Bảo đảm an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm thực hiện, nhất là trong tình hình hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta đang bị tác động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) giữ vai trò quan trọng hàng đầu, là chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và có tính chia sẻ cộng đồng, thể hiện đường lối, chủ trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với mục tiêu vì con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Nghị quyết số 21NQTW ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 2020, đã khẳng định chắc chắn quan điểm của Đảng coi “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội”
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH,BHYT,BHTN
Khái quát về hệ thống An Sinh Xã Hội
Căn cứ bản chất của an sinh xã hội cũng như phạm vi hoạt động của lĩnh vực này trong nhiều năm qua ở Việt Nam, có thể thấy hệ thống an sinh xã hội bao gồm 3 hệ thống cấu thành sau:
1.1.1 Hệ thống ưu đãi xã hội
Hệ thống phúc lợi này hoàn toàn dựa vào ngân sách nhà nước và dành cho những người được xác định quyền lợi bởi Nhà nước, không yêu cầu đóng góp hay điều kiện vật chất, mà dựa trên sự cống hiến của họ cho đất nước như chiến đấu dũng cảm, bảo vệ Tổ quốc và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, phòng, chống tội phạm Ở nước ta, chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là một hệ thống ưu đãi xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội và nhân văn sâu sắc Các chính sách này đã góp phần chăm lo, cải thiện đời sống của hàng triệu người, đồng thời góp phần ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới.
- Hệ thống bảo trợ xã hội
Chính ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu cho hệ thống bảo trợ xã hội, đồng thời là một kênh phân phối lại thu nhập quốc dân cho từng nhóm đối tượng dựa trên các điều kiện nhất định hoặc trong những trường hợp cấp bách; các khoản trợ giúp hoặc hỗ trợ bằng hiện vật và bằng tiền được cấp dựa trên nhu cầu thiết yếu và khó khăn của người gặp rủi ro, không xem xét đến sự đóng góp trước đó mà chỉ đánh giá mức độ cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu khi bản thân họ không thể tự lo được Bảo trợ xã hội được coi là lưới đỡ cuối cùng trong mạng lưới an sinh xã hội Trong những năm gần đây, hoạt động bảo trợ xã hội đã thực hiện tốt hai chức năng cơ bản: cứu trợ và trợ giúp phát triển.
Nguồn tài chính cho hệ thống này được xây dựng trên nền tảng đa dạng và phong phú, với nguồn chính từ ngân sách nhà nước và sự huy động từ đóng góp của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức Mô hình này thể hiện truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc ta và tăng cường khả năng huy động nguồn lực từ cộng đồng để phục vụ các mục tiêu phát triển.
1.1.2 Hệ thống bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội được thiết kế để bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động; theo cơ chế này, người lao động chỉ có quyền lợi bảo hiểm xã hội khi tham gia đóng góp vào quỹ BHXH Mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc đoàn kết tương trợ và chia sẻ rủi ro, thể hiện qua các chính sách BHYT và các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; đồng thời nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng còn được hỗ trợ bởi cơ chế phân phối lại mang tính xã hội, liên quan đến các chế độ hưu trí và tử tuất.
BHXH là hệ thống bảo đảm tài chính cho người lao động, thực hiện bằng cách bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Cơ chế bảo hiểm này dựa trên đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động vào quỹ BHXH Nhà nước tổ chức thực hiện quỹ BHXH nhằm đảm bảo an sinh xã hội và ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các rủi ro về thu nhập.
Bảo hiểm y tế (BHYT) thực chất là chế độ khám chữa bệnh nằm trong chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH); do lịch sử hình thành và phát triển ở nước ta có sự khác biệt và theo thói quen nên thường được gọi là chính sách BHYT Đây là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng, chia sẻ rủi ro trong lĩnh vực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế Luật này đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14-11-2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2009.
Hệ thống an sinh xã hội là một tổng thể các chế độ và chính sách được kết hợp chặt chẽ nhằm hình thành một mạng lưới rộng khắp, bao phủ toàn bộ dân cư và bảo vệ mọi thành viên trước rủi ro cũng như trước những biến động bất thường trong các hoàn cảnh đặc biệt Trong hệ thống này, bảo hiểm xã hội (BHXH) giữ vai trò trụ cột và bền vững nhất, làm nền tảng cho việc triển khai các chính sách an sinh xã hội Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Khái niệm,đặc điểm,phân loại BHXH,BHYT,BHTN
Trong đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh, con người đối mặt với cả những khó khăn có thể dự báo và những rủi ro bất ngờ; để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, người lao động phải lao động và nghiên cứu sản xuất ra các sản phẩm thiết yếu Những bất trắc và rủi ro mang lại tổn thất về vật chất và tinh thần, ảnh hưởng đến sức khỏe, việc làm và đời sống gia đình Vì vậy, ngoài nỗ lực tự khắc phục, NLĐ cần nhận được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội để tồn tại và an tâm Để bảo đảm an toàn nguồn quỹ và hỗ trợ NLĐ trong sản xuất kinh doanh, bảo hiểm được xem là công cụ quan trọng và có hiệu quả giúp ổn định và phát triển kinh tế xã hội cũng như khắc phục hậu quả do rủi ro trong đời sống xã hội.
Theo khoản 1 điều 3 luật bảo hiểm xã hội năm 2014
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Điều này được thực hiện trên cơ sở người lao động đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội thường có những đặc điểm cơ bản như sau:
Bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động là hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) mang lại các quyền lợi từ khi tham gia cho đến khi mất: khi tham gia BHXH, NLĐ được BHXH trợ cấp cho đến lúc chết; trong quá trình làm việc, NLĐ được bảo đảm khi ốm đau; lao động nữ được hưởng chế độ thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi nghỉ việc, NLĐ được hưởng tiền hưu trí; khi chết, gia đình được hưởng tiền mai táng và trợ cấp tử tuất Đây là đặc trưng riêng của BHXH mà không có loại hình bảo hiểm nào khác có được.
