáo dục” Sự cải thiện này góp phần đáp ứng nhiều tiêu chí tương ứng, đặc biệt là các tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng, của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 17So sánh các lĩnh vực tại cụm, tuyến với nơi ở trước khi tái định cư
13 Sự hình thành các khu dân cư tập trung kích thích sự phát triển của các hoạt
động phi nông nghiệp Chương trình xây dựng cụm, tuyến tái định cư kích thích
sự hình thành các khu dân cư tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phi nông nghiệp, qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu việc làm nông thôn, đáp ứng tiêu chí quan trọng này của Chương trình xây dựng nông thôn mới Phân tích cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu trong 12 tháng qua cho thấy thu nhập
từ buôn bán hoặc từ các hoạt động công nghiệp, thủ công nghiệp của hộ ở cụm (36.4%) và ở tuyến (14.2%) cao hơn nhiều so với các hộ có người di cư (4.6%) (xem thêm bảng 14) Nhiều người mua nền, mua nhà ở cụm, tuyến để làm các nghề phi nông nghiệp vì thuận lợi cho công việc của họ Tuy nhiên, tái định cư tập trung tại các cụm, tuyến dân cư không thuận lợi cho nhiều hộ sản xuất nông nghiệp như phải đi làm đồng xa hơn, mất đi các khoản hoa lợi từ chăn nuôi, trồng trọt và từ cá tôm trong đồng, trong khi phải mua rất nhiều thứ khi ở cụm, tuyến tái định cư
14 Tái định cư tập trung tại các cụm, tuyến dẫn đến tình trạng nợ nần khó trả của
một số hộ tái định cư có vay để mua nền và xây nhà, ảnh hưởng đến chỉ tiêu về mức sống của Chương trình xây dựng nông thôn mới Chỉ tính nguồn vốn vay từ Chương trình dành cho 993 hộ thuộc đối tượng ưu tiên với mức vay trung bình khoảng 9 triệu/nền và 9 triệu/căn nhà ở huyện Thủ Thừa, cho đến nay chỉ 24,4%
Trang 1818
số tiền vay mua nền và 11% số tiền vay xây nhà được hoàn trả Ở xã Mỹ Lạc, có
77 hộ vay từ Chương trình nhưng đến nay chỉ mới trả được khoảng 12,2% tổng
số nợ Hầu hết những người được hỏi đều cho rằng họ sẽ “trả dần theo khả năng” hoặc “đến đâu hay đến đó”
15 Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư tập trung nhiều nguồn lực phát triển nông thôn nhưng không ít cụm, tuyến dân cư không hoặc thu hút rất ít dân cư vào sinh sống vì cung vượt quá cầu, vị trí không thuận lợi cho các hoạt động sinh
kế của người dân, và chưa cấp bách về tình trạng lũ lụt Long An đã huy động 901,312 tỷ để tôn nền và xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản tại 165 cụm, tuyến với 33.658 nền từ năm 2005 nhưng cho đến nay mới có 77,8% số hộ nhận nền và 49,1% số hộ vào sinh sống tại các cụm, tuyến này Một số cụm, tuyến dân cư phải
chuyển đổi chức năng Tình trạng này làm giảm hiệu quả đầu tư của các nguồn
lực phát triển nông thôn
Xây dựng các trung tâm công nghiệp địa phương với các ngành phù hợp để giải quyết việc làm bền vững cho lao động nông thôn theo hình thức “ly nông bất ly hương”, hạn chế các tác động xã hội tiêu cực của di cư đến các thành phố lớn
Cùng với việc cải thiện cơ sở hạ tầng, nguyện vọng lớn nhất của đông đảo người dân nông thôn là có được việc làm ổn định gần nhà để có thể đồng thời chăm sóc gia đình Cần đặc biệt chú trọng đến việc lựa chọn các ngành công nghiệp địa phương phù hợp.Chất lượng nguồn nhân lực thấp và sự chọn lọc gắt gao về độ tuổi từ 18-35 trong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động hiện nay có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng lên của lao động nông thôn ở độ tuổi lớn hơn trong khi các khoản tích luỹ từ di cư là rất hạn chế Mô hình công nghiệp hoá và
đô thị hoá tại Bến Lức và Đức Hoà dựa trên tác động lan toả của Thành phố Hồ Chí Minhcó thể không phù hợp với những bối cảnh khác Trong dài hạn, quá trình
Trang 19Kết quả nghiên cứu cho thấy lao động di cư và con cái của họ đang phải đối mặt với các khó khăn thực tế trên và cũng phản ảnh các hạn chế chính sách cần phải được cải thiện một cách mạnh mẽ trong thời gian tới
Xây dựng chiến lược hiệu quả về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn
Chất lượng nguồn nhân lực thấp là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thiếu
ổn định trong công việc và thu nhập thấp, dẫn đến các vấn đề dài hạn đối với phát triển nông thôn trong khi chương trình đào tạo nghề hiện nay ít hiệu quả Cần phải có những nghiên cứu sâu, toàn diện về chiến lược đào tạo nghề nông thôn để có các giải pháp hữu hiệu trong thời gian tới
Các chương trình tái định cư cần cân nhắc đồng thời các nhu cầu thực tế về nhà
ở của cư dân nông thôn, các tính chất của môi trường, và các cơ hội việc làm, sinh kế của người dân để xác định các qui mô và phương thức tái định cư phù hợp
Kết quả nghiên cứu cho thấy những cụm, tuyến dân cư đáp ứng cao các yếu tố trên thì thu hút được đông đảo hộ dân vào sinh sống, kể cả những hộ tái định cư
do môi trường và những hộ không thuộc đối tượng này Bên cạnh phương thức tái định cư tập trung, tái định cư tại chỗ trên cơ sở nâng cao nền nhà và đường giao thônglà một lựa chọn phù hợp đối với những vùng ngập vừa hoặc nông Các phát hiện chính từ nghiên cứu này cần được đặt trong bối cảnh phát triển của Long An Trong khi nhiềuphát hiện phản ảnh những tính chất chung về mối quan hệ giữa di cư, tái định cư và phát triển nông thôn của Đồng bằng sông Cửu Long, một số khác có thể chỉ phù hợp với các điều kiện đặc thù của Long An và do vậy cần phải được tham chiếu một cách cẩn trọng
Trang 2020
1 GIỚI THIỆU
Nghiên cứu này đánh giá tác động của các dòng di cư lao động nông thôn – thành thị và các chương trình tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại ĐBSCL
Nông thôn ĐBSCL là nơi tập trung khoảng 80% dân số toàn vùng Mặc dù là nơi sản xuất nông nghiệp trọng điểm quốc gia, nông thôn ĐBSCL đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển như cơ sở hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực thấp, và biến đổi bất lợi của môi trường
Trong gần 3 thập niên từ khi đổi mới đến nay, ĐBSCL chứng kiến quá trình xuất
cư ngày càng tăng lên, đặc biệt là từ khu vực nông thôn đến các trung tâm công nghiệp của TPHCM và ĐNB (Lê, 2008, 2014; TCTK, 2011) Mặc dù có đóng góp rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế, lao động di cư không được lồng ghép vào các chiến lược phát triển chủ yếu, họ không thể hội nhập vào xã hội thành thị một cách thật sự, và ở trong một cảnh huống có tính nan đề vừa bị xem là yếu tố đem lại sự nghèo khổ cho thành thị vừa làm suy giảm nguồn nhân lực phát triển nông thôn
Trong khi di cư cung cấp việc làm và thu nhập cho lao động di cư cũng như các dòng tiền gởi về cho gia đình họ ở nông thôn, các đóng góp này có thể bị hạn chế
do chất lượng nguồn nhân lực thấp và môi trường làm việc không thuận lợi Không chỉ vậy, quá trình di cư nông thôn – thành thị có thể tạo ra nhiều tác động tích cực/tiêu cực trên nhiều lĩnh vực dân số, kinh tế, xã hội khác nhau chưa được đánh giá một cách đầy đủ
ĐBSCL là vùng đất trũng, hàng năm chịu tác động rất lớn của lũ lụt, gây nhiều tổn thất về nhân mạng, nơi ở, sinh kế, và đời sống của người dân Từ đầu những năm
2000, ĐBSCL bắt đầu triển khai các chương trình tái định cư được tổ chức theo các cụm/tuyến cho người dân tại những nơi chịu tác động của lũ lụt, sạt lở đất Các chương trình tái định cư này một mặt có tác động tích cực đến những hộ tái định cư như có chỗ ở an toàn, dễ tiếp cận với các dịch vụ công nhưng mặt khác cũng làm tăng gánh nặng nợ nần, khó khăn về sinh kế và các tác động tiêu cực khác chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ (Chun và Lê, 2012)
Từ năm 2010 đến nay, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được các địa phương triển khai thực hiện đã và đang tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng Quá trình phát triển nông thôn chịu tác động của các yếu tố nào
và kết quả của quá trình phát triển này có tác động như thế nào đối với các yếu
tố trên là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và chính sách Di cư và tái định cư là hai trong số các yếu tố trên và hầu như chưa được nghiên cứu đáng kể về tác động
Trang 2121
của các quá trình này đối với phát triển nông thôn tại ĐBSCL cho đến nay Hơn nữa, các thành tựu của quá trình phát triển nông thôn có tác động trở lại đối với các dòng di cư như thế nào là một vấn đề mới đặt ra cần được tìm hiểu
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đối với hợp phần di cư, mục tiêu chính của cuộc nghiên cứu là đánh giá các đóng góp của di cư lao động nông thôn-thành thị đối với các lĩnh vực chủ yếu của Chương trình xây dựng nông thôn mới, bao gồm các mục tiêu cụ thể sau:
Chỉ ra các tác động của di cư đối với lực lượng lao động, sinh kế và kinh tế nông thôn
Xác định các nhu cầu của người di cư và gia đình họ và các hỗ trợ có thể được cung cấp để tối đa hoá các lợi ích của di cư đối với phát triển nông thôn
Đánh giá tác động tiềm năng của thành tựu phát triển nông thôn đối với các
xu hướng di cư, đặc biệt là từ chương trình xây dựng nông thôn mới
Đối với hợp phần tái định cư, cuộc nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc đánh giá các mô hình tái định cư tập trung (cụm/tuyến) và việc cải thiện điều kiện ở tại chỗ (không có các mô hình tái định cư phân tán) và các gợi ý đối với sự phát triển bền vững của các cộng đồng nông thôn Một cách cụ thể, nghiên cứu cần:
Xác định các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường tác động đến sự thành công của các mô hình tái định cư
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Đối với hợp phần di cư, cuộc nghiên cứu trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:
Có những dạng di cư lao động nông thôn – thành thị nào và các dạng di cư này tác động tích cực/tiêu cực như thế nào đối với phát triển nông thôn?
Các điều kiện sống tại nơi đến có ảnh hưởng đến đóng góp của người di cư đối với phát triển nông thôn không? Những yếu tố nào tác động đến các kết quả của di cư đối với phát triển nông thôn? Các bên liên quan có thể làm gì để giúp người di cư tối đa hoá các đóng góp của họ đối với phát triển nông thôn trong khi tối thiểu hoá các tác động tiêu cực trước, trong và sau khi di cư?
Đâu là các yếu tố cơ bản đối với di cư nông thôn – thành thị và và các yếu tố này chịu tác động của phát triển nông thôn như thế nào? Các bên liên quan có thể làm gì để đề xuất các dạng di cư mang lại nhiều lợi ích trong khi giúp người di cư tiềm năng cân nhắc các lựa chọn của mình?
Trang 224 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
4.1 Chọn điểm nghiên cứu
Long An là tỉnh được chọn để đánh giá tác động của lao động di cư nông thôn - thành thị và tác động của chương trình tái định cư do môi trường đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL vì có nhiều tính chất phù hợp với yêu cầu của cuộc nghiên cứu Năm 2011, Long An có 82,2% dân số sống ở nông thôn, tương đương với mức bình quân của vùng, và chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng có tốc độ thành thị hóa và công nghiệp hóa nhanh so với nhiều tỉnh ĐBSCL Năm 2011, tốc
độ tăng trưởng dân số toàn tỉnh là 0,49%, trong đó mức tăng ở thành thị là 1,36%, cao hơn khoảng 4,4 lần so với mức tăng ở nông thôn là 0,31%, chủ yếu do
di cư nông thôn – thành thị Năm 2011, giá trị sản phẩm ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 22,1%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 63%, và ngành thương mại - dịch vụ chiếm 14,9% giá trị tổng sản lượng của tỉnh Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2011 là 15%, trong đó ngành nông lâm ngư nghiệp tăng 6,4%, ngành công nghiệp – xây dựng tăng 18,9%, và ngành thương mại - dịch vụ tăng 11,5%; tốc tăng trưởng trong khu vực nhà nước là 3,6%, khu vực ngoài nhà nước là 15,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 16,7% (CTK Long An, 2012) Các số liệu trên cho thấy, sản xuất công nghiệp trong khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài đang trở thành động lực chính thu hút lao động di cư nông thôn – thành thị hiện nay
Là cửa ngõ của ĐBSCL với TPHCM, Long An có tỷ lệ di cư lao động từ nông thôn đến TPHCM rất lớn Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở (TĐTDS&NƠ)
2009, số người từ 5 tuổi trở lên di cư đến TPHCM chiếm 54% tổng số người từ Long An di cư khỏi tỉnh trong giai đoạn 2004-2009 (TCTK, 2010) Tác động lan tỏa
từ TPHCM và quá trình công nghiệp hóa nhanh ở các huyện ven với TPHCM như Bến Lức, Đức Hòa,… đang thu hút ngày càng nhiều các dòng lao động di cư trong
Trang 23và ngược lại mà không nơi nào thích hợp hơn Long An
Hơn nữa, nhiều khu vực rộng lớn của Long An thuộc Đồng Tháp Mười hoặc vùng ven Đồng Tháp Mười nên chịu các tác động bất lợi của lũ lụt Trong 10 năm qua, Long An đã xây dựng nhiều cụm, tuyến dân cư vượt lũ và do vậy cung cấp thực tiễn sinh động để nghiên cứu về tác động của các dự án tái định cư này đối với phát triển nông thôn
Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường và 12 huyện Để đánh giá tác động của lao động di cư nông thôn - thành thị đối với phát triển nông thôn và tác động ngược lại của phát triển nông thôn đối với di cư, hai huyện được chọn để khảo sát dựa trên các tiêu chí sau: (1) Cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nhằm tìm hiểu các mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn với di cư nông thôn – thành thị: một vấn đề cơ bản mà nghiên cứu này cần chỉ ra (2) Đạt mức độ trung bình trong các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới, để hạn chế những sai lệch do tính chất quá đặc thù của địa bàn nghiên cứu (3) Có tỷ lệ lao động di cư nông thôn – thành thị tương đối cao để các tác động đối với phát triển nông thôn và ngược lại là đủ lớn để có thể đánh giá Khoảng cách và điều kiện di chuyển có ảnh hưởng quan trọng đối với số người di cư và phương thức di cư Do vậy, nghiên cứu này chọn một huyện gần trung tâm hơn, điều kiện di chuyển thuận lợi hơn, có tỷ lệ di cư đi về trong ngày cao; huyện thứ hai xa trung tâm hơn, điều kiện di chuyển khó khăn hơn, có tỷ lệ
di cư ở lại cao Ngoài ra, để nghiên cứu về tác động của chương trình tái định cư
do môi trường đối với phát triển nông thôn, một huyện được chọn ở trên sẽ có các dự án tái định cư theo cụm, tuyến Tại mỗi huyện, chọn ra một xã có các tính chất nêu trên để làm điểm nghiên cứu chọn mẫu1
cư thấp rất khó khăn; nếu mở rộng ra nhiều xã sẽ khó đánh giá tác động đối với phát triển nông thôn của các xã này vì bị yếu, phân tán và không tương thích khi so sánh với xã có tỷ lệ di cư cao (c) Hơn nữa, các quan sát bước đầu cho thấy quá trình phát triển nông thôn, đặc biệt là sự nâng cấp và kết nối cơ sở
hạ tầng nông thôn đang làm thay đổi các dạng di cư so với trước đây và đến lượt nó lại tác động trở lại
Trang 24Huyện Thủ Thừa cách thành phố Tân An 10 km và cách TPHCM 45 km, có diện tích tự nhiên 299 km2, dân số hơn 90 ngàn người, mật độ 303 người/km2, tương đương với mức bình quân toàn tỉnh Khoảng cách từ huyện Đức Huệ đến TP Tân
An xa hơn nhưng đến TPHCM thì tương đương với huyện Thủ Thừa Các thống kê
mô tả ở Bảng 1 cho thấy có sự khác nhau đáng kể về đất đai, dân số và hoạt động kinh tế của hai huyện Đức Huệ có diện tích 432 km2, nhưng dân số chỉ khoảng 60 ngàn người, mật độ dân số 130 người/km2, thấp hơn một nửa so với mật độ dân
