1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI TẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC đề TÀI VẤN đề DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ độ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LIÊN HỆ VỚI VẤN đề DÂN TỘC ở VIỆT NAM HIỆN NAY

37 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước như hiện nay, để ổn định tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trong nước đồng thời thúc đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH



BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LIÊN HỆ VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL

Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC (MSMH: SP1035)

Nhóm/Lớp: CC01 Tên nhóm: 14 HK: 211 Năm học: 2021-2022

Đề tài:

VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

LIÊN HỆ VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

………

STT Mã số SV Họ Tên Nhiệm vụ được phân công % Điểm BTL Điểm BTL Ký tên 1 1952793 Nguyễn Chính Khôi 1.1, Phần kết luận 100% 2 1952255 Nguyễn Hoàng 2.2.1, 2.2.2 100% 3 1952713 Cao Bá Huy 2.1 100% 4 1952588 Lê Đức Cầm Phần mở đầu 100% 5 1910551 Nguyễn Quốc Thắng 2.2.3, Tiểu kết chương 2 100% 6 1952295 Đỗ Đăng Khoa 1.2, Tiểu kết chương 1 100% Họ và tên nhóm trưởng: Nguyễn Chính Khôi Số ĐT: 0919877216 Email: khoi.nguyensimnor@hcmut.edu.vn Nhận xét của GV:

GIẢNG VIÊN

(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên) NHÓM TRƯỞNG

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Nhiệm vụ của đề tài 2

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỐC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 4

1.1 Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 4

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc 4

1.1.2 Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc 8

1.2 Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc 11

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 13

Chương 2: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 14

2.1 Vấn đề dân tộc ở Việt Nam 14

2.1.1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam 14

2.1.2 Quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc 16

2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam 20

2.2.1 Những thành tựu về việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay 20

2.2.2 Một số hạn chế cần khắc phục 22

2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam 25

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 27

PHẦN KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 4

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước như hiện nay,

để ổn định tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trong nước đồng thời thúc đẩy sản xuất công nghiệp, khoa học kĩ thuật, quốc phòng an ninh và giao lưu với bạn bè quốc tế thì việc có được những chính sách, bước tiến, hành động nhằm gắn kết các dân tộc, các tổ chức, các tỉnh thành và các vùng miền lại với nhau là nhiệm vụ tuyệt đối quan trọng bởi nó quyết định vấn đề thành hay bại của một quốc gia Không những thế, chính sách dân tộc đúng đắn sẽ góp phần duy trì, cải thiện và khẳng định chủ trương của Đảng

và nhà nước về thực hiện bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Các chính sách giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện tại tập trung vào việc

cụ thể hóa những quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc, xây dựng và thực hiện những chính sách trên phải dựa vào những nguyên tắc cơ bản như: bình đẳng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan

hệ giữa các dân tộc và cùng nhau phát triển Về mục tiêu, chính sách dân tộc khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của các dân tộc và của cả đất nước, từng bước khắc phục và làm giảm đi khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền, xóa đói giảm nghèo, thực hiện

sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách về vấn đề dân tộc để xử lí các vấn đề thực tiễn, quan trọng và đã đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên để có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho tương lai, chúng ta phải liên tục phân tích, đánh giá, nhìn nhận khách quan và đưa ra các giải pháp tối ưu hơn để tháo

gỡ các bất cập, hạn chế trong công tác dân tộc Hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn tích cực thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện và có khoa học các giải pháp để giải quyết, hoàn thiện các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, về vấn đề kinh tế: cần tập trung phát triển kinh tế hàng hóa, phát huy

các nguồn lực, tiềm năng kinh tế của mọi vùng miền, từ miền núi sang tới đồng bằng và hải đảo, không để cá nhân hay bộ phận dân tộc thiểu số nào bị bỏ lại phía sau Xây dựng

Trang 5

2

kết cấu hạ tầng và mạng lưới giao thông đến mọi vùng kinh tế, thực hiện chính sách về định cư và bảo vệ môi trường

Thứ hai, về chính trị - xã hội: phát huy quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc

trên mọi lĩnh vực trong đời sống, thực hiện công bằng xã hội giúp người dân thuộc bất

kì dân tộc nào đều có cơ hội và động lực mạnh mẽ nhất để biến tiềm năng thành thành tựu

Thứ ba, về văn hóa - xã hội: chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tập

trung xóa đói giảm nghèo, đấu tranh chống lại tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, văn hóa phẩm độc hại, thiếu đạo đức Ngoài ra còn phải dùy trì, lưu giữ các nét đẹp văn hóa đặc trưng của các dân tộc ở mỗi vùng miền

Thứ tư, về quốc phòng - an ninh: bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,

ngăn chặn mọi hành động gây chia rẽ, kích động làm mâu thuẫn mối quan hệ giữa các dân tộc Tiến tới xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân

2 Nhiệm vụ của đề tài

Từ các lý do, đã đề cập ở trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài

“Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Liên hệ với vấn đề dân tộc ở việt nam hiện nay” với các mục tiêu cụ thể sau:

Một là, tìm hiểu về khái niệm và các đặc trưng cơ bản của vấn đề dân tộc, chỉ rõ

sự thống nhất biện chứng của các mối quan hệ cộng đồng từ đó hiểu sâu hơn về sự hình thành các dân tộc, cộng đồng dân tộc xuyên suốt lịch sử và các yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình trên

Hai là, phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc Chủ

nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, có vai trò đặc biệt quan trọng việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc

Ba là, khái quát tình hình về việc ban hành và triển khai các chính sách dân tộc

ở Việt Nam và làm rõ các đặc điểm cơ bản của chúng Chính sách về vấn đề dân tộc sẽ góp phần quyết định khá lớn trong các lĩnh vực đời sống - kinh tế - xã hội, vậy nên để

Trang 6

3

có được một chính sách mang tính cách mạng, thực tiễn, tiến bộ, nhân đạo và cân bằng

lợi ích một cách hài hòa là điều phải cố gắng thực hiện

Bốn là, đánh giá thực trạng và tính thực tiễn của các chính sách dân tộc ở Việt

Nam hiện nay trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc từ cơ bản đến phức tạp nhằm có một cái nhìn chuyên sâu, kĩ lưỡng về các chính sách đấy từ đó làm nền móng cho các giải pháp về vấn đề dân tộc của một quốc gia

Năm là, đề xuất các giải pháp để tháo gỡ hạn chế và cải thiện các quyết sách

nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, gia tăng nguồn lực phát triển các lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, quốc phòng

an ninh… làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước

Trang 7

4

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỐC

TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1.1 Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Ở phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muỗi

và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán

Cho đến nay, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, dân tộc (nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người

ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhân bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống điểu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để

chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nước Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam v.v

Theo nghĩa rộng, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định

Lãnