1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu Luận Vai Trò Của Bảo Hiểm Xã Hội, Bảo Hiểm Tai Nạn, Bảo Hiểm Y Tế Ở Việt Nam Trong VIệc Đảm Bảo An Ninh Xã Hội Đối Với Người Lao Động Và Xã Hội

37 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 690,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH,BHYT,BHTN (9)
    • 1.1. Khái quát về hệ thống An Sinh Xã Hội (9)
      • 1.1.1. Hệ thống ưu đãi xã hội (9)
      • 1.1.2. Hệ thống bảo hiểm xã hội (9)
    • 1.2. Khái niệm,đặc điểm,phân loại BHXH,BHYT,BHTN (10)
      • 1.2.1. Khái niệm BHXH (11)
      • 1.2.2. Đặc điểm BHXH (11)
      • 1.2.3. Phân loại BHXH (12)
      • 1.2.4. Khái niệm BHYT (13)
      • 1.2.5. Đặc điểm BHYT (13)
      • 1.2.6. Phân loại BHYT (14)
      • 1.2.7. Khái niệm BHTN (14)
      • 1.2.8. Đặc điểm BHTN (15)
    • 1.3. Vai trò của BHXH,BHYT,BHTN trong việc đảm bảo an sinh Xã hội đối với người lao động và xã hội ở Việt Nam (15)
      • 1.3.1. Vai trò của BHXH,BHYT đối với an sinh xã hội (15)
      • 1.3.2. Vai trò của BHTN đối với an sinh xã hội (20)
    • 1.4. Quyền lợi của BHXH (20)
      • 1.4.1. Điều kiện được hưởng BHXH (20)
      • 1.4.2. Mức đóng bảo hiểm Xã hội bắt buộc của NLĐ (21)
      • 1.4.3. Mức đóng BHXH bắt buộc của NSDLĐ (21)
    • 1.5. Quyền lợi khi tham gia BHYT (21)
      • 1.5.1. Điều kiện hưởng BHYT (22)
      • 1.5.2. Mức hưởng BHYT (23)
    • 1.6. Quyền lợi khi tham gia BHTN (23)
      • 1.6.1. Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp (23)
      • 1.6.2. Mức lương tối thiểu vùng (24)
      • 1.6.3. Tỷ lệ đóng BHXH,BHYT,BHTN (24)
    • 2.1. Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do . 20 1.Các kết quả đạt được của BHXH (25)
      • 2.1.2. Những bất cập của chính sách và công tác thực hiện triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện (25)
      • 2.1.3. BHXH VN khẳng định vị trí quan trọng đảm bảo an sinh xã hội (26)
    • 2.2. Thực trạng tham gia BHTN của NLĐ ở Việt Nam (28)
      • 2.2.1. Những bật cập của BHTN ở Việt Nam (28)
      • 2.2.2. Bảng tỷ lệ NLĐ tham gia BHTN từ các doanh nghiệp 2014-2018 (3)
  • Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ,ĐỀ XUẤT VỀ CÁC CHÍNH SÁCH (30)
    • 3.1. Một số giải pháp về các chính sách của BHXH,BHYT,BHTN (30)
      • 3.1.1. Tăng cường phát triển đối tượng tham gia BHXH (30)
      • 3.1.2. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền (31)
    • 3.2. Một số kiến nghị về chính sách BHXH,BHYT,BHTN (31)
      • 3.2.1. Về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật (32)
      • 3.2.2. Về chế tài bảo đảm việc thực thi pháp luật BHXH, BHYT (32)
      • 3.2.3. Về thực hiện BHXH tự nguyện (32)
      • 3.2.4. Về chính sách BHTN (33)
  • KẾT LUẬN (34)
  • PHỤ LỤC (36)

Nội dung

Bảo đảm an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm thực hiện, nhất là trong tình hình hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta đang bị tác động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và có tính chia sẻ cộng đồng, thể hiện đường lối, chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với mục tiêu vì con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Nghị quyết số 21NQTW ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 2020, đã khẳng định chắc chắn quan điểm của Đảng coi “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội”

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH,BHYT,BHTN

Khái quát về hệ thống An Sinh Xã Hội

Căn cứ bản chất của an sinh xã hội cũng như phạm vi hoạt động của lĩnh vực này trong nhiều năm qua ở Việt Nam, có thể thấy hệ thống an sinh xã hội bao gồm 3 hệ thống cấu thành sau:

1.1.1 Hệ thống ưu đãi xã hội

Hệ thống này hoàn toàn dựa vào các chế độ phúc lợi từ ngân sách nhà nước Người nhận được các quyền lợi này do Nhà nước quy định và không đòi hỏi sự đóng góp hay điều kiện vật chất đối lại, mà dựa vào sự cống hiến của họ đối với đất nước như chiến đấu dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, phòng, chống tội phạm ở nước ta, chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là chính sách ưu đãi xã hội, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội và nhân văn sâu sắc Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã góp phần chăm lo, cải thiện đời sống của hàng triệu người, góp phần ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới

- Hệ thống bảo trợ xã hội

Hệ thống này cũng dựa vào nguồn ngân sách nhà nước là chính Đây cũng là một kênh phân phối lại thu nhập quốc dân cho từng nhóm đối tượng gắn với những điều kiện nhất định hoặc trong những trường hợp cấp bách nhất định những khoản trợ giúp hoặc hỗ trợ bằng hiện vật và bằng tiền, không xem xét đến sự đóng góp trước đó mà chỉ cần kiểm tra về những khó khăn và nhu cầu thiết yếu của người gặp rủi ro khi bản thân họ không tự lo được cuộc sống tối thiểu hay sức lực của họ không thể vượt qua những rủi ro đó Bảo trợ xã hội được coi là “lưới đỡ cuối cùng” trong hệ thống mạng lưới an sinh xã hội Hoạt động bảo trợ xã hội trong những năm gần đây đã thực hiện tốt hai chức năng cơ bản: cứu trợ và trợ giúp phát triển

Nguồn tài chính của hệ thống này rất đa dạng và phong phú, ngoài nguồn chính từ ngân sách nhà nước, còn huy động từ sự đóng góp, quyên góp của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức thể hiện truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái của dân tộc ta

1.1.2 Hệ thống bảo hiểm xã hội

Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Theo phương thức đó, người lao động phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới được quyền lợi BHXH Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro (thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờ cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất)

Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện

Còn thực chất của BHYT là chế độ khám chữa bệnh nằm trong chính sách BHXH, nhưng do lịch sử hình thành và phát triển ở nước ta có sự khác biệt và theo thói quen nên chúng ta thường gọi là chính sách BHYT Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng chia sẻ sâu sắc được áp dụng trong lĩnh vực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế (Luật này đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14-11-2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2009)

Hệ thống an sinh xã hội là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp, bao trùm toàn bộ dân cư của một quốc gia Hệ thống này có mục tiêu bảo vệ mọi thành viên trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt Tuy nhiên, trong hệ thống an sinh xã hội thì hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Khái niệm,đặc điểm,phân loại BHXH,BHYT,BHTN

Trong hoạt động của đời sống của con người cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những khó khăn thường gặp phải con người có thể dự báo trước và cũng có thể tính toán bằng khoa học, thì con người luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra Ngoài ra, muốn thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc ở…, con người phải lao động, nghiên cứu làm ra những sản phẩm cần thiết để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hoạt tối thiểu của gia đình Những bất trắc, rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội đem đến cho con người những tổn thất và những hậu quả vô cùng to lớn cả về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần như ốm đau, tai nạn, già yếu hoặc không có công việc làm do ảnh hưởng của tự nhiên, do ảnh hưởng của các tác nhân xã hội khác Do vậy muốn tồn tại, con người phải tìm ra nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự bản thân mỗi người tự khắc phục thì NLĐ phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội Nhằm đảm bảo an toàn nguồn quỹ và giúp cho NLĐ an tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hoạt động bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả để ổn định và phát triền kinh tế xã hội nói chung và là công cụ quan trọng để khắc phục những hậu quả do rủi ro xảy ra trong đời sống xã hội

Theo khoản 1 điều 3 luật bảo hiểm xã hội năm 2014

Bảo hiểm xã hội là hệ thống bảo đảm tài chính cho người lao động, có nhiệm vụ thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Hệ thống này được hình thành trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm duy trì cuộc sống và bảo đảm quyền lợi trước các rủi ro liên quan đến lao động.

Bảo hiểm xã hội thường có những đặc điểm cơ bản như sau:

-Một là, bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động: Nghĩa là, khi tham gia vào hệ thống BHXH, NLĐ sẽ được BHXH trợ cấp cho đến lúc chết Khi còn làm việc, NLĐ được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con, người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động, khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được tiền chôn cất và gia đình được hưởng

7 trợ cấp tuất… Đây là đặc trưng riêng của BHXH mà không một loại hình bảo hiểm nào có được

-Hai là, các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của NLĐ trong BHXH liên quan đến thu nhập của họ Bao gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết… Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng, dẫn đến họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Vì vậy, người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH Đây là đặc trưng rất cơ bản của BHXH

-Ba là, NLĐ khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH: Tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH NSDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ

Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, gồm người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Nhà nước, là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH Ngoài ra, nguồn thu của quỹ BHXH còn có các nguồn hợp pháp khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH (mang tính an toàn) và khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định pháp luật.

-Năm là, các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định

Bảo hiểm xã hội bao gồm 2 loại là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là BHXH do Nhà nước tổ chức và bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ:

-Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn phương thức và mức đóng phù hợp với thu nhập của mình Nhà nước có chính sách hỗ trợ người tham gia đóng tiền BHXH để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất

Trong những năm qua, nước ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới cơ chế kinh tế là rất cần thiết song phải gắn liền với sự đổi mới các chính sách khác có liên quan trong đó có chính sách xã hội để phát triển một xã hội công bằng văn minh Việc phát triển nền kinh tế thị trường đã dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, có một số bộ phận dân cư có thu nhập khá cao trong khi đó còn không ít người vẫn trong hoàn cảnh thiếu thốn Ngân sách Nhà nước cũng khó đáp ứng được sự bao cấp về chăm sóc sức khoẻ cho mọi tầng lớp dân cư Do đó đòi hỏi phải có giải pháp trong chính sách xã hội, trong lĩnh vực y tế để tạo sự công bằng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Ở nước ta, BHYT là một chính sách xã hội được triển khai từ năm 1992, là một đổi mới, một giải pháp cơ bản trước mắt cũng như lâu dài trong công tác chăm sóc sức khoẻ, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo

Theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014:

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng cho các đối tượng theo quy định của Luật này nhằm chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,… nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau.”

Bảo hiểm y tế có những đặc điểm nổi bật: đối tượng tham gia rộng nhất, khiến hệ thống BHYT trở nên phức tạp nhất và đòi hỏi quản lý chặt chẽ Nếu được thực hiện đúng cách, BHYT dựa trên quy luật lấy số đông bù số ít, có nghĩa là nguồn lực của đông đảo người đóng góp được dùng để chi trả cho các chi phí y tế ở nhóm nhỏ người có chi phí cao Quy luật này là nền tảng của cơ chế bảo hiểm y tế, giúp cân bằng chi phí và đảm bảo sự bền vững của quỹ, đồng thời mở rộng quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho đại đa số người dân.

9 hiểm nói chung và BHYT nói riêng là vô cùng quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại hay không tồn tại của bảo hiểm Nếu quy luật này được đảm bảo nó sẽ là một trong những nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bảo hiểm nói chung và

BHYT nói riêng Và ngược lại nếu quy luật này không được bảo đảm thì chắc chắn bảo hiểm sẽ không hoạt động được

Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm mang tính chất nhân đạo, nó đáp ứng được những nhu cầu chăm sóc sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao đối với đại bộ phận dân cư Với BHYT mọi người sẽ bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh Đây là đặc trưng ưu Việt thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của BHYT, tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội

Việc triển khai BHYT liên quan chặt chẽ đến toàn bộ ngành y tế kể cả những y bác sỹ, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ chế hoạt động của ngành y tế Bởi vì người tham gia bảo hiểm đóng tiền BHYT cho cơ quan BHYT nhưng cơ quan BHYT không trực tiếp đứng ra tổ chức khám chữa bệnh cho người được BHYT khi họ không may gặp phải rủi ro ốm đau bệnh tật mà cơ quan BHYT chỉ là trung gian thanh tốn chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia thông qua hợp đồng khám chữa bệnh với các cơ sở y tế Bảo hiểm y tế góp phần cùng với các loại hình bảo hiểm con người khác khắc phục nhanh chóng những hậu quả xảy ra đối với con người Vì vậy nó luôn được Chính phủ các nước quan tâm

Bảo hiểm y tế đóng góp vào việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị, đồng thời thúc đẩy nâng cấp cơ sở y tế và hạ tầng y tế Nhờ đó, chất lượng phục vụ của ngành y tế được cải thiện liên tục, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

Bảo hiểm y tế có hai loại là: Bảo hiểm y tế bắt buộc và Bảo hiểm y tế tự nguyện

Vai trò của BHXH,BHYT,BHTN trong việc đảm bảo an sinh Xã hội đối với người lao động và xã hội ở Việt Nam

người lao động và xã hội ở Việt Nam

1.3.1 Vai trò của BHXH,BHYT đối với an sinh xã hội

Thứ nhất, thực hiện chính sách BHXH, BHYT nhằm ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh

11 nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm

Theo phương thức BHXH, BHYT, người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ người lao động khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ Do vậy, hoạt động BHXH, BHYT, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm

“mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững

Người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH, BHYT cho người lao động Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH, BHYT cho người lao động có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thực chất, về lâu dài, phương thức BHXH, BHYT đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ người lao động khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ sử dụng lao động bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, người lao động có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản; da giày; dệt may sử dụng nhiều lao động, nhất là doanh nghiệp có nhiều lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH, BHYT để bảo vệ và duy trì nguồn lao động của doanh nghiệp mình

Trong hoạt động BHXH, BHYT, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH, BHYT Như vậy nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, BHYT, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này Mặt khác, chính sách BHXH, BHYT là một bộ phận quan trọng của chính sách xã

12 hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận chăm sóc y tế với chi phí hợp lý BHYT giúp giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh khi ốm đau hoặc tai nạn, từ đó nâng cao khả năng điều trị và phục hồi sức khỏe cho mỗi người Chính sách này đồng thời tạo sự bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế và quyền lợi được hưởng các chế độ BHYT, bất kể hoàn cảnh kinh tế Qua đó, BHYT đóng góp vào an sinh xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và giảm sự chênh lệch y tế giữa các nhóm dân cư.

Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Hiện nay, cả nước đã có khoảng 2,5 triệu người hết tuổi lao động đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng

Trong nhiều năm qua, khi chính sách BHXH được triển khai và cùng với sự phát triển của kinh tế, lương hưu đã được điều chỉnh liên tục để phù hợp với mức sống chung của xã hội Mỗi lần tăng mức lương tối thiểu và khi xem xét chỉ số giá cả, Nhà nước điều chỉnh lương hưu một cách cân đối và hợp lý Việc điều chỉnh lương hưu theo mức sống tại thời điểm hưởng đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu và tạo sự an tâm, tin tưởng sau một đời lao động Tương tự, các quyền lợi về BHYT, chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và mức trợ cấp tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt.

Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH là do phương thức tài chính ở nước ta được hình thành theo cách lập quỹ và có sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những dự báo về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lập quỹ, người lao động, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH, dành dụm cho mai sau, tránh tình trạng đẩy toàn bộ gánh nặng chi trả cho thế hệ mai sau Mặt khác,

13 với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Chính sự phát triển với tốc độ nhanh của nền kinh tế nước ta của thế hệ đương thời theo truyền thống “con hơn cha” góp phần cải thiện rõ nét mức sống của người về hưu đã có đóng góp một phần trước đây Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở để cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng

Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH, BHYT góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển

Chính sách BHXH, BHYT hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của người lao động về chính sách BHXH, BHYT Khi đó, mọi người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH, BHYT Phạm vi đối tượng tham gia BHXH, BHYT không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi

BHXH, BHYT, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh Người lao động tham gia BHXH, BHYT khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do tai nạn, bệnh nghề nghiệp gây ra Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi người lao động mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới

Quyền lợi của BHXH

Khi tham gia BHXH, người tham gia được hưởng những quyền lợi sau:

– Được tham gia và hưởng các chế độ theo Luật BHXH

– Được cấp và quản lý sổ BHXH và nhận lại sổ khi không còn làm việc

– Nhận lương hưu và trợ cấp đầy đủ, kịp thời theo các hình thức sau:

+ Nhận trực tiếp tại cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền

+ Nhận thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng

+ Thông qua công ty, tổ chức nơi làm việc hay người sử dụng lao động

– Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp: đang hưởng lương hưu, nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản, nhận con nuôi, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hay trợ cấp ốm đau

– Chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được thanh toán chi phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện hưởng BHXH

– Ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH cho người khác

– Được cung cấp thông tin về đóng BHXH theo định kỳ; yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin về việc đóng và quyền được hưởng các chế độ của BHXH – Người tham gia được khiếu nại, tố cáo và khởi kiện BHXH theo quy định pháp luật

1.4.1.Điều kiện được hưởng BHXH

Người đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng đóng BHXH chưa đủ 20 năm

– Người đóng BHXH chưa đủ 20 năm, sau 1 năm nghỉ việc không đóng BHXH và yêu cầu nhận trợ cấp 1 lần

– Người đang mắc các bệnh nguy hiểm đến tính mạng hoặc mắc bệnh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, không tự phục vụ được nhu cầu sinh hoạt

– Người ra nước ngoài định cư

1.4.2.Mức đóng bảo hiểm Xã hội bắt buộc của NLĐ Đối tượng là người lao động

Tổng mức đóng Quỹ hưu trí,tử tuất

Quỹ ốm đau,thai sản

Bảng mức đóng BHXH bắt buộc đối với NLĐ

1.4.3 Mức đóng BHXH bắt buộc của NSDLĐ Đối tượng là người sử dụng lao động

Tổng mức đóng Quỹ hưu trí,tử tuất

Quỹ ốm đau,thai sản

Bảng mức đóng BHXH bắt buộc của NSDLĐ

Quyền lợi khi tham gia BHYT

17 Được chọn nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại tuyến xã, huyện và theo hướng dẫn của cơ quan BHXH (Trạm Y tế, Trung tâm Y tế học đường hoặc Phòng khám đa khoa ) Được chăm sóc sức khỏe ban đầu Được KCB, sơ cứu, cấp cứu khi bị tai nạn, ốm đau tại nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và được chuyển lên khám chữa bệnh ở các tuyến chuyên môn kỹ thuật cao hơn khi bệnh vượt quá khả năng của tuyến dưới Trường hợp cấp cứu, tai nạn người có thẻ BHYT được khám, điều trị tại bất kỳ cơ sở y tế nào có hợp đồng khám chữa bệnh BHYT

Khi đi khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ Đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ xuất trình thẻ BHYT còn giá trị sử dụng

Trường hợp cấp cứu: Được tiếp nhận tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) nào và phải xuất trình thẻ BHYT cùng với giấy tùy thân chứng minh nhân thân hợp lệ trước khi ra viện Trong quá trình điều trị phát hiện và phải điều trị một số bệnh thì điều trị tại nơi cơ sở KCB được tính đúng tuyến

Trường hợp chuyển tuyến điều trị: Được chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định trong trường hợp cơ sở KCB BHYT vượt quá khả năng điều trị hoặc các dịch vụ kỹ thuật đơn vị không triển khai thực hiện Người bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ và giấy chuyển viện của cơ sở KCB chuyển tuyến

Trường hợp thanh toán chi phí vận chuyển người bệnh: Đối tượng là" sĩ quan hạ sĩ quan, người làm công tác cơ yếu ; Người có công với cách mạng; Thân nhân người có công với cách mạng( cha đẻ, mẹ đẻ, con, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ); Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện bảo trợ bảo trợ hàng tháng;" thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí vận chuyển 2 chiều trong trường hợp chuyển tuyến kỹ thuật

Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị áp dụng cho người tham gia BHYT: họ phải mang giấy hẹn khám lại do cơ sở KCB cấp Giấy hẹn khám lại chỉ được sử dụng cho một lần thực hiện khám chữa bệnh.

Mức hưởng BHYT đúng tuyến

Khoản 1 Điều 22 Luật Bảo Hiểm y tế sửa đổi,bổ sung 2014 quy định, người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh đúng tuyến sẽ được quỹ BHYT thanh toán chi phí trong phạm vi được hưởng với mức hưởng:

- 100% chi phí khám, chữa bệnh nếu là bộ đội, công an; người có công với cách mạng, cựu chiến binh; trẻ em dưới 06 tuổi; người thuộc hộ gia đình nghèo; người có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục và có số tiền cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở…

- 95% chi phí khám, chữa bệnh nếu là người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người thuộc hộ gia đình cận nghèo…

- 80% chi phí khám, chữa bệnh nếu là đối tượng khác

Mức hưởng BHYT trái tuyến

Cũng theo Luật này, tại khoản 3 Điều 22, khi đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến, người có thẻ BHYT sẽ được quỹ BHYT thanh toán:

- 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương;

- 60% chi phí điều trị nội trú đến ngày 31/12/2020 tại bệnh viện tuyến tỉnh;

- 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện.

Quyền lợi khi tham gia BHTN

Theo quy định của bảo hiểm thất nghiệp, người lao động sẽ được hưởng 4 quyền lợi chính sau:

- Hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm

- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm

1.6.1 Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp

Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định như sau:

- Người lao động đóng 1% tiền lương tháng

- Người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN

1.6.2 Mức lương tối thiểu vùng

Vùng Mức lương tối thiểu vùng 2019

Mức lương thấp nhất đóng BHXH bắt buộc Người chưa qua học nghề

Người đã qua học nghề (+7%)

Bảng mức lương tối thiểu vùng

1.6.3 Tỷ lệ đóng BHXH,BHYT,BHTN

Tỷ lệ đóng BHXH BHYT BHTN Tổng

Bảng tỷ lệ đóng BHXH,BHYT,BHTN năm 2020

Chương 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THAM GIA BHXH,BHYT,BHTN CỦA NLĐ Ở VIỆT NAM

Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do 20 1.Các kết quả đạt được của BHXH

Bảo hiểm xã hội tự nguyện có vai trò quan trọng trong việc cân bằng quỹ BHXH trong tương lai, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động Những người lao động tự do có thu nhập thấp, không ổn định khi tham gia

BHXHTN sẽ được hưởng lương hưu, điều này giúp người lao động chủ động và ổn định đời sống ở thời điểm khi đã qua tuổi lao động Đây là một chính sách hết sức nhân văn Hình thức bảo hiểm này có tính an toàn cao vì được Nhà nước bảo trợ

2.1.1.Các kết quả đạt được của BHXH

Kết quả thực hiện chính sách BHXHTN từ năm 2008 đến đầu năm 2017 cho thấy đối tượng tham gia ngày càng tăng theo từng năm; tuy nhiên, số lao động tham gia BHXHTN vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số đối tượng thuộc diện tham gia và quá trình mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn rất chậm.

Thực tế cho thấy số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn ở mức rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,5% số đối tượng thuộc diện tham gia Tính đến hết tháng 3/2017, cả nước có 235.000 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 9.000 người so với cùng kỳ năm 2016 Số này chủ yếu là nhóm đã tham gia BHXH bắt buộc nghỉ việc tham gia tiếp BHXH tự nguyện, còn tỷ lệ mua BHXH tự nguyện từ đầu là rất thấp So với gần 13 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, số người tham gia BHXH tự nguyện quá khiêm tốn Trong khi đó, cả nước còn khoảng 35 triệu lao động trong khu vực phi chính thức, bao gồm lao động tự tạo việc làm, lao động giúp việc gia đình, nông dân và các nhóm khác, thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện nhưng chưa tham gia.

BHXHTN khi được liên thông với chính sách BHXH bắt buộc đã giúp gần 30.000 người đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng, trước đó, họ thuộc nhóm không có cơ hội hưởng lương hưu vì có dưới 20 năm đóng BHXH Tuy nhiên, tốc độ phát triển đối tượng BHXHTN còn chậm

2.1.2 Những bất cập của chính sách và công tác thực hiện triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện

Một yếu tố quan trọng là người lao động tự do có ít thời gian và điều kiện để tiếp cận các văn bản pháp luật Trong khi đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXHTN hiện nay vẫn chưa được chú trọng và chưa đi sâu vào đời sống người dân, đồng thời thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành Theo khảo sát của Viện Phát triển Sức khỏe Cộng đồng Ánh Sáng (LIGHT), có đến 91% người bán hàng rong chưa từng tiếp cận các quy định của Bộ Luật Lao động và 91,45% chưa biết đến BHXH, nên số lượng người lao động tham gia BHXHTN vẫn còn rất hạn chế.

Hai là, tâm lý của người dân chưa yên tâm khi tham gia loại hình BHXH này Người lao động còn so sánh giữa việc tham gia BHXHTN với người lao động tham gia BHXH bắt buộc Về tỷ lệ đóng, người tham gia BHXHTN phải đóng tương đối cao (22%), còn người lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc đóng 26% nhưng trong đó người lao động chỉ đóng 8% Khi tham gia BHXHTN, chế độ chỉ thực hiện với hưu trí và tử tuất; về BHYT, người dân sẽ tham gia theo hưởng BHYT hộ gia đình

Họ không có quyền lợi y tế gắn với BHXHTN Trong khi người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng các chế độ bao gồm cả ốm đau, thai sản, dưỡng sức, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tử tuất…

Ba là, điều kiện kinh tế của đa số lao động tự do còn thấp, trong khi

BHXHTN yêu cầu đối tượng phải có mức thu nhập tương đối ổn định và thời gian tham gia dài, sau 20 năm tham gia mới được hưởng chế độ Rất nhiều lao động tự do mong muốn khi về già được nhận một khoản lương hưu để trang trải cuộc sống hàng ngày Thế nhưng, với khoản thu nhập không mấy dư dả khiến đa phần không dám nghĩ đến việc tham gia BHXHTN

Bốn là mạng lưới đại lý thu BHXHTN còn ít nên chưa thuận tiện cho người lao động tham gia, có người dân biết thông tin về BHXHTN lại không biết đến đâu đăng ký, các thủ tục thực hiện như thế nào, mức đóng tiền ra sao khi thấy thủ tục đóng - hưởng phức tạp, họ ngại làm giấy tờ tham gia Chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến chính sách BHXHTN Sự phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách BHXHTN của các cấp, các ngành ở địa phương với cơ quan BHXH chưa thường xuyên

2.1.3.BHXH VN khẳng định vị trí quan trọng đảm bảo an sinh xã hội

Với vai trò là trụ cột chính, quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) chính là góp phần bảo đảm quyền được an sinh xã hội của mỗi công dân, vì mục tiêu phát triển bền vững…

Trong suốt 24 năm xây dựng và phát triển (16/02/1995 -16/02/2019), với chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam luôn nỗ lực phấn đấu, vượt qua những khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người tham gia, hưởng chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Đặc biệt, Ngành đã khẳng định được vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác đảm bảo an sinh xã hội

Một trong những thành tích góp sức vào quá trình hình thành và phát triển của Ngành trong 24 năm qua được thể hiện bằng những con số ấn tượng trong năm 2018

Vào năm 2018, toàn Ngành BHXH tiếp tục nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và thực hiện tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ được giao Tính đến hết năm 2018, số người tham gia BHXH trong cả nước đạt trên 14,72 triệu người, chiếm khoảng 30,4% lực lượng lao động trong độ tuổi; số người tham gia BHTN đạt trên 12,6 triệu người, chiếm khoảng 26,2% lực lượng lao động trong độ tuổi; đặc biệt, tỷ lệ bao phủ BHYT tiếp tục tăng trưởng và đã đạt 88,5% dân số với trên 83,5 triệu người tham gia BHYT, vượt 3,3% so với chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao.

Cùng với việc mở rộng diện bao phủ BHXH, BHYT, số thu về Quỹ BHXH, BHYT cũng không ngừng gia tăng với tổng số thu ước đạt trên 332.000 tỷ đồng, đạt 100,4% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao Số nợ giảm mạnh so với năm 2017, đạt mức thấp nhất từ trước đến nay, bằng 1,7% số phải thu

Thực trạng tham gia BHTN của NLĐ ở Việt Nam

Sau mười năm triển khai, bảo hiểm thất nghiệp đã dần thấm vào cuộc sống và được người lao động lẫn doanh nghiệp đón nhận tích cực Chương trình này không chỉ bảo đảm an sinh trong lúc thất nghiệp mà còn củng cố sự ổn định của thị trường lao động và hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới Hiện nay, có hơn 13 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cho thấy phạm vi bao phủ rộng và hiệu quả của chính sách này trong việc nâng cao an toàn cho người lao động và doanh nghiệp.

Những kết quả đáng khích lệ

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) triển khai đến nay đã được hơn 10 năm Việt Nam là nước thứ hai trong khu vực ASEAN, và là quốc gia thứ 79 trên thế giới thực hiện chính sách BHTN

Chính sách BHTN nhằm hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động trong thị trường lao động, được thực hiện từ ngày 1-1-2009 và quy định rõ trong Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) Đến thời điểm 1-1-2015, BHTN được thực hiện theo Luật Việc làm gắn với các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế sa thải lao động, hỗ trợ tích cực đối với người thất nghiệp; phù hợp thông lệ quốc tế Đến nay, về cơ bản, chính sách BHTN đã hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu của việc triển khai và đem lại lợi ích cho người sử dụng lao động Số người mong muốn tham gia BHTN ngày càng nhiều

Số người tham gia BHTN tăng khoảng 10% mỗi năm và hiện đã vượt mốc

Có khoảng 13 triệu người liên quan đến chương trình, với hơn 4,6 triệu lượt người hưởng trợ cấp thất nghiệp Số người được hỗ trợ học nghề là hơn 177 nghìn người, và gần 97% người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm.