số của Thủ Thừa Là một huyện biên giới với Campuchia, Đức Huệ là huyện nghèo nhất tỉnh và cơ sở hạ tầng kém phát triển Đức Huệ có diện tích đất nông nghiệp lớn nhưng nhiều nơi không thể trồng lúa hoặc có năng suất thấp do nhiễm phèn, mặn, một số nơi phù hợp với cây lâu năm Trong khi đó, Thủ Thừa là một huyện chuyên canh lúa có năng suất cao hơn nhiều so với mức bình quân trong toàn tỉnh và so với Đức Huệ Mặc dù vậy, do mật độ dân số cao hơn nên sản lượng lương thực toàn huyện và bình quân đầu người ở Thủ Thừa thấp hơn so với Đức Huệ Trong các lĩnh vực phi nông nghiệp, số lượng doanh nghiệp, CSKT, và số lao động làm việc tại các CSKT ở Thủ Thừa đạt ở mức độ trung bình thì các chỉ báo này ở Đức Huệ thấp hơn hẳn, chỉ xấp xỉ 1/3 so với Thủ Thừa Sự yếu kém của các ngành phi nông nghiệp ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của lao động địa phương
và các khả năng di cư nông thôn-thành thị
Bảng 1: Một số đặc điểm chính về tỉnh và huyện nghiên cứu
Số CSKT cá thể phi nông nghiệp 67,483 5,241 1,727
Số lao động CSKT cá thể phi nông nghiệp 115,394 8,375 2,882
Diện tích cây lương thực có hạt (ngàn ha) 489 32 46
Sản lượng cây lương thực có hạt (nghìn tấn) 2,577 178 228
Sản lượng lương thực bình quân đầu người
(kg)
1,777 1,972 3,833
Nguồn: Cục thống kê 2012 Niên giám thống kê tỉnh Long An
đối với phát triển nông thôn Đây là một vấn đề quan trọng mà các đánh giá tác động này không thể bỏ qua
Trang 2525
Bản đồ 1: Vị trí huyện Thủ Thừa và huyện Đức Huệ, tỉnh Long An
Trên cơ sở tham vấn với lãnh đạo địa phương, xã Mỹ Lạc của huyện Thủ Thừa và
xã Bình Hòa Nam của huyện Đức Huệ được chọn để nghiên cứu Mỹ Lạc nằm cách thị trấn Thủ Thừa khoảng 8,5km về phía Tây và cách thành phố Tân An khoảng 13km về phía Tây Bắc Diện tích đất là 1.709 ha, dân số năm 2010 là 6.688 người,
có mật độ 391 người/km2, cao hơn so với mật độ trung bình toàn huyện Diện tích đất nông nghiệp là 1.630 ha, trong đó nhóm đất phù sa chiếm 79% chuyên canh tác lúa 2 vụ cho năng suất cao, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản trên đồng ruộng Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động chiếm 59,2% dân số toàn xã, trong
đó lao động nông nghiệp chiếm 69% Diện tích đất nông nghiệp bình quân nhân khẩu chỉ đạt khoảng 0,24 ha Sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ, tập trung vào các ngành sửa chữa nhỏ, xay xát, chế biến hạt điều, xây dựng, và gần đây còn gia công may mặc và sản xuất nước đá Mỹ Lạc nằm cặp sông Vàm Cỏ Tây, chịu ảnh hưởng của lũ lụt từ vùng thượng nguồn trong khoảng 4 tháng từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, nên có một cụm và một tuyến dân cư vượt lũ để tái định cư những hộ dân tại vùng ngập lũ (UBND xã Mỹ Lạc, 2012)
Bình Hoà Nam nằm ở phía Đông Nam của huyện Đức Huệ, cách thị trấn Đông Thành khoảng 13 km Diện tích đất là 7.295 ha, dân số năm 2011 là 7.747 người,
có mật độ 102 người/km2, thấp hơn mật độ trung bình toàn huyện và gần bằng 1/4 mật độ dân số của xã Mỹ Lạc Diện tích đất nông nghiệp là 2,996 ha, trong đó đất trổng cây hàng năm là 1.753 ha; diện tích đất lâm nghiệp là 3.292 ha; và đất nuôi trồng thuỷ sản là 6,4 ha Do qui mô dân số ít hơn nên diện tích đất nông nghiệp bình quân nhân khẩu của Bình Hoà Nam đạt mức 0,4 ha, cao hơn gấp đôi
so với Mỹ Lạc, trong đó chủ yếu là đất trồng cây lâu năm Trong những năm gần đây, nghề trồng chanh đang rất phát triển ở Bình Hoà Nam Tỷ trọng dân số trong
Trang 2626
độ tuổi lao động chiếm 66,1% dân số toàn xã, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 69,1% So với Mỹ Lạc, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động của Bình Hoà Nam cao hơn chút ít nhưng tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp
là tương đương nhau Các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở đây ít hơn so với Mỹ Lạc, chỉ có một số cơ sở xay xát và khai thác gỗ Bình Hoà Nam là xã nghèo nhất của huyện Đức Huệ, cơ sở hạ tầng yếu kém, mật độ dân số thấp nên cư trú phân tán, chủ yếu dựa vào nông lâm ngư nghiệp, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn (UBND xã Bình Hoà Nam, 2013)
Bản đồ 2: Vị trí xã Mỹ Lạc, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
Nhìn chung, Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam đều là xã thuần nông nhưng Mỹ Lạc có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng phát triển hơn, mức sống cao hơn và dễ tiếp cận với các thị trường lao động công nghiệp hơn so với Bình Hoà Nam
Bản đồ 3: Vị trí xã Bình Hoà Nam, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An
Trang 2727
4.2 Dân số nghiên cứu
Dân số nghiên cứu bao gồm hai hợp phần riêng biệt là di cư và tái định cư Đối với hợp phần di cư, dân số nghiên cứu bao gồm cả những hộ có người hiện đang
di cư và những hộ có người di cư đã trở về tại xã Mỹ Lạc và xã Bình Hoà Nam, cụ thể như sau:
Hộ có ít nhất một thành viên hiện đang làm việc ở các khu vực thành thị hoặc KCN, kể cả những người ở lại và đi về hàng ngày2
Hộ có ít nhất một thành viên đã từng làm việc ở các khu vực thành thị hoặc KCN nhưng đã trở về từ năm 2004 đến nay và hiện đang sống cùng với hộ này Việc xác định thời gian từ 2004 đến nay đối với những người di cư trở về nhằm đáp ứng hai yêu cầu: (1) giới hạn những trường hợp di cư trở về quá lâu, khó đánh giá tác động đối với phát triển nông thôn và (2) Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn bắt đầu triển khai từ năm 2010 nên có thể so sánh các khuôn mẫu di cư trước và sau 5 năm cũng như các tác động của nó đối với phát triển nông thôn, và các tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đối với di
cư trong các giai đoạn này
Đối với hợp phần tái định cư, tất cả những hộ trong danh sách tái định cư theo cụm/tuyến tại xã Mỹ Lạc đều thuộc dân số nghiên cứu Các hộ này cũng đều được tái định cư từ sau 2004 đến nay
4.3 Mẫu nghiên cứu
Cuộc nghiên cứu được sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để thu thập thông tin, bao gồm điều tra bằng bản hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu, và thảo luận nhóm tập trung
Đối với điều tra bằng bản hỏi cấu trúc, chúng tôi sử dụng hai loại bản hỏi khác nhau và hai mẫu nghiên cứu khác nhau cho hợp phần di cư và hợp phần tái định
cư Đối với hợp phần di cư, qui mô mẫu nghiên cứu là 400 hộ, mỗi xã 200 hộ Đối với hợp phần tái định cư, qui mô mẫu nghiên cứu là 101 hộ, trong đó 50 hộ tái định cư tại cụm và 51 hộ tái định cư tại tuyến Tổng cộng số hộ điều tra bản hỏi cấu trúc cho cả hai hợp phần là 501 hộ
Đối với phỏng vấn sâu, chúng tôi phỏng vấn 80 hộ, trong đó 50 hộ có người di cư,
15 hộ tái định cư tại cụm và 15 hộ tái định cư tại tuyến Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn phi chính thức một số cơ sở sản xuất, kinh doanh tại địa phương, một
2 Trong nghiên cứu này, những người làm ở các thành thị và khu công nghiệp theo ca hay theo giờ hành chính và đi về hàng ngày được xác định là một dạng di cư lao động nông thôn – thành thị vì các lý do sau: (1) Nhiều người di cư trước đây ở lại TPHCM nhưng vài năm gần đây do giao thông nông thôn phát triển
họ đi về hàng ngày (2) Đối với nơi đến, họ vẫn được xem là lao động di cư (3) Đây là một biểu hiện rõ nét về tác động của phát triển nông thôn đối với các khuôn mẫu di cư cần được tập trung nghiên cứu
Trang 28Bảng 2: Qui mô và phân bố mẫu nghiên cứu
4.4 Chiến lược chọn mẫu
Với dung lượng mẫu khảo sát chỉ 400 hộ tại hai xã để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trong hợp phần di cư, việc chọn lựa chỉ bao gồm các hộ gia đình có người hiện đang di cư và/hoặc di cư trở về từ 2004 đến nay mà không bao gồm những hộ không có người di cư là một chiến lược chọn mẫu tối ưu trong các giới hạn cụ thể dựa trên các cơ sở sau: (1) Nếu bao gồm cả những hộ không có người
di cư thì các thành phần trong mẫu sẽ bị chia nhỏ, phân tán, dẫn đến việc phân tích không hiệu quả (2) Đây là một nghiên cứu đa mục tiêu, trong đó khái niệm phát triển nông thôn được đo lường bởi nhiều chiều kích khác nhau và không thể xây dựng một chỉ số tổng hợp chung cho các chiều kích được đo lường khác nhau này hoặc sử dụng các đo lường đối với tất các chiều kích của phát triển nông thôn (Chương trình xây dựng nông thôn mới có 19 tiêu chí) để đánh giá tác động của
di cư/không di cư trong các mô hình hồi qui đa biến (3) Trong các hộ có người đang di cư và/hoặc di cư trở về cũng có những người không di cư Do vậy, nghiên cứu tính chọn lọc của di cư đối với các thành phần dân số này có thể bổ sung cho các đánh giá về tác động của người di cư so với người không di cư (4) Tập trung vào việc thu thập thông tin của nhiều người đang di cư/di cư trở về sẽ cung cấp bằng chứng đa dạng và thuyết phục hơn về các tác động của di cư đối với phát triển nông thôn cũng như các vấn đề của người di cư và các khuôn mẫu di cư Đối với hợp phần này, cán bộ xã phối hợp với các trưởng ấp để lập danh sách của
300 hộ hiện đang có lao động di cư nông thôn – thành thị/KCN và/hoặc có lao động di cư nông thôn – thành thị/KCN nhưng đã trở về từ năm 2004 đến nay
Trang 29Người trả lời bản hỏi cấu trúc thường là chủ hộ hoặc thành viên chủ chốt của hộ nhưng cũng bao gồm cả những thành viên khác liên quan đến thông tin cá nhân của các thành viên trong hộ Trong số các hộ được phỏng vấn bản hỏi cấu trúc, điều tra viên chọn ra một số trường hợp có tính chất tiêu biểu hoặc đặc thù, thể hiện tính đa dạng của vấn đề nghiên cứu, để phỏng vấn Đối với hợp phần di cư, lao động đang di cư và di cư trở về là những người được ưu tiên phỏng vấn Đối với hợp phần tái định cư, những người có nhiều kinh nghiệm tái định cư cũng được ưu tiên phỏng vấn
4.5 Phương pháp phân tích
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích tài liệu thứ cấp với các kết quả điều tra mẫu Chúng tôi tập trung vào việc làm rõ các cơ chế mà thông qua đó quá trình di cư, tái định cư tác động tính cực và tiêu cực đến các lĩnh vực khác nhau của lao động di cư, người tái định cư và gia đình họ, cũng như các lĩnh vực phát triển nông thôn gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, cả trực tiếp
và gián tiếp, và ngược lại Do mẫu nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho dân số nghiên cứu (di cư và tái định cư) trong xã, các kết quả định lượng được phân tích riêng cho từng xã mà không gộp chung số liệu hai xã với nhau Điều này cũng cho phép so sánh sự tương đồng và khác biệt do các bối cảnh địa phương khác nhau
4.6 Ưu điểm và hạn chế
Cuộc nghiên cứu đã được thiết kế cẩn thận, có sự tham vấn, hỗ trợ tích cực của địa phương Quá trình chọn mẫu được chuẩn bị kỹ càng, các công cụ được thử nghiệm và hiệu chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế, nghiên cứu thực địa được triển khai với 3 giai đoạn: khảo sát thăm dò, khảo sát đại trà, và khảo sát bổ sung, cho phép thu thập các thông tin tốt nhất có thể mà cuộc nghiên cứu đặt ra
Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn không cho phép thực hiện một số tiếp cận phân tích đòi hỏi qui mô mẫu lớn Đặc biệt là đối với hợp phần tái định cư, qui mô mẫu chỉ gồm 50 hộ tái định cư ở cụm và 51 hộ tái định cư ở tuyến Hơn nữa, nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới rất rộng lớn, liên quan đến 19 tiêu chí khác nhau, trong khi vấn đề di cư và đặc biệt là tái định cư chỉ bao gồm một bộ phận nhỏ dân số, liên quan đến một số lĩnh vực chuyên biệt, do vậy việc xác lập các mối quan hệ tương tác trên nhiều lĩnh vực thật sự là một thách thức lớn Những vấn đề trên cần được lưu ý khi khái quát hoá các kết quả nghiên cứu
Trang 3030
5 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH
5.1 PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRONG BỐI CẢNH CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU
QUỐC GIA VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Được xác định là một trong bốn chương trình đột phá của tỉnh, Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Long An đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nông thôn Theo đánh giá của Chi cục Phát triển nông thôn, cho đến nay bình quân toàn tỉnh đạt 12,5 tiêu chí, tăng gấp đôi so với đầu năm 2011 khi bắt đầu triển khai Chương trình3
5.1.1 Phát triển nông thôn nhìn từ những thay đổi của cộng đồng
Để đánh giá các kết quả mà Chương trình xây dựng nông thôn mới mang lại từ quan điểm của người thụ hưởng, chúng tôi hỏi người dân về những thay đổi theo hướng tích cực hay tiêu cực đối với các lĩnh vực liên quan đến cuộc sống của họ
và những trải nghiệm mà họ có được trong 5 năm qua Các lĩnh vực này rất phù hợp với 19 tiêu chí của Chương trình xây dựng nông thôn mới Thang điểm đánh giá được gán theo 5 mức: -2 nếu kém hơn trước nhiều; -1 nếu kém hơn trước chút ít, 0 nếu không có thay đổi, 1 nếu tốt hơn trước chút ít, 2 nếu tốt hơn trước nhiều
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, điểm số trung bình trên 29 lĩnh vực được hỏi ở Mỹ Lạc
là 0,9 và ở Bình Hòa Nam là 1,1 Trừ “số người đến làm ăn tại xã” có giá trị âm ở
Mỹ Lạc, tất cả các giá trị còn lại đều dương Điều này cho thấy Chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những thay đổi tích cực trên nhiều phương diện Các lĩnh vực có chỉ báo thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ nhất là đường giao thông trong ấp, trong xã, cơ sở vật chất trường học, nhà trẻ, cung cấp điện, nước, nhà văn hóa, chợ, qui hoạch khu dân cư Các lĩnh vực này là thành quả trực tiếp của các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở nông thôn mà Chương trình xây dựng nông thôn mới xác định là mục tiêu ưu tiên hàng đầu
3 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí với các tiêu chuẩn theo quy định: (1) Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, (2) Giao thông, (3) Thuỷ lợi, (4) Điện, (5) Trường học, (6) Cơ sở vật chất văn hoá, (7) Chợ nông thôn, (8) Bưu điện, (9) Nhà ở dân cư, (10) Thu nhập, (11) Hộ nghèo, (12) Cơ cấu lao động, (13) Hình thức tổ chức sản xuất, (14) Giáo dục, (15) Y tế, (16) Văn hoá, (17) Môi trường, (18) Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, (19) An ninh, trật tự xã hội được giữ vững Xem thêm Quyết định số 1280/QD- UBND ngày 12/4/2013 về việc ban hành Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới tỉnh Long An
Trang 3131
Nhóm lĩnh vực thứ hai liên quan đến mối quan hệ giữa cán bộ với người dân, giữa người dân với nhau và sự tham gia của họ vào các hoạt động chung Các kết quả cho thấy các thay đổi theo hướng tích cực nhưng mạnh mẽ hơn ở Bình Hòa Nam Các dữ liệu định tính của chúng tôi cũng cho thấy sự hợp tác giữa các hộ dân và sự tham gia của họ vào việc làm đê bao sản xuất và làm đường giao thông nội bộ rất tích cực và phổ biến
Nhóm lĩnh vực thứ ba liên quan đến việc làm và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, thương mại-dịch vụ và CN-TTCN Tất cả các chỉ báo đều cho thấy sự tăng lên nhưng với mức độ thấp ở Mỹ Lạc và cao hơn đáng kể ở Bình Hòa Nam, đặc biệt là thu nhập từ nông nghiệp
