Đã có không ít công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở các ngành học, cấp học,các nghiên cứu về phương thức dạy học khác nhau tuy nhiên việc nghiên cứu quản lý hoạt động dạy
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ 21, phát triển giáo dục đại học đặt ra yêu cầu lớn đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đào tạo mở và từ xa là giải pháp toàn cầu, là hình thức giáo dục có triển vọng nhất của thế kỷ 21 và
là phương thức hỗ trợ việc xã hội học tập, là công cụ để học tập suốt đời.Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đẩy mạnh phát triển giáo dục từ xa với mục tiêu nhằm mở cơ hội học tập cho mọi người với chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng với nhiều loại hình đào tạo, đa ngành, đa cấp độ, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế
Phương thức đào tạo E-Learning (Electronic Learning) là phương thức đào tạo dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ truyền thông thông tin, ứng dụng E- Learning vào đào tạo trở thành xu thế phát triển của thế giới nhất là đối với cộng đồng giáo dục mở và từ xa Phương pháp học tập này đang làm thay đổi ngành giáo dục thế giới từ tổ chức, quản lý đào tạo đến xây dựng bài giảng, hỗ trợ người học Mặc dù có những cách tiếp cận rất khác nhau, nhưng hầu hết các cơ sở đào tạo mở và từ xa đều đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực này
Với việc ứng dụng công nghệ truyền thông thông tin trong đào tạo, phương thức đào tạo E-Learning đã mang lại những ưu điểm như:
Linh hoạt, dễ tiếp cận, thuận tiện và hướng tới người học: Người học
có thể học tập chủ động về thời gian, về nội dung học tập, về khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhận, về cách thức thu nhận kiến thức sao cho phù hợp với bản thân mỗi người mà không phải đến trường lớp
Là phương thức đào tạo mang tính toàn cầu: với sự phát triển của
Internet, không có ranh giới cụ thể giữa các quốc gia trên hệ thống mạng, người học và người dạy có thể đến từ bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
Nội dung học tập phong phú đa dạng, dễ dàng cập nhật giúp người học
có thể tiếp cận được những tri thức mới, thường xuyên thu thập tri thức, cho phép người học học hỏi lẫn nhau
Tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại của người học và người dạy khi phải
di chuyển đến trường lớp
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cơ sở giáo dục đào tạo bắt đầu triển khai phương thức đào tạo E-Learning Tùy theo mức độ ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông trong đào tạo, mức độ đầu tư về học liệu điện tử và mục đích đào tạo mà việc triển khai phương thức đào tạo E-Learning ở mỗi
cơ sở đào tạo hiện nay có sự khác nhau Các cơ sở đào tạo phần lớn triển khai phương thức đào tạo E-Learning để đào tạo các khóa ngắn hạn hay để hỗ trợ cho hệ đào tạo chính qui Các đơn vị thực hiện theo mô hình hỗ trợ cho hệ
Trang 2đào tạo chính qui chủ yếu đáp ứng nhu cầu theo dõi học liệu của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội trong những năm qua đã đi đầu triển khai đào tạo
từ xa theo phương thức đào tạo mới này Tuy nhiên để triển khai Viện phải thuê hệ thống công nghệ từ đơn vị bên ngoài, đến cuối năm 2013 Viện chính thức hoàn thành bước đầu hệ thống công nghệ quản lý đào tạo trực tuyến và bắt đầu ứng dụng cho khóa đào tạo đầu tiên
Đã có không ít công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở các ngành học, cấp học,các nghiên cứu về phương thức dạy học khác nhau tuy nhiên việc nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning thì hầu như còn rất ít được quan tâm
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở
Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
- Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập các tài liệu liên quan đến hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning và quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
Trang 3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đề tài sử dụng các phiếu khảo sát lấy ý kiến của sinh viên,giảng viên,cán bộ quản lý về hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning.Các đối tượng tham gia khảo sát đều tham gia học và làm làm việc tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Phương pháp dự báo về xu thế phát triển hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội, trong nước
và trên thế giới
Tổng kết, lấy ý kiến chuyên gia … để đề xuất,khắc phục và cải tiến vấn
đề nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứutạiViện Đại học Mở Hà Nội
- Đề tài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội trên các mặt: Giảng dạy, học tập, hệ thống công nghệ, quản
lý đào tạo, học liệu
7 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và sử dụng đồng bộ các biện pháp hoàn thiện hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning phù hợp với thực tiễn thì hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo đó sẽ được quản lý một cách chặt chẽ,toàn diện theo đúng quy chế về đào tạo từ xa
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo phương
thức đào tạo E-Learning
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo phương thức
đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện quản lý hoạt động dạy học theo
phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO E-LEARNING
Nội dung chương 1 chúng tôi trình bày về cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning.Cụ thể như sau:
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
1.1.2 Tại Việt Nam
1.2 Các vấn đề cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Các khái niêm cơ bản
ở tầm vĩ mô là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo các nội dung quản lý quy định tại Điều 99 - Luật Giáo dục 2005, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường, quản lý của trưởng Khoa, trưởng Bộ môn v.v Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ giảng viên và học sinh sinh viên là đối tượng quản lý quan trọng nhất
Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến giảng viên, học sinh, vào các nguồn lực, các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến đến mục tiêu giáo dục
Quản lý quá trình dạy học
Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản - hoạt động dạy và hoạt động học Là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giảng viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học Hoạt động dạy của người giảng viên là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức Hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin thành tri thức của bản thân
Trang 5Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý là hoạt động dạy học đến đối tượng của hoạt động dạy học bằng cách phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý như định chế giáo dục đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, thông tin và môi trường dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lý dạy học Quản lý QTDH cần phải đồng bộ và thống nhất các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu dạy học
Chất lượng dạy học
Chất lượng
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa một cách cụ thể, thông thường được đánh giá cả bằng định lượng và định tính về một sự vật, hiện tượng Chất lượng còn được xem là tập hợp các thuộc tính khác nhau như sự xuất sắc, sự hoàn hảo, sự phù hợp với mục tiêu v.v
Chất lượng giáo dục
Thuật ngữ “chất lượng giáo dục” cũng đã và đang được định nghĩa khác nhau Theo Quyết định số 66/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Chất lượng giáo dục … là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục …, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
và của ngành” Tác giả Nguyễn Đức Chính quan niệm rằng “Chất lượng giáo dục được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn”
Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học là chất lượng của hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó người thầy phát huy tối đa năng lực truyền đạt tri thức còn học sinh tiếp thu hiệu quả tri thức ấy để trau dồi phẩm chất, năng lực, kỹ năng, kỹ xảo đáp ứng được yêu cầu của xã hội Chất lượng dạy được quy định bởi các công việc của người thầy như chuẩn bị giáo án, thực hiện giáo án, đánh giá kết quả và điều chỉnh phương pháp dạy Chất lượng học là kết quả học tập của học sinh như chuẩn bị bài học ở nhà, tiếp thu kiến thức ở trên lớp, tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh phương pháp học của bản thân CLDH liên quan chặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Như vậy CLDH được xem là có chất lượng cao nếu sẩn phẩm của dạy học đáp ứng tốt nhất các mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt
ra đối với giáo dục đào tạo
1.2.2 Dạy học từ xa truyền thống
Có nhiều thuật ngữ liên quan và có ý nghĩa tương tự về đào tạo từ xa nhưng cho dù với khái niệm nào thì bản chất quá trình dạy và học phải bao hàm yếu tố có sự tách biệt, ngăn cách về mặt không gian và thời gian
Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian
Trang 61.2.3 Dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
Có thể thấy khái niệm dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning có nhiều cách định nghĩa khác nhau và có nhiều thuật ngữ liên quan nhưng đều