Trong những năm gần đây, nhiều trường hợp người lao động đến trung tâm giao dịch việc làm, được tư vấn thông tin giới thiệu việc làm Sau đó, họ đã quay trở lại thị trường lao động, không nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp

2.2.1 Những bật cập của BHTN ở Việt Nam

Vẫn còn những hạn chế của lĩnh vực BHTN (Bảo hiểm thất nghiệp) Cụ thể, nhận thức về BHTN của người lao động và người sử dụng lao động chưa cao, khiến nhiều lao động chưa nắm rõ quyền lợi và điều kiện tham gia, cũng như các thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp và quy trình tiếp cận các chế độ BHTN Việc thiếu thông tin đầy đủ và sự phối hợp giữa các bên liên quan vẫn chưa hiệu quả, làm cho hệ thống BHTN còn chưa tối ưu và dễ bị hiểu nhầm.

24 thông tin về chính sách BHTN Nhiều doanh nghiệp nợ BHTN, và con số này có lúc cũng lên tới hơn 200 tỷ đồng

Bên cạnh đó, công tác quản lý lao động còn nhiều bất cập Chúng ta hiện chưa đủ công cụ để quản lý, nên rất khó kiểm soát tình trạng việc làm của người lao động Vẫn còn tình trạng người lao động vừa đi làm vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp Mặt khác, thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp cũng gặp khó do không kiểm soát được việc người lao động di chuyển nơi ở, nơi làm việc tới địa phương khác

Ngoài ra, công tác cán bộ tại một số trung tâm dịch vụ việc làm còn nhiều khó khăn Hiện nay, tại các trung tâm mới chỉ có định suất lao động mà chưa có biên chế chính thức Đội ngũ cán bộ thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến chuyên môn

2.2.2.Bảng tỷ lệ NLĐ tham gia BHTN từ các doanh nghiệp 2014-2018

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ,ĐỀ XUẤT VỀ CÁC CHÍNH SÁCH

Một số giải pháp về các chính sách của BHXH,BHYT,BHTN

3.1.1.Tăng cường phát triển đối tượng tham gia BHXH

Chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ và cụ thể hóa các mục tiêu, đề án và nhiệm vụ để triển khai có hiệu quả; Nghị quyết số 125/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH sẽ được triển khai đồng bộ, và kịp thời ban hành các kế hoạch triển khai các Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, cùng các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan hoàn thiện, trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 01/2016/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam; hoàn thiện các văn bản, quy định, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để triển khai trong toàn Ngành Đề án “Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”

Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN; các Nghị định, văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, BHTN, đặc biệt là các quy định mới có hiệu lực thực hiện từ 1/1/2020

Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 3/8/2018 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH; Chỉ thị số 34/CT- TTg ngày 26/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các nhóm giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH; xây dựng các giải pháp phấn đấu thực hiện chỉ tiêu bao phủ BHYT của địa phương theo Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ

Kịp thời giao kế hoạch và dự toán thu, chi, phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN và BHYT năm 2020 ngay sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; thường xuyên kiểm tra, giám sát và đôn đốc BHXH tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện; tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp và thanh tra, kiểm tra để đảm bảo tiến độ, đúng mục tiêu và hiệu quả mở rộng phạm vi bảo hiểm.

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành, thanh tra chuyên ngành và thanh tra đột xuất tại các đơn vị, doanh nghiệp, đặc biệt là những đơn vị có nợ đọng, dấu hiệu lạm dụng hoặc trục lợi BHXH, BHTN và BHYT Mọi vi phạm pháp luật liên quan đến BHXH, BHTN, BHYT sẽ được xử lý kịp thời và có kiến nghị xử lý phù hợp nhằm đảm bảo thực thi nghiêm túc các quy định và bảo vệ quyền lợi người lao động.

3.1.2.Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền

Trong năm 2020, BHXH Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể, xã hội, cơ quan thông tấn, báo chí tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm, tính chất đặc thù của từng nhóm đối tượng, vùng miền, tập trung vào các nhóm đối tượng phát triển BHXH tự nguyện Đồng thời, sẽ phối hợp với ngành Bưu điện quản lý chặt chẽ đối tượng thụ hưởng, đổi mới phương thức phục vụ, chi trả qua các tổ chức dịch vụ công; đẩy mạnh việc chi trả không dùng tiền mặt theo chỉ đạo của Chính phủ Quản lý chặt chẽ việc chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn, trợ cấp một lần, chi trả trợ cấp BHTN; tăng cường, chủ động kiểm soát chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB, đảm bảo thực hiện đúng dự toán được Chính phủ giao năm 2020

Tập trung quyết liệt các giải pháp để đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch thu, phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT năm 2019 được Chính phủ giao; tăng cường nợ đọng BHXH, BHYT; rà soát, xử lý dữ liệu thẻ BHYT cấp trùng; hoàn thiện dữ liệu hộ gia đình, cấp mã số BHXH cho người tham gia

Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ; nâng cấp cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung cùng các phần mềm nghiệp vụ của ngành; triển khai hiệu quả hệ thống tương tác đa phương tiện với người dân và doanh nghiệp; mở rộng cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và đẩy mạnh giao dịch điện tử; quản lý, sử dụng văn bản điện tử trong hệ thống BHXH và trên trục liên thông của Chính phủ.

BHXH tỉnh tăng cường chỉ đạo các đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ, đồng thời thực hiện nghiêm các quy tắc ứng xử của công chức, viên chức và người lao động ngành BHXH Việc này chuẩn hóa chuẩn mực làm việc, nâng cao trách nhiệm và chất lượng phục vụ, góp phần tăng cường sự tin tưởng của người dân đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và các đơn vị trực thuộc.

Một số kiến nghị về chính sách BHXH,BHYT,BHTN

3.2.1.Về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Chính phủ và các bộ chức năng sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện một số quy định còn chưa rõ và có nhiều vướng mắc trong thực hiện BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể:

Một số nội dung còn vướng mắc do hướng dẫn chưa rõ như: giải quyết tính hưởng BHXH đối với trường hợp doanh nghiệp sau cổ phần hóa tiếp tục xếp hạng doanh nghiệp; xác định mức thu nhập hàng tháng làm căn cứ hưởng các chế độ; trách nhiệm nuôi dưỡng đối với thân nhân hưởng chế độ tử tuất để giải quyết tuất hàng tháng, tuất một lần; hướng dẫn thủ tục và trách nhiệm trong việc giải quyết chế độ đối với bệnh binh hoặc công nhân viên chức hưởng trợ cấp mất sức lao động đồng thời là thương binh.

Hiện nay vẫn còn một số nội dung chưa có văn bản hướng dẫn, nổi bật là quy định về giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động để được hưởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp tổng hợp; chưa có quy định khen thưởng đối với đơn vị sử dụng lao động làm tốt công tác an toàn vệ sinh lao động theo khoản 2 Điều 133 Luật Bảo hiểm xã hội; và còn thiếu hướng dẫn về thực hiện BHXH đối với người tham gia BHXH tự nguyện khi chuyển sang tham gia BHXH bắt buộc.

Hiện nay, một số văn bản chưa được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với quy định của Luật, bao gồm các văn bản liên quan đến khám, chữa bệnh ngoại trú, danh mục các bệnh cần nghỉ việc để chữa trị dài ngày, hướng dẫn khai báo, điều tra và lập biên bản tai nạn lao động, hồ sơ và quy trình giám định y khoa cho người tham gia BHXH, cũng như quy định lập biên bản tai nạn giao thông cho người tham gia BHXH bị tai nạn trên đường đi làm việc.

3.2.2.Về chế tài bảo đảm việc thực thi pháp luật BHXH, BHYT

Phải cụ thể hóa và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước cùng các ngành liên quan trong việc phối hợp, kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý các vi phạm về thực hiện chính sách BHXH và BHYT; đồng thời cải cách thủ tục, trình tự xử phạt sao cho đơn giản, thuận tiện và hiệu quả Việc phân định rõ trách nhiệm sẽ tăng cường công tác quản lý nhà nước về BHXH và BHYT, nâng cao tính minh bạch và tuân thủ của người tham gia, người sử dụng lao động và doanh nghiệp; từ đó nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và quyền lợi người dân Cần thiết kế cơ chế phối hợp liên ngành, áp dụng kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm tính công bằng và răn đe Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử phạt, đơn giản hóa trình tự và giảm thiểu phiền hà, nhằm thúc đẩy sự tuân thủ và hiệu quả thực thi các quy định về BHXH và BHYT.

- Nâng mức phạt và bổ sung hình thức truy tố trước pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH

3.2.3.Về thực hiện BHXH tự nguyện

28 Để thu hút được nhiều đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, các bộ, ngành, chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể các cấp theo chức năng của mình phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện với mục tiêu ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước; đồng thời nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước với quỹ BHXH tự nguyện hoặc hỗ trợ một số đối tượng khó khăn như người nghèo, người cận nghèo để họ có khả năng tham gia BHXH tự nguyện

Để bảo đảm hiệu quả của bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cần hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở dịch vụ việc làm nhằm đảm bảo tư vấn nghề nghiệp và hỗ trợ việc làm cho người thất nghiệp; việc nâng cao chất lượng tư vấn và hỗ trợ việc làm sẽ giúp người lao động có lộ trình tìm kiếm việc làm phù hợp và hướng tới các giải pháp giải quyết thất nghiệp một cách bền vững và ổn định cuộc sống.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện BHTN cũng không thể chậm hơn Qua đó, bảo đảm đồng bộ các yếu tố về công nghệ, kỹ thuật gắn kết với cải cách hành chính, phương thức làm việc trong tổ chức thực hiện BHTN

Ngày đăng: 24/01/2022, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w