Nhóm lĩnh vực thứ tư liên quan đến các động thái dân số Số người đi làm ăn ở nơi khác tăng cao nhưng số người đến làm ăn tại xã tăng ít ở Bình Hòa Nam và giảm ở Mỹ Lạc Như sẽ được phân tích ở phần sau, quá trình phát triển nông thôn làm gia tăng tính di động xã hội, mở ra nhiều cơ hội cho người dân đi làm ăn ở nơi khác Sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên chuyên canh lúa ở Mỹ Lạc ngày càng hấp thụ ít lao động, trong khi đó sự phát triển nghề trồng chanh và cây lâu năm khác ở các khu vực phèn, mặn rộng lớn ở Bình Hòa Nam đang thu hút một
bộ phận lao động tại chỗ và từ các nơi khác đến Do vậy, dù cho đến nay Mỹ Lạc đạt được nhiều tiêu chí hơn (16/19 tiêu chí so với 12/19 tiêu chí) nhưng Bình Hòa Nam từ xuất phát điểm thấp hơn đang tạo ra những hiệu ứng thay đổi mạnh mẽ hơn
Bảng 3: Đánh giá của người dân về sự thay đổi ở địa phương: 2009-2014
Chất lượng khám chữa bệnh của trạm y tế xã 0.9 1.0
Cơ sở vật chất trường mẫu giáo, nhà trẻ 1.2 1.2
Trang 3232
Tính công khai, minh bạch trước dân 0.9 1.2
Việc làm từ buôn bán dịch vụ tại xã 0.6 1.3
Thu nhập từ buôn bán dịch vụ tại xã 0.6 1.1
5.1.1.2 Phát triển nông thôn nhìn từ những thay đổi của hộ gia đình
Chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những thay đổi tích cực đối với cuộc sống của hộ gia đình, thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu là chất lượng nhà ở, nhà vệ sinh, điện, nước sạch, xử lý rác, và thu nhập
Về nhà ở, có sự cải thiện rõ rệt về chất lượng nhà ở của hộ gia đình ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam từ 2009 đến nay Tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố đã tăng lên rõ rệt, từ 10% lên 17% và từ 55% lên 68,5% tương ứng ở Mỹ Lạc, từ 2% lên 7,5% và
từ 47,5% lên 74% tương ứng ở Bình Hoà Nam Tỷ lệ nhà ở tạm bợ đã giảm mạnh, đặc biệt là ở Bình Hoà Nam
Trang 3333
Hình 1: Sự thay đổi chất lượng nhà ở của hộ gia đình: 2009-2014
Về nhà vệ sinh, mặc dù có sự chuyển biến nhưng nhà vệ sinh trên ao vẫn là phổ biến dù mức độ có thấp hơn ở Mỹ Lạc Tỷ lệ nhà vệ sinh trên ao đã giảm từ 80,5% xuống 52% ở Mỹ Lạc và từ 86,5% xuống 69% ở Bình Hoà Nam Tương ứng, tỷ lệ nhà vệ sinh dội nước cũng tăng từ 9,5% lên 35,5% ở Mỹ Lạc và từ 5,5% lên 15,5%
ở Bình Hoà Nam Vẫn còn một tỷ lệ nhỏ chưa có nhà vệ sinh và chưa có thay đổi đáng kể so với trước đây Nhà vệ sinh là một trong số những hạn chế cần được quan tâm trong thời gian tới
Hình 2: Sự thay đổi loại nhà vệ sinh của hộ gia đình: 2009-2014
Về sử dụng điện, ít có sự thay đổi về tỷ lệ hộ sử dụng điện ở Mỹ Lạc vì điện đã được sử dụng phổ biến từ lâu ở đây, nhưng có sự thay đổi rất lớn ở Bình Hoà Nam khi tỷ lệ hộ dùng đèn dầu đã giảm mạnh từ 16% năm 2009 xuống chỉ còn 0,5% năm 2004 Sự thay đổi quan trọng đem lại tiện ích cho hộ gia đình ở cả hai
xã chính là từ sử dụng đồng hồ điện chung cho nhiều hộ sang sử dụng đồng riêng
Trang 3434
cho từng hộ Tỷ lệ hộ sử dụng đồng hồ điện riêng từ 48,5% lên 89,5% ở Mỹ Lạc và
từ 59,5% lên 83,5% ở Bình Hoà Nam
Hình 3: Sự thay đổi về sử dụng điện của hộ gia đình: 2009-2014
Về nước uống, tỷ lệ hộ sử dụng nước đường ống và nước giếng khoan tăng lên vừa phải, đồng thời với tỷ lệ hộ sử dụng nước mưa và nước ao hồ giảm Nguồn nước đường ống liên quan đến các dự án cung cấp nước sạch của Chương trình xây dựng nông thôn mới trong khi nguồn nước giếng khoan thường là nỗ lực tự thân của hộ gia đình Một tỷ lệ nhỏ hộ gia đình cũng bắt đầu sử dụng nguồn nước đóng bình Các thay đổi trên cho thấy các dự án công nhằm cung cấp nước sạch nông thôn còn hạn chế, đặc biệt là ở Bình Hoà Nam, nơi mà tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước này chỉ mới 1,5% năm 2009 và 4% năm 2014
Hình 4: Sự thay đổi về nguồn nước uống của hộ gia đình: 2009-2014
Về cách xử lý rác, ít có sự thay đổi trong 5 năm trở lại đây Tuyệt đại đa số hộ gia đình nông thôn sử dụng cách chôn, đốt rác Tỷ lệ hộ sử dụng xe thu gom rác chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng có tăng lên, từ 2,5% lên 5% ở Mỹ Lạc và từ 0,5%
Trang 3535
lên 2,5% ở Bình Hoà Nam Những hộ này thường là ở những khu vực dân cư mới qui hoạch, bao gồm các cụm, tuyến dân cư vượt lũ Tuy nhiên, các ý kiến của người dân cũng ghi nhận tình trạng vứt bao bì thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng và kênh rạch vẫn còn phổ biến và gây hại cho môi trường
Hình 5: Sự thay đổi về cách xử lý rác của hộ gia đình: 2009-2014
Về mức sống, đa số hộ gia đình đều cho rằng mức sống của họ khá hơn, một tỷ lệ đáng kể không có sự thay đổi và chỉ một tỷ lệ nhỏ có mức sống kém hơn so với 5 năm trước Cụ thể, 10,5%-13,6% số hộ có mức sống khá hơn nhiều, 56,3%-57,5%
số hộ có mức sống khá hơn chút đỉnh, 24,6%-26% có mức sống như cũ, và chỉ 5,5%-6% số hộ có mức sống kém hơn trước
Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng khắp có tác động rất quan trọng đối với các thay đổi trên của xã hội nông thôn trong thời gian qua
Hình 6: Đánh giá của hộ gia đình về mức sống hiện nay so với 5 năm trước
Trang 3636
5.2 DI CƯ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
5.2.1 Đặc điểm di cư lao động nông thôn-thành thị
5.2.1.1 Đặc điểm của lao động di cư
Trong tổng số 400 hộ gia đình có lao động đang di cư nông thôn-thành thị hoặc di
cư trở về từ 2004 đến nay4 tại Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam bao gồm 1827 nhân khẩu Tỷ lệ lao động đang di cư chiếm 30,6% và 33,9% số người trong hộ; tỷ lệ lao động di cư trở về chiếm 5% và 8.9% số người trong hộ tương ứng ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam Tính chung, mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động di cư trong 4,6 nhân khẩu bình quân/hộ và khoảng 1/4 số hộ có lao động di cư trở về Có thể thấy mức độ di cư khá phổ biến, nhưng di cư trở về ở Bình Hoà Nam cao hơn so với
4 Lao động đang di cư và lao động di cư trở về trong nghiên cứu này chỉ bao gồm những lao động di cư đến các khu vực thành thị và các khu công nghiệp, không bao gồm những người di cư nông thôn-nông thôn và những dạng di cư khác Để ngắn gọn, khi dùng thuật ngữ “lao động di cư” chúng tôi hàm ý “lao động di cư nông thôn-thành thị”
Trang 3737
việc trong các lĩnh vực thương mại-dịch vụ và khác chiếm tỷ lệ thấp Tương ứng với các lĩnh vực việc làm, có đến 60% và 72,2% lao động di cư ở Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam làm việc trong phạm vi xã trước khi di cư Các khu vực thành thị trong tỉnh và TPHCM là nơi mà một bộ phận đáng kể lao động di cư đã từng làm việc trong lần di cư trước đây Một đặc điểm đáng lưu ý là khoảng gần một nửa là tự làm cho mình (47% ở Mỹ Lạc và 49,4% ở Bình Hoà Nam), chủ yếu là các hộ nông nghiệp, nhưng có đến 31,3% ở Mỹ Lạc và 24,1% ở Bình Hoà Nam là làm cho doanh nghiệp Đây là những người đã từng di cư trước đây và tỷ lệ cao hơn hẳn ở
Mỹ Lạc cũng cho thấy quá trình di cư nông thôn-thành thị ở Mỹ Lạc diễn ra sớm hơn so với Bình Hoà Nam Một tỷ lệ đáng kể (11,2% ở Mỹ Lạc và 22,8% ở Bình Hoà Nam) là đi làm mướn (cả trong nông nghiệp và phi nông nghiệp), một dạng kiếm sống rất phổ biến ở nông thôn ĐBSCL
Bảng 5: Đặc điểm của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay
Trang 3939
đây là kết quả trực tiếp của các dự án xây dựng đường giao thông nông thôn tại hai xã trên Ngoài ra, cũng khoảng 9,9%-20,4% lao động di cư ở lại và đi về thăm nhà hàng tuần Sự thay đổi của các loại hình di cư này có có những hàm ý quan trọng về tác động của phát triển nông thôn đối với di cư sẽ được phân tích ở phần sau
Hình 7: Loại hình di cư của lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay
5.2.1.3 Qui mô của lao động di cư
Số lượng di cư đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là từ năm 2005 đến nay kể cả đối với những người di cư lần đầu và di cư lần gần đây nhất Những người đã di
cư trong giai đoạn 2005-2009 chiếm khoảng 1/3 và trong giai đoạn 2010-2014 chiếm khoảng một nửa số trong tổng số người di cư Sự tăng lên này khá tương đồng giữa hai xã, và di cư lần gần đây trong giai đoạn 2010-2014 cao hơn hẳn so với di cư lần đầu trong cùng thời kỳ Điều này cho thấy có những yếu tố thúc đẩy quá trình tăng nhanh lao động di cư nông thôn - thành thị, đặc biệt là trong 5 năm trở lại đây
Hình 8: Tỷ lệ lao động đang di cư và di cư trở về từ 2004 đến nay phân theo năm
di cư lần đầu (trái) và lần gần đây nhất
Trang 4040
Tuổi bình quân khi bắt đầu di cư cũng tăng lên rõ rệt theo các giai đoạn 5 năm từ trước năm 2000 đến nay ở cả Mỹ Lạc và Bình Hoà Nam, cả lần di cư đầu tiên và lần di cư gần đây Điều này cho thấy nhiều người có độ tuổi cao hơn càng tham gia ngày càng nhiều hơn vào quá trình di cư nông thôn – thành thị và do vậy đã làm tăng tuổi bình quân khi di cư Tuổi di cư lần đầu ở Mỹ Lạc là 24,7 và ở Bình Hoà Nam là 22,2 trong khi tuổi di cư lần gần đây nhất là 25,6 và 23,0 tương ứng
Ghi chú: Số người di cư trước năm 2000 chỉ có vài trường hợp
Hình 9: Tuổi trung bình khi di cư qua các giai đoạn của lao động di cư lần đầu (trái) và lần gần đây nhất
5.2.1.4 Nơi đến của lao động di cư
TPHCM là các khu vực thành thị/khu công nghiệp (TT/KCN) trong tỉnh là nơi đến chủ yếu của hầu hết lao động di cư Các khu vực TT/KCN trong huyện còn đóng vai trò rất khiêm tốn vì thị trấn Thủ Thừa và thị trấn Đông Thành không phải là các trung tâm công nghiệp Các nơi khác đều không thu hút đáng kể các dòng lao động di cư này
Tuy nhiên, phân tích các dòng lao động di cư theo thời gian sẽ thấy có sự chuyển đổi đáng chú ý về nơi đến: Nếu ở lần di cư đầu tiên TPHCM thu hút nhiều hơn các khu vực TT/KCN trong tỉnh, thì ở lần di cư gần đây đã xuất hiện xu hướng ngược lại: Tỷ lệ đến các khu vực TT/KCN trong tỉnh đã tăng lên cao hơn so với TPHCM Huyện Thủ Thừa có mức phát triển kinh tế cao hơn nên cũng thu hút nhiều hơn lao động di cư so với huyện Đức Huệ Đặc biệt, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá mạnh mẽ cùng với các KCN lớn đang mọc lên ở các huyện ven TPHCM như Đức Hoà cũng làm số lao động từ Bình Hoà Nam (huyện Đức Huệ giáp với huyện
Đức Hoà) đến các khu vực TT/KCN trong tỉnh tăng nhanh hơn so với Mỹ Lạc