đề cập tới mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học thông qua các phương tiện CNTT&TT nhằm xây dựng nên QTDH ứng dụng PPDH mới Một PPDH đáp ứng được sự đa dạng hoá các nhu cầu học tập và sự tăng nhanh về số lượng người học Tuy nhiên E-Learning không thể thay thế hoàn toàn PPDH truyền thống Chúng ta phải biết kết hợp cả hai phương pháp dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning và dạy học truyền thống để có thể mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất
1.3 Đặc điểm của quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
1.3.1 Đặc điểm của dạy học theo phương thức E-Learning
Được xem là một phương thức dạy học mới, bổ sung và hỗ trợ đắc lực cho các phương thức dạy học truyền thống, tạo thêm cơ hội học tập cho đông đảo đối tượng học, dạy học trực trực tuyến có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông như công nghệ mạng máy tính, kỹ thuật đồ hoạ, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán v.v
- Hiệu quả của E-learning cao hơn so với phương thức dạy học truyền thống do có tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện, diễn đàn trao đổi thông tin
- Nội dung học tập đa dạng, sinh động phù hợp với khả năng và sở trường của từng người
- Môi trường học tập linh hoạt về thời gian, không gian tổ chức
- Một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức, đang được phát triển rộng rãi và thu hút được sự quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới
1.3.2 Đặc điểm của quản lý dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
Quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning có một số đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất là quản lý dựa trên các trang thiết bị và công nghệ kỹ thuật Như đã đề cập ở trên, dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning dựa trên các trang thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông do vậy để quản lý được hoạt động này cũng cần phải dựa trên các phương tiện kỹ thuật đó
Thứ hai là quản lý theo phân quyền truy cập hệ thống Nhờ các chức năng phân quyền người dùng trên hệ thống, các tài khoản quản trị có quyền phân quyền, giám sát các hoạt động và cắt quyền của tài khoản người dùng
Về mặt quản lý nội dung một khoá học bất kỳ trên hệ thống, tài khoản quản trị hoàn toàn có thể “Thêm”, “Sửa”, “Xoá”, “Cập nhật” các dữ liệu liên quan đến người học, bài giảng, câu hỏi, đề thi, biểu mẫu báo cáo v.v…
Thứ ba là quản lý theo thời gian thực Mọi thao tác trên hệ thống đều
Trang 7được ghi lại và phản ánh theo thời gian của đồng hồ hệ thống Tuỳ theo phân quyền mà mỗi tài khoản người dùng có quyền kiểm tra, theo dõi lịch sử thao tác trên hệ thống của một hoặc nhiều tài khoản
Tóm lại, quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo Learning có một số đặc điểm ở trên nổi trội hơn so với quản lý dạy học truyền thống Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng chỉ lấy phương pháp quản lý này như là công cụ kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động dạy học để nâng cao hiệu quả quản lý Các nhà quản lý không bỏ qua các phương pháp quản lý truyền thống để duy ý chí theo phương pháp quản lý bằng thiết bị công nghệ
E-1.3.3 Vai trò và sự cần thiết của việc quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
Dạy học trực tuyến ngày càng trở nên quan trọng và đang dần làm thay đổi mô hình học tập, cách thức tiếp cận tri thức của nhiều đối tượng tiềm năng như học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay Nó đang làm cho việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục hơn
1.4 Nội dung quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo Learning
E-1.4.1 Lập kế hoạch
1.4.2 Tổ chức thực hiện
1.4.3 Chỉ đạo, lãnh đạo
1.4.4 Kiểm tra, giám sát
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning
1.5.1 Bối cảnh tác động đến sự phát triển của đào tạo đại học từ xa theo phương thức trực tuyến
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối
Trang 8hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Viện Đại học Mở Hà Nội, Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning ở Việt Nam
Tiếp thu và phát triển những kinh nghiệm, thành tựu quý báu của nhiều khóa học trực tuyến trên nhiều quốc gia, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong nước và xu hướng học tập hiện đại của người học, hiện nay ở các nước phát triển, việc học tập bằng phương pháp ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning rất phổ biến trong nhiều cấp học, bậc học, ngành học, đối tượng Đây cũng là xu hướng và cơ hội học tập hiệu quả, hiện đại, năng động của thế
kỉ XXI: người học có môi trường thuận lợi nhất để phát huy những thế mạnh;