Trong hệ thống BHXH, các sự kiện bảo hiểm và rủi ro xã hội của người lao động liên quan trực tiếp đến thu nhập, bao gồm ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu và chết Những sự kiện này có thể làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc làm cho khả năng lao động không được tận dụng tối đa, từ đó dẫn tới giảm nguồn thu nhập hoặc mất nguồn thu nhập Vì vậy, người lao động cần có nguồn thu nhập dự phòng để ổn định cuộc sống, và các trợ cấp BHXH được thiết kế để bù đắp cho những rủi ro này Đây là đặc trưng cơ bản của bảo hiểm xã hội.
Người lao động tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, nhưng quyền này chỉ trở thành hiện thực khi NLĐ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH NSDLĐ cũng có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ để bảo đảm quyền lợi và sự tham gia đầy đủ của người lao động vào hệ thống BHXH.
BHXH được hình thành từ đóng góp của ba bên: người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Nhà nước, là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH Bên cạnh đó, quỹ BHXH còn có các nguồn thu khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH (đảm bảo an toàn); khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác.
-Năm là, các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định.
Bảo hiểm xã hội bao gồm 2 loại là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là BHXH do Nhà nước tổ chức và bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ:
-Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, cho phép người tham gia lựa chọn phương thức và mức đóng phù hợp với thu nhập của mình Nhà nước có chính sách hỗ trợ người tham gia đóng phí BHXH nhằm hưởng các chế độ hưu trí và tử tuất.
Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, và đổi mới cơ chế kinh tế đi kèm với cải cách các chính sách xã hội nhằm xây dựng một xã hội công bằng và văn minh Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến phân hoá giàu nghèo, khi có người thu nhập cao nhưng vẫn còn nhiều người thiếu thốn, đặt ra yêu cầu tăng cường chăm sóc sức khỏe để đảm bảo công bằng xã hội Ngân sách Nhà nước chưa thể bao phủ đầy đủ chăm sóc sức khỏe cho mọi tầng lớp dân cư, vì vậy cần có giải pháp trong chính sách xã hội và lĩnh vực y tế nhằm thu hẹp chênh lệch chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm dân cư Ở nước ta, BHYT được triển khai từ năm 1992 như một chính sách xã hội đổi mới và là giải pháp cơ bản trước mắt cũng như lâu dài trong công tác chăm sóc sức khỏe, góp phần giảm bớt khoảng cách giàu nghèo.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014:
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng cho các đối tượng được quy định tại Luật này nhằm chăm sóc sức khỏe cho người dân, không vì mục đích lợi nhuận và do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là một loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Người mua bảo hiểm y tế được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị và phục hồi sức khỏe khi gặp tai nạn hoặc ốm đau.
Bảo hiểm y tế (BHYT) có đối tượng áp dụng rộng nhất, vì vậy nó phức tạp nhất và cần triển khai bài bản để bảo đảm nguyên lý bù đắp từ số đông cho số ít Khi được thực hiện đúng, BHYT vận dụng quy luật lấy số đông bù số ít: nguồn đóng góp từ cộng đồng người tham gia được dùng để chi trả cho những người có chi phí y tế cao hoặc rủi ro lớn Quy luật này là yếu tố then chốt đối với bảo hiểm nói chung và BHYT nói riêng, quyết định sự tồn tại, ổn định và sự phát triển của hệ thống bảo hiểm Nếu quy luật này được bảo đảm, BHYT có tiềm năng trở thành một trong những nhân tố chủ chốt góp phần mở rộng quy mô và cải thiện hiệu quả chi trả của an sinh y tế.
BHYT nói riêng Và ngược lại nếu quy luật này không được bảo đảm thì chắc chắn bảo hiểm sẽ không hoạt động được
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một loại bảo hiểm mang tính nhân đạo, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao cho đại bộ phận dân cư Nhờ BHYT, mọi người được tiếp cận chăm sóc y tế công bằng hơn và được điều trị theo đúng bệnh lý của mình, thể hiện tính ưu việt của hệ thống y tế và sự nhân văn trong chăm sóc sức khỏe Tham gia BHYT mang lại lợi ích trực tiếp cho người tham gia và đồng thời mang lại lợi ích cho xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và an sinh xã hội.
Việc triển khai bảo hiểm y tế (BHYT) gắn liền với toàn bộ ngành y tế, từ y bác sỹ, cơ sở vật chất đến cơ chế vận hành của hệ thống khám chữa bệnh Người tham gia BHYT đóng phí cho cơ quan BHYT, nhưng cơ quan này không trực tiếp tổ chức khám chữa bệnh mà là đơn vị thanh toán và làm trung gian thông qua hợp đồng khám chữa bệnh với các cơ sở y tế để chi trả chi phí cho người tham gia khi gặp rủi ro ốm đau Do đó BHYT kết nối người dân với chăm sóc sức khỏe thông qua các cơ sở y tế và đảm bảo chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT còn cùng với các hình thức bảo hiểm xã hội khác giúp khắc phục nhanh chóng hậu quả sức khỏe của con người, nên nhận được sự quan tâm của Chính phủ và các cơ quan liên quan.
Bảo hiểm y tế không chỉ tạo điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân mà còn góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị, thúc đẩy quá trình nâng cấp các cơ sở y tế Nhờ đó, chất lượng phục vụ của ngành y tế được không ngừng cải thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.
Bảo hiểm y tế có hai loại là: Bảo hiểm y tế bắt buộc và Bảo hiểm y tế tự nguyện
Phí đóng bảo hiểm y tế bắt buộc được quy định trong luật bảo hiểm y tế Đối với bảo hiểm y tế tự nguyện, phí đóng là 4.5% tổng lương và phụ cấp, trong đó doanh nghiệp đóng 3% và người tham gia đóng 1.5%.
Vai trò của BHXH,BHYT,BHTN trong việc đảm bảo an sinh Xã hội đối với người lao động và xã hội ở Việt Nam
người lao động và xã hội ở Việt Nam
1.3.1 Vai trò của BHXH,BHYT đối với an sinh xã hội
Chính sách BHXH và BHYT được triển khai nhằm ổn định cuộc sống của người lao động và hỗ trợ họ khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp hay thất nghiệp Các chế độ này giúp người lao động sớm phục hồi sức khỏe, duy trì thu nhập và nhanh chóng quay lại làm việc, từ đó giảm thiểu tác động tiêu cực của rủi ro đối với đời sống và triển vọng nghề nghiệp.
Theo phương thức BHXH và BHYT, người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần lương vào quỹ dự phòng, nhằm hỗ trợ khi ốm đau, tai nạn, sinh đẻ và chăm sóc con cái; cũng như khi không làm việc hoặc khi đã về già, để duy trì và ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình Nhờ đó, hoạt động BHXH và BHYT mang lại sự an tâm và an sinh cho người lao động và xã hội, đồng thời đòi hỏi tính trách nhiệm cao từ mỗi người lao động đối với bản thân, gia đình và cộng đồng.
Mình vì mọi người, mọi người vì mình được hiện thực hóa qua quyền và nghĩa vụ, đồng thời thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên xã hội và giữa các thế hệ kế tiếp trong một quốc gia Nhờ đó, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững, nơi mọi người cùng đóng góp vì lợi ích chung và đảm bảo sự phát triển lâu dài của đất nước. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng góp BHXH và BHYT cho người lao động Ban đầu, nhiều doanh nghiệp cho rằng chi phí này sẽ đẩy chi phí sản xuất lên và làm giảm lợi nhuận, nhưng về lâu dài BHXH và BHYT chuyển giao rủi ro cho xã hội, giúp điều tiết thu nhập và bảo đảm an toàn cho người lao động, từ đó giảm khó khăn khi duy trì nguồn lao động và ổn định sản xuất, kinh doanh Đối với Việt Nam, nơi nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao và mức thu nhập trung bình toàn xã hội, cơ chế điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết Thực tế cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản, da giày và dệt may, với nhiều lao động, nhất là lao động nữ, coi trọng chính sách BHXH và BHYT để bảo vệ và duy trì nguồn lực lao động.
Trong hoạt động BHXH và BHYT, Nhà nước xây dựng chính sách và chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH, BHYT Do đó, Nhà nước giữ vai trò quản lý đối với BHXH, BHYT và bảo hộ quỹ BHXH mà không chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này Chính sách BHXH, BHYT là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội ở mức độ vĩ mô, bảo đảm nền kinh tế phát triển liên tục và ổn định xã hội qua từng thời kỳ và suốt quá trình.
Chính sách BHYT hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, tạo điều kiện cho mọi người dân dễ tiếp cận chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh khi ốm đau hoặc tai nạn Nhờ BHYT, chi phí y tế được san sẻ và sự bình đẳng trong tiếp cận khám chữa bệnh được thúc đẩy, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội cho cộng đồng.
Thực hiện đầy đủ và hiệu quả chính sách BHXH và BHYT, đặc biệt là chế độ hưu trí, là nền tảng để bảo vệ quyền lợi và ổn định cuộc sống của người lao động Khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động, các chế độ BHXH và hưu trí sẽ cung cấp nguồn thu an toàn, giúp gia đình duy trì mức sống phù hợp và giảm thiểu rủi ro tài chính Do đó, tăng cường thực thi các chính sách BHXH, BHYT và hưu trí không chỉ bảo vệ cá nhân mà còn đóng góp vào an sinh xã hội và sự ổn định kinh tế của cộng đồng.
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động tham gia đóng BHXH 20 năm trở lên được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động Nhờ nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định và bảo đảm cuộc sống hằng ngày Hiện nay cả nước có khoảng 2,5 triệu người hết tuổi lao động đang nhận lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng, với số tiền chi trả từ quỹ BHXH mỗi tháng lên tới hàng nghìn tỉ đồng.
Trong nhiều năm qua, từ khi BHXH (Bảo hiểm xã hội) được triển khai và cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu liên tục được điều chỉnh để phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Khi có sự tăng lương tối thiểu và xem xét chỉ số giá cả thị trường, Nhà nước điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý nhằm bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu Mức lương hưu tăng lên mang lại sự an tâm, tin tưởng cho người nghỉ hưu sau cả đời lao động Bên cạnh đó, các quyền lợi BHYT (Bảo hiểm y tế), chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trợ cấp tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt.
Điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH được hình thành từ phương thức tài chính lập quỹ và sự điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trên phạm vi toàn xã hội dựa trên dự báo các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai; theo phương thức này, người lao động có trách nhiệm đóng góp để lập quỹ BHXH và dành dụm cho mai sau, tránh gánh nặng chi trả cho thế hệ tiếp nối Việc lập quỹ BHXH cũng gắn kết trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH, trong khi sự phát triển nhanh của nền kinh tế và truyền thống “con hơn cha” đã góp phần cải thiện rõ nét mức sống của người về hưu đã có đóng góp trước đây Vì thế, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối, bền vững sẽ là cơ sở để liên tục cải thiện các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng.
Thứ ba, việc thực hiện chính sách BHXH và BHYT góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm bình đẳng về vị thế xã hội cho người lao động ở các thành phần kinh tế khác nhau, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
Chính sách BHXH và BHYT vận hành theo nguyên tắc đóng - hưởng, tạo bước đột phá về sự bình đẳng cho người lao động khi mọi thành phần kinh tế, ngành nghề và địa bàn đều được tham gia đầy đủ; phạm vi tham gia ngày càng mở rộng, thu hút hàng triệu người lao động và khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, mang lại sự an tâm, tin tưởng trong sản xuất, kinh doanh Người lao động tham gia BHXH, BHYT khi ốm đau được khám chữa bệnh và chi trả phần lớn chi phí bởi quỹ BHYT, được nhận tiền trợ cấp khi không thể đi làm, được nghỉ chăm con ốm; khi mang thai được nghỉ khám thai, nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi gặp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận trợ cấp do giảm khả năng lao động Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực, và khi mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp kèm giới thiệu việc làm hoặc đào tạo nghề để tăng cơ hội tìm kiếm việc làm mới.
Quyền lợi khi tham gia BHXH và BHYT của người lao động không chỉ bảo vệ sức khỏe và an sinh mà còn đóng vai trò thu hút nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội, đồng thời giữ gìn và nâng cao thể lực cho người lao động trong suốt quá trình làm việc Việc được tham gia BHXH, BHYT khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này mang lại sự phấn khởi, tâm lý ổn định và an tâm trong công việc mà họ đang thực hiện Thực tế nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng thường nhấn mạnh tiêu chí tham gia BHXH, BHYT như một quyền lợi quan trọng để thu hút lao động.
An tâm của người lao động và bảo vệ sức khỏe lao động thông qua chính sách BHXH và BHYT đã trở thành yếu tố then chốt thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, đồng thời bảo đảm sự ổn định cho lực lượng lao động và thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững Chính sách phúc lợi xã hội này giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
BHXH và BHYT là công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng và hợp lý, đồng thời giảm chi ngân sách và bảo đảm an sinh xã hội bền vững Trên thị trường lao động, tiền lương được hình thành tự do dựa trên quan hệ cung cầu và chất lượng lao động, trong khi Nhà nước chỉ quản lý qua quy định về mức lương tối thiểu và điều kiện lao động thiết yếu Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là sự phân phối lần đầu và trực tiếp cho từng người Do đó, người lao động có tay nghề cao và nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội sẽ có thu nhập cao; đây là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng.
Quyền lợi của BHXH
Khi tham gia BHXH, người tham gia được hưởng những quyền lợi sau:
– Được tham gia và hưởng các chế độ theo Luật BHXH
– Được cấp và quản lý sổ BHXH và nhận lại sổ khi không còn làm việc.
– Nhận lương hưu và trợ cấp đầy đủ, kịp thời theo các hình thức sau:
+ Nhận trực tiếp tại cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền
+ Nhận thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng
+ Thông qua công ty, tổ chức nơi làm việc hay người sử dụng lao động
Bạn có thể hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau: đang hưởng lương hưu, nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản, nhận con nuôi, gặp tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp hoặc nhận trợ cấp ốm đau Hiểu rõ các trường hợp hưởng bảo hiểm y tế giúp người tham gia nắm bắt quyền lợi và tiếp cận các chế độ bảo hiểm y tế phù hợp với hoàn cảnh của mình.
– Chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được thanh toán chi phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện hưởng BHXH
– Ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp BHXH cho người khác.
Người tham gia BHXH được cung cấp thông tin về đóng BHXH theo định kỳ và có quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin về việc đóng cũng như quyền được hưởng các chế độ của BHXH Đồng thời, người tham gia được khiếu nại, tố cáo và khởi kiện BHXH theo quy định của pháp luật.
1.4.1.Điều kiện được hưởng BHXH
Người đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng đóng BHXH chưa đủ 20 năm.
– Người đóng BHXH chưa đủ 20 năm, sau 1 năm nghỉ việc không đóng BHXH và yêu cầu nhận trợ cấp 1 lần
Những người đang mắc các bệnh nguy hiểm đến tính mạng hoặc có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và không thể tự chăm sóc được nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Những trường hợp này được xem xét kỹ lưỡng để xác định quyền lợi và hình thức hỗ trợ phù hợp với tình trạng sức khỏe của người bệnh.
– Người ra nước ngoài định cư.
1.4.2.Mức đóng bảo hiểm Xã hội bắt buộc của NLĐ Đối tượng là người lao động
Quỹ hưu trí,tử tuất
Quỹ ốm đau,thai sản
Bảng mức đóng BHXH bắt buộc đối với NLĐ
1.4.3 Mức đóng BHXH bắt buộc của NSDLĐ Đối tượng là người sử dụng lao động
Quỹ hưu trí,tử tuất
Quỹ ốm đau,thai sản
Bảng mức đóng BHXH bắt buộc của NSDLĐ
Quyền lợi khi tham gia BHYT
Người được chọn nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại tuyến xã, huyện và theo hướng dẫn của cơ quan BHXH (Trạm Y tế, Trung tâm Y tế học đường hoặc Phòng khám đa khoa) Được chăm sóc sức khỏe ban đầu Được KCB, sơ cứu, cấp cứu khi bị tai nạn, ốm đau tại nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và được chuyển lên khám chữa bệnh ở các tuyến chuyên môn kỹ thuật cao hơn khi bệnh vượt quá khả năng của tuyến dưới Trường hợp cấp cứu, tai nạn người có thẻ BHYT được khám, điều trị tại bất kỳ cơ sở y tế nào có hợp đồng khám chữa bệnh BHYT.
Khi đi khám chữa bệnh, bạn phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, chỉ cần xuất trình thẻ BHYT còn giá trị sử dụng.
Trường hợp cấp cứu: Được tiếp nhận tại bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) nào và phải xuất trình thẻ BHYT cùng với giấy tùy thân chứng minh nhân thân hợp lệ trước khi ra viện Trong quá trình điều trị phát hiện và phải điều trị một số bệnh thì điều trị tại nơi cơ sở KCB được tính đúng tuyến.
Trường hợp chuyển tuyến điều trị: Được chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định trong trường hợp cơ sở KCB BHYT vượt quá khả năng điều trị hoặc các dịch vụ kỹ thuật đơn vị không triển khai thực hiện Người bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ và giấy chuyển viện của cơ sở KCB chuyển tuyến.
Trong trường hợp cần chuyển tuyến kỹ thuật, quỹ BHYT thanh toán chi phí vận chuyển hai chiều cho các đối tượng được hưởng theo quy định, gồm sĩ quan hạ sĩ quan và người làm công tác cơ yếu; người có công với cách mạng; thân nhân người có công với cách mạng (cha đẻ, mẹ đẻ, con và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ); trẻ em dưới 6 tuổi; và người thuộc diện bảo trợ hàng tháng.
Trong trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia BHYT cần có giấy hẹn khám lại do cơ sở khám chữa bệnh cấp Giấy hẹn khám lại chỉ được sử dụng cho một lần thực hiện khám chữa bệnh duy nhất, nhằm đảm bảo quản lý chi phí và thanh toán theo quy định của BHYT.
Mức hưởng BHYT đúng tuyến
Khoản 1 Điều 22 Luật Bảo Hiểm y tế sửa đổi,bổ sung 2014 quy định, người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh đúng tuyến sẽ được quỹ BHYT thanh toán chi phí trong phạm vi được hưởng với mức hưởng:
Ở Việt Nam, 100% chi phí khám, chữa bệnh được chi trả cho các đối tượng sau: bộ đội, công an; người có công với cách mạng và cựu chiến binh; trẻ em dưới 06 tuổi; người thuộc hộ nghèo; và những người có thời gian tham gia BHYT liên tục 5 năm và có số tiền cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.
- 95% chi phí khám, chữa bệnh nếu là người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người thuộc hộ gia đình cận nghèo…
- 80% chi phí khám, chữa bệnh nếu là đối tượng khác.
Mức hưởng BHYT trái tuyến
Cũng theo Luật này, tại khoản 3 Điều 22, khi đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến, người có thẻ BHYT sẽ được quỹ BHYT thanh toán:
- 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương;
- 60% chi phí điều trị nội trú đến ngày 31/12/2020 tại bệnh viện tuyến tỉnh;
- 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện.
Quyền lợi khi tham gia BHTN
Theo quy định của bảo hiểm thất nghiệp, người lao động sẽ được hưởng 4 quyền lợi chính sau:
- Hưởng trợ cấp thất nghiệp
- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm
- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm.
1.6.1 Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định như sau:
- Người lao động đóng 1% tiền lương tháng.
- Người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN
1.6.2 Mức lương tối thiểu vùng
Vùng Mức lương tối thiểu vùng 2019
Mức lương thấp nhất đóng BHXH bắt buộc Người chưa qua học nghề
Người đã qua học nghề (+7%)
Bảng mức lương tối thiểu vùng
1.6.3 Tỷ lệ đóng BHXH,BHYT,BHTN
Tỷ lệ đóng BHXH BHYT BHTN Tổng
Bảng tỷ lệ đóng BHXH,BHYT,BHTN năm 2020
Chương 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THAM GIA BHXH,BHYT,BHTN CỦA NLĐ Ở VIỆT NAM
Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động tự do 20 1.Các kết quả đạt được của BHXH
Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH tự nguyện) đóng vai trò then chốt trong cân bằng quỹ BHXH cho tương lai và đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động Đối với người lao động tự do có thu nhập thấp và không ổn định, việc tham gia BHXH tự nguyện cho phép họ được hưởng lương hưu, từ đó chủ động và ổn định cuộc sống sau thời kỳ làm việc Đây là một chính sách mang tính nhân văn và có độ an toàn cao nhờ sự bảo trợ của Nhà nước.
2.1.1.Các kết quả đạt được của BHXH
Từ năm 2008 đến đầu năm 2017, kết quả thực hiện chính sách BHXHTN cho thấy đối tượng tham gia ngày càng tăng, và năm sau luôn cao hơn năm trước; tuy vậy, số lao động tham gia BHXHTN vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với số đối tượng thuộc diện tham gia, và việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn rất chậm.
Thực tế cho thấy số người tham gia BHXH tự nguyện chỉ chiếm khoảng 0,5% số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH; tính đến hết tháng 3/2017, cả nước có 235.000 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 9.000 người so với cùng kỳ năm 2016, phần lớn là nhóm đang đóng BHXH bắt buộc nghỉ việc tham gia tiếp BHXH tự nguyện, còn tỷ lệ mua BHXH tự nguyện ngay từ đầu rất thấp So với gần 13 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, số tham gia BHXH tự nguyện vẫn còn quá khiêm tốn Trong khi đó, cả nước còn khoảng 35 triệu lao động trong khu vực phi chính thức, lao động tự tạo việc làm, lao động giúp việc gia đình, nông dân thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện nhưng chưa tham gia.
Liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXHTN đã giúp gần 30.000 người đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng; trước đó, họ thuộc nhóm không có cơ hội nhận lương hưu vì chỉ đóng BHXH dưới 20 năm Dù vậy, tốc độ mở rộng đối tượng tham gia BHXHTN vẫn còn chậm.
2.1.2 Những bất cập của chính sách và công tác thực hiện triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện
Người lao động tự do có ít thời gian và điều kiện để tiếp cận văn bản pháp luật, trong khi công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXHTN chưa được chú trọng và chưa đi sâu rộng trong nhân dân, cùng với sự phối hợp giữa các cấp, ngành còn thiếu đồng bộ Theo khảo sát của Viện Phát triển Sức khỏe Cộng đồng Ánh Sáng (LIGHT), tới 91% người bán hàng rong chưa từng biết đến các quy định của Bộ Luật Lao động và 91,45% chưa nắm được BHXH, khiến cho số người tham gia BHXHTN vẫn còn rất thấp.
Hai là, tâm lý người dân vẫn chưa yên tâm khi tham gia BHXH tự nguyện Người lao động còn so sánh giữa tham gia BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc Về tỷ lệ đóng, người tham gia BHXH tự nguyện phải đóng tương đối cao (22%), trong khi phạm vi đóng BHXH bắt buộc được cho là 26% nhưng người lao động chỉ phải đóng 8% Khi tham gia BHXH tự nguyện, chế độ bảo hiểm chỉ thực hiện cho hưu trí và tử tuất; còn về BHYT, người dân sẽ tham gia theo hình thức BHYT hộ gia đình.
Người tham gia BHXHTN (bảo hiểm xã hội tự nguyện) hiện không được hưởng quyền lợi y tế gắn với hệ thống BHXH, trong khi người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng đầy đủ các chế độ như ốm đau, thai sản, dưỡng sức, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí và tử tuất Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi y tế và an toàn tài chính của người lao động, bởi BHXH bắt buộc mang lại dải chế độ đa dạng và ổn định hơn so với BHXHTN.
Ba là, điều kiện kinh tế của đa số lao động tự do còn thấp, trong khi
BHXHTN yêu cầu người tham gia có mức thu nhập tương đối ổn định và thời gian tham gia dài; sau 20 năm tham gia mới được hưởng chế độ Rất nhiều lao động tự do mong muốn khi về già được nhận lương hưu để trang trải cuộc sống hàng ngày, nhưng với thu nhập không dư dả khiến đa phần không dám nghĩ đến việc tham gia BHXHTN.
Mạng lưới đại lý thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (BHXHTN) còn hạn chế và chưa phát triển đồng bộ, khiến người lao động gặp khó khăn khi tham gia Mặc dù một số người có thông tin về BHXHTN, họ vẫn không biết đăng ký ở đâu hay làm sao để thực hiện thủ tục, mức đóng và quyền lợi hưởng ra sao Thủ tục đóng - hưởng phức tạp dễ làm người lao động ngại tham gia vì phải làm giấy tờ nhiều Ở một số địa phương, chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức tới chính sách BHXHTN Sự phối hợp giữa các cấp, ngành tại địa phương và cơ quan BHXH để tổ chức thực hiện chính sách BHXHTN còn thiếu tính thường xuyên, dẫn tới khó khăn trong cung cấp thông tin và hỗ trợ cho người dân.
2.1.3.BHXH VN khẳng định vị trí quan trọng đảm bảo an sinh xã hội
Với vai trò là trụ cột chính và quan trọng của hệ thống an sinh xã hội quốc gia, việc thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) là nền tảng để bảo đảm quyền được an sinh xã hội của mỗi công dân Điều này góp phần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm xã hội.
Trong suốt 24 năm xây dựng và phát triển (16/02/1995 - 16/02/2019), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXH Việt Nam) với chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, đồng thời tổ chức thu, chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT và BHTN, đã nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tham gia hưởng các chế độ BHXH, BHYT và BHTN ngày càng tốt hơn Đặc biệt, ngành đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác đảm bảo an sinh xã hội.
Trong suốt 24 năm hình thành và phát triển, Ngành đã ghi nhận nhiều thành tích nổi bật được thể hiện rõ qua những con số ấn tượng Với năm 2018 như một điểm nhấn, bức tranh tăng trưởng trở nên rõ ràng khi quy mô thị trường mở rộng, số lượng doanh nghiệp tham gia tăng lên và mức đóng góp cho nền kinh tế vượt trội Những con số này không chỉ cho thấy sự phát triển của hệ sinh thái và chất lượng sản phẩm mà còn phản ánh hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong Ngành Nhờ những kết quả này, vị thế của Ngành được củng cố và tạo động lực cho đầu tư, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh Việc phân tích dữ liệu năm 2018 giúp định hình chiến lược phát triển cho giai đoạn tới và đánh dấu một thời kỳ tiến bộ liên tục.
Trong năm 2018, ngành BHXH tiếp tục nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao Tính đến hết năm 2018, số người tham gia BHXH trên cả nước đạt trên 14,72 triệu người, chiếm khoảng 30,4% lực lượng lao động trong độ tuổi Số người tham gia BHTN đạt trên 12,6 triệu người, chiếm khoảng 26,2% lực lượng lao động trong độ tuổi Đặc biệt, tỷ lệ bao phủ BHYT tiếp tục tăng trưởng, đạt 88,5% dân số với trên 83,5 triệu người tham gia BHYT, vượt 3,3% so với chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao.
Việc mở rộng diện bao phủ BHXH và BHYT đi kèm với sự gia tăng của tổng thu về Quỹ BHXH, BHYT, ước đạt trên 332.000 tỷ đồng, tương đương 100,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao Đồng thời, số nợ được kiểm soát và giảm mạnh so với năm 2017, ở mức thấp nhất từ trước đến nay, chỉ bằng 1,7% số phải thu.
Chính sách BHXH và BHYT bảo đảm an sinh cho người tham gia bằng cách chi trả chi phí khám chữa bệnh và các chế độ bảo hiểm với quy mô lớn: gần 180 triệu lượt người được chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT; trên 10 triệu lượt người được hưởng các chế độ BHXH, BHTN với tổng số tiền chi trả lên tới gần 300.000 tỷ đồng Đáng chú ý, BHXH, BHYT đã bảo đảm cuộc sống cho 3,1 triệu người nghỉ hưu và mở ra cơ hội được chăm sóc y tế cho hàng triệu người mắc các bệnh nan y, với mức chi phí điều trị của mỗi người lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí nhiều người được BHYT thanh toán hàng tỷ đồng mỗi năm.
Thực trạng tham gia BHTN của NLĐ ở Việt Nam
Sau mười năm triển khai, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã dần đi vào cuộc sống và nhận được sự đón nhận tích cực từ cả người lao động lẫn doanh nghiệp Hiện nay, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp có hơn 13 triệu người tham gia.
Những kết quả đáng khích lệ
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tại Việt Nam đã được triển khai hơn 10 năm, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội nước ta Việt Nam là nước thứ hai ở khu vực ASEAN và là quốc gia thứ 79 trên thế giới thực hiện chính sách BHTN, thể hiện cam kết bảo vệ người lao động trước rủi ro mất việc làm Chính sách này không chỉ hỗ trợ tài chính cho người lao động thất nghiệp mà còn góp phần ổn định thị trường lao động và tăng cường khả năng tiếp cận việc làm thông qua các chương trình đào tạo, giới thiệu và tư vấn nghề nghiệp.
Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được thiết kế để hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trên thị trường lao động Việt Nam, bắt đầu thực hiện từ ngày 1-1-2009 và được quy định cụ thể trong Luật Bảo hiểm xã hội Đến ngày 1-1-2015, BHTN được thực hiện đồng bộ với Luật Việc làm, gắn với các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế sa thải và tích cực hỗ trợ người thất nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, cơ bản chính sách BHTN đã hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu triển khai và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động, với số người tham gia và mong muốn tham gia BHTN ngày càng tăng.
Số người tham gia BHTN tăng khoảng 10% mỗi năm và hiện đã vượt mốc
Có tới 13 triệu người liên quan đến chương trình này, với gần 4,6 triệu lượt người hưởng trợ cấp thất nghiệp Trong khuôn khổ hỗ trợ, hơn 177 nghìn người được học nghề Gần 97% người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn và được giới thiệu việc làm.
Trong những năm gần đây, số lượng người lao động đến trung tâm giao dịch việc làm để được tư vấn việc làm và nhận thông tin giới thiệu việc làm tăng lên, cho thấy vai trò của các dịch vụ này trong hỗ trợ thị trường lao động Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, nhiều người quay lại thị trường lao động nhưng không nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.
2.2.1 Những bật cập của BHTN ở Việt Nam
Lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Cụ thể, nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về bảo hiểm thất nghiệp chưa cao và nhiều người chưa nắm rõ thông tin về chính sách bảo hiểm thất nghiệp Đồng thời, nhiều doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp, con số này từng thời điểm lên tới hơn 200 tỷ đồng.
Công tác quản lý lao động vẫn còn nhiều bất cập bởi thiếu công cụ quản lý hiệu quả, khiến việc kiểm soát tình trạng việc làm của người lao động gặp khó khăn Hiện chúng ta chưa có đủ công cụ và giải pháp để giám sát và quản lý chặt chẽ công việc, nên thông tin về việc làm khó được cập nhật và đáng tin cậy Vẫn còn tình trạng người lao động vừa đi làm vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp, cho thấy khoảng trống trong quản lý và giám sát quyền lợi người lao động.
Mặt khác, việc thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp gặp khó khăn vì không kiểm soát được sự di chuyển của người lao động giữa nơi ở và nơi làm việc sang các địa phương khác, làm phức tạp quá trình rà soát và thu hồi.
Công tác cán bộ tại một số trung tâm dịch vụ việc làm vẫn còn nhiều khó khăn Hiện nay, tại các trung tâm mới chỉ có định suất lao động mà chưa có biên chế chính thức, dẫn tới thiếu sự ổn định về nhân sự và công tác quản trị Đội ngũ cán bộ thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến chuyên môn và chất lượng phục vụ người lao động, doanh nghiệp.
2.2.2.Bảng tỷ lệ NLĐ tham gia BHTN từ các doanh nghiệp 2014-2018
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ,ĐỀ XUẤT VỀ CÁC CHÍNH SÁCH
Một số giải pháp về các chính sách của BHXH,BHYT,BHTN
3.1.1.Tăng cường phát triển đối tượng tham gia BHXH
Chúng ta sẽ tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu, đề án và nhiệm vụ để triển khai có hiệu quả, đồng thời ban hành Nghị quyết số 125/NQ-CP và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH; kịp thời ban hành các kế hoạch triển khai các Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, và các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.
Chúng tôi tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan để hoàn thiện và trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 01/2016/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Đồng thời hoàn thiện các văn bản, quy định và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để triển khai Đề án "Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" trên toàn Ngành.
Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN; rà soát và ban hành các nghị định, văn bản hướng dẫn thực hiện các chính sách, pháp luật liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN, đặc biệt chú trọng các quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.
Chúng ta tiếp tục triển khai Nghị quyết 102/NQ-CP ngày 3/8/2018 của Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH và Chỉ thị 34/CT-TTg ngày 26/12/2016 nhằm tăng cường các nhóm giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH; đồng thời xây dựng các giải pháp phấn đấu thực hiện chỉ tiêu bao phủ BHYT của địa phương theo Quyết định 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ để nâng cao quyền lợi và an sinh cho người dân.
Đảm bảo kịp thời giao kế hoạch, dự toán thu, chi và phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN, BHYT năm 2020 ngay sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường kiểm tra, giám sát và đôn đốc BHXH các tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện; tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành, thanh tra chuyên ngành và thanh tra đột xuất tại các đơn vị, doanh nghiệp, nhất là những đơn vị nợ đọng, có dấu hiệu lạm dụng, trục lợi BHXH, BHTN, BHYT; kịp thời xử lý và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến BHXH, BHTN, BHYT.
3.1.2.Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền
Trong năm 2020, BHXH Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể, xã hội và cơ quan thông tấn, báo chí tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm và tính chất của từng nhóm đối tượng, vùng miền, tập trung vào phát triển BHXH tự nguyện Đồng thời, sẽ phối hợp với ngành Bưu điện quản lý chặt chẽ đối tượng thụ hưởng, đổi mới phương thức phục vụ, chi trả qua các tổ chức dịch vụ công và đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt theo chỉ đạo của Chính phủ Quản lý chặt chẽ chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn, trợ cấp một lần, chi trả trợ cấp BHTN; tăng cường kiểm soát chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB, đảm bảo thực hiện đúng dự toán được Chính phủ giao năm 2020.
Chính phủ yêu cầu tập trung quyết liệt triển khai các giải pháp nhằm đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu và kế hoạch thu, đồng thời phát triển đối tượng tham gia BHXH và BHYT năm 2019 Đồng thời, cần tăng cường xử lý nợ đọng BHXH, BHYT và rà soát, xử lý dữ liệu thẻ BHYT cấp trùng nhằm nâng cao tính chính xác của hệ thống Cũng cần hoàn thiện dữ liệu hộ gia đình và cấp mã số BHXH cho người tham gia để quản lý thông tin người tham gia một cách hiệu quả và bền vững.
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời nâng cấp cơ sở hạ tầng và hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung cùng các phần mềm nghiệp vụ của ngành BHXH; triển khai hiệu quả hệ thống tương tác đa phương tiện với người dân và doanh nghiệp, mở rộng cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và đẩy mạnh giao dịch điện tử; quản lý và sử dụng văn bản điện tử trong hệ thống BHXH và trên trục liên thông của Chính phủ để tăng cường liên thông, trao đổi thông tin và hiệu quả quản lý.
BHXH tỉnh tăng cường chỉ đạo các đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của công chức, viên chức và người lao động ngành BHXH Đồng thời, quy tắc ứng xử được quán triệt và thực thi nghiêm túc để bảo đảm thái độ phục vụ chuyên nghiệp, tôn trọng người dân và hiệu quả công tác Việc tăng cường các chuẩn mực này sẽ nâng cao chất lượng phục vụ, trách nhiệm giải trình và niềm tin của xã hội đối với hệ thống BHXH.
Một số kiến nghị về chính sách BHXH,BHYT,BHTN
3.2.1.Về công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Chính phủ và các bộ, ngành sẽ sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm thực hiện các quy định còn chưa rõ và tháo gỡ những vướng mắc hiện hữu trong việc thực hiện BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp, nhằm làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, thống nhất cơ chế đóng, thanh toán và quản lý hồ sơ, đồng thời bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, công bằng và hiệu quả đối với hệ thống an sinh xã hội.
Nội dung còn tồn tại một số vướng mắc do hướng dẫn chưa rõ, tập trung ở các vấn đề như: giải quyết tính hưởng BHXH đối với trường hợp doanh nghiệp sau cổ phần hóa tiếp tục xếp hạng doanh nghiệp; xác định mức thu nhập hàng tháng để tính các chế độ BHXH; trách nhiệm nuôi dưỡng đối với thân nhân hưởng chế độ tử tuất để giải quyết tuất hàng tháng hoặc tuất một lần; hướng dẫn thủ tục và phân công trách nhiệm trong việc giải quyết chế độ đối với bệnh binh hoặc công nhân viên chức hưởng trợ cấp mất sức lao động đồng thời là thương binh.
Hiện còn thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể liên quan đến quy định giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động để được hưởng trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp tổng hợp; chưa có quy định khen thưởng đối với đơn vị sử dụng lao động làm tốt công tác an toàn vệ sinh lao động theo khoản 2 Điều 133 Luật Bảo hiểm xã hội; đồng thời cần hướng dẫn thực hiện BHXH đối với người tham gia BHXH tự nguyện sau chuyển sang tham gia BHXH bắt buộc.
Hiện còn một số văn bản chưa được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với quy định của Luật, bao gồm văn bản hướng dẫn khám chữa bệnh ngoại trú, danh mục các bệnh cần nghỉ việc để chữa trị dài ngày, hướng dẫn khai báo, điều tra và lập biên bản tai nạn lao động; hồ sơ và quy trình giám định y khoa cho người tham gia BHXH; và quy định việc lập biên bản tai nạn giao thông cho người tham gia BHXH bị tai nạn trên đường đi làm việc.
3.2.2.Về chế tài bảo đảm việc thực thi pháp luật BHXH, BHYT
- Cụ thể hóa và quy định rõ trách nhiệm đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành có liên quan trong việc phối hợp, kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý các vi phạm về thực hiện chính sách BHXH, BHYT; đồng thời cải cách thủ tục, trình tự xử phạt sao cho đơn giản, thuận tiện và hiệu quả.
- Nâng mức phạt và bổ sung hình thức truy tố trước pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH.
3.2.3.Về thực hiện BHXH tự nguyện Để thu hút được nhiều đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, các bộ, ngành, chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể các cấp theo chức năng của mình phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện với mục tiêu ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước; đồng thời nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước với quỹ BHXH tự nguyện hoặc hỗ trợ một số đối tượng khó khăn như người nghèo, người cận nghèo để họ có khả năng tham gia BHXH tự nguyện.
Cũng cần hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện BHTN Nâng cao hơn chất lượng hoạt động của các tổ chức dịch vụ việc làm để thực hiện tốt tư vấn/ hỗ trợ việc làm - hướng giải quyết người thất nghiệp một cách bền vững nhất.
Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là cần thiết và không thể chậm trễ Điều này bảo đảm sự đồng bộ giữa công nghệ và kỹ thuật với cải cách hành chính và phương thức làm việc của tổ chức thực hiện BHTN, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý, đơn giản hóa thủ tục và cải thiện trải nghiệm người dân tham gia BHTN.