có thể học bất cứ ngành nào, học bất kỳ nơi đâu, thời gian nào, chỉ cần máy tính kết nối với Internet
1.5.2 Yếu tố bên trong
* Xét về các đối tượng của hoạt động dạy học
- Nội dung dạy học: Nội dung học tập được phân chia thành các đối tượng tri thức riêng biệt theo từng lĩnh vực, ngành nghề rõ ràng Điều này giúp cho người học có thể lựa chọn những khóa học phù hợp với nhu cầu học tập của mình Người học có thể truy cập những đối tượng này qua các đường dẫn
đã được xác định trước, sau đó sẽ tự tạo cho mình các kế hoạch học tập, thực hành, hay sử dụng các phương tiện tìm kiếm để tìm ra các chủ đề theo yêu cầu Nội dung môn học được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng dẫn đến hiệu quả tiếp thu bài của người học được nâng lên vì có tài liệu mới nhất
- Phương pháp dạy học: Người học được tiếp cận một PPDH làm thay đổi vai trò của người học - vai trò trung tâm trong QTDH
- Người học: Hệ thống E-Learning hỗ trợ học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu tự lập nên người học có thể chọn phương pháp học thích hợp cho riêng mình, có thể chủ động thay đổi tốc độ học cho phù hợp với bản thân, giảm căng thẳng và tăng hiệu quả học tập Bên cạnh đó, khả năng tương tác, trao đổi với nhiều người khác cũng giúp việc học tập có hiệu quả hơn Người học có thể theo dõi quá trình và kết quả học tập của mình
- Giảng viên: Giảng viên có thể theo dõi quá trình học tập của sinh viên dễ dàng nhờ các dữ liệu thao tác trên hệ thống được tự động lưu lại trên máy chủ theo thời gian thực Giảng viên có thể đánh giá các sinh viên thông
Trang 9qua cách trả lời các câu hỏi kiểm tra, thời gian trả lời những câu hỏi đó, kết quả bài kiểm tra để đánh giá học lực của mỗi sinh viên Giảng viên chỉ cần xây dựng bài giảng điện tử một lần và có thể sử dụng trong dài hạn, trong khi giảm được thời gian lên lớp
- Tăng cường khả năng trao đổi giữa người dạy và người học: So với
từ xa theo hình thức truyền thống thì thời gian trao đổi giữa người dạy và người học chỉ được hạn chế trong thời gian buổi học Còn theo hình thức trực tuyến thì khả năng trao đổi giữa người dạy và người học thì diển ra thường xuyên bằng việc sử dụng Forum, H113 - hệ thống trả lời câu hỏi của học viên trong vòng 72h Học viên có thể đưa ra các câu hỏi cho giảng viên, hay đưa
ra các câu ý kiến để cùng trao đổi với các học viên có ý kiến cùng quan tâm Ngoài ra, thông qua diễn đàn, mọi người có thể đưa tài liệu liên quan đến bài giảng cho nhiều người tham khảo Thêm vào đó, E-Learning còn có tính phản hồi tức thì, cho phép người dạy và người học theo dõi quá trình đào tạo
* Xét về tính mục đích của hoạt động dạy học
- Tự định hướng: Người học tự chọn khóa học phù hợp nhất đối với trình độ, sở thích, mục tiêu của bản thân, hoặc một công ty có thể yêu cầu công ty cung cấp dịch vụ dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning thiết kế khóa học theo yêu cầu của công ty, theo định hướng hay theo nhu cầu kiến thức nhân viên
- Tự điều chỉnh: Người học có thể tự điều chỉnh, cân đối thời gian, thời lượng, khối lượng kiến thức, có thể học từ từ hay nhanh do thời gian mình tự sắp xếp hay do khả năng tiếp thu kiến thức của mình Hơn nữa, người học có thể lựa chọn nội dung học, thứ tự nội dung trong bài
- Linh hoạt: Từ khi đăng ký học đến lúc hoàn tất, người học có thể học theo thời gian biểu mình định ra, không bị gò bó bởi thời gian và không gian, nghĩa là người học có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ phương tiện kỹ thuật CNTT&TT Đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, xem lại những phần đã học, trao đổi linh hoạt với những người cùng học hoặc người dạy ngay trong quá trình học
- Đồng bộ: Đồng bộ giữa giáo trình và bài giảng điện tử trực tuyến
vì các bài giảng điện tử được xây dựng, mô phỏng và thiết kế dựa trên giáo trình sẵn có
- Phổ biến: E-learning thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia vào QTDH, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hoá thông tin, nhu cầu đào tạo ngày càng đa dạng và tăng lên quá tải so với khả năng của không ít cơ sở đào tạo Hơn nữa, nhu cầu học tập của các thế hệ đi trước vốn chưa được tiếp cận phương pháp mới này cũng làm gia tăng số lượng người HTTT
- Hiệu quả: Học trực tuyến giúp cá nhân người học và cơ sở đào tạo không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đáp ứng được nhu cầu của mình
Trang 101.5.3 Yếu tố bên ngoài
- Do PPDH truyền thống đã đi sâu vào tiềm thức của người dạy và người học nên việc áp dụng PPDH có sử dụng thiết bị công nghệ cao sẽ gây không ít khó khăn về cách học, dạy và tiếp cận ứng dụng các công nghệ mới
- Do môi trường học tập phân tán nên mối liên hệ gặp gỡ giữa giảng viên và sinh viên bị hạn chế, thông thường chỉ đạt được một mục đích dạy học là truyền đạt tri thức
- Giảng viên phải mất rất nhiều thời gian và công sức để soạn tài liệu, bài giảng cho phù hợp với phương thức học tập E-Learning Các bài giảng phải được kiểm duyệt rất chặt chẽ về logic nội dung, bố cục trình bày, tương tác âm thanh, hình ảnh và lời giảng v.v
- E-Learning được triển khai nhằm vào số đông đối tượng học mà không phải tất cả các đối tượng học cho cùng một nội dung, trong đó người học chắc chắn sẽ gặp phải sự khác biệt về tâm lý, văn hoá vùng miền nên chất lượng dạy học bị ảnh hưởng
- Đây là một ứng dụng công nghệ thông tin nên việc thay đổi cập nhật, nâng cấp hệ thống là tất yếu nên cơ sở đào tạo phải cân nhắc phương án đầu
tư nhằm đạt hiệu quả cao nhất Một số khó khăn khi triển khai hệ thống như tốc độ đường truyền, cấu hình máy chủ, máy trạm, giao diện tương tác, văn hoá, tiêu chuẩn áp dụng v.v
- Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức dạy học truyền thống, E-Learning cho phép giải quyết nhu cầu học tập của người học và nhu cầu đào tạo của người lao động tăng lên của các cơ sở đào tạo
Kết luận chương 1
Xu hướng về giáo dục của thế giới trong thế kỷ 21 chuyển từ mô hình tinh hoa sang mô hình giáo dục đại chúng, phục vụ cho số đông Tỷ lệ những người đã có một văn bằng theo học ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning ngày càng cao chứng tỏ tham gia học tập theo phương thức đào tạo E-Learning là cơ hội thuận lợi và phù hợp nhất cho số đông người có nhu cầu học tập nâng cao trình độ, học tập thường xuyên và suốt đời
Quản lý dạy học là hoạt động trọng tâm của trường đại học Quản lý để các thành tố cấu trúc của quá trình dạy- học vận động, hỗ trợ tích cực cho nhau thành một hệ toàn vẹn, việc quản lý được thông qua các hoạt động quản
lý và tự quản lý Đào tạo đại học theo phương thức ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Muốn nâng cao hiệu quả dạy học trước hết phải cải tiến công tác quản lý hoạt động dạy học
Ở chương 1 tối đã giới thiệu những thành tố cơ bản của thuật ngữ quản
lý hoạt động dạy học để chương 2 có thể khảo sát thực trạng quản lý dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Trang 11Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO E-LEARNING
TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trên cơ sở những khái niệm, thuật ngữ được nêu ở chương 1 thì chương 2 tôi sẽ trình bày về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo phương thức đào tạo E-Learning tại Viện Đại học Mở Hà Nội như một trường hợp điển hình
2.1 Quá trình hình thành và phát triển Viện Đại học mở Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Viện Đại học Mở Hà Nội
Viện Đại học Mở Hà Nội (VĐHMHN) được thành lập ngày 03/11/1993 theo Quyết định 535/TTg của Thủ tướng Chính phủ, là trường đại học công lập hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc gia do Bộ
Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý “Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cán bộ khoa học - kỹ thuật cho đất nước…” (trích Quyết định 535/TTg
ngày 03/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ)
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện Đại học mở Hà Nội
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện Đại học mở Hà Nội
Trang 122.1.3 Giới thiệu chung về Trung tâm Đào tạo E-Learning
Trung tâm Đào tạo trực tuyến (E-Learning) được thành lập ngày 28
tháng 7 năm 2009 (theo Quyết định số 306/QĐ-ĐHM-TC của Viện trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội) với chức năng nhiệm vụ là đơn vị trực tiếp triển
khai tổ chức đào tạo từ xa theo phương thức ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning cấp bằng tốt nghiệp Đại học
Thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học khác được Viện Đại học Mở Hà Nội giao
❖ Mục tiêu đào tạo
Mở cơ hội học tập cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi với phương thức học tập trực tuyến;
Cung cấp cho người học kiến thức chuyên môn theo Chương trình đào tạo hệ chính quy bằng phương pháp học trực tuyến;
Ứng dụng công nghệ ĐTTX theo phương thức đào tạo E-Learning hiện đại để triển khai đa dạng các hình thức học tập, trang bị môi trường học tập với đầy đủ công cụ hỗ trợ tự học;
Nâng cao hiệu quả học tập thông qua đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy trong đào tạo từ xa và đội ngũ hỗ trợ học tập thường xuyên hướng dẫn, tư vấn cung cấp thông tin trong quá trình học tập;
Nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu và sử dụng công nghệ thông tin, internet phục vụ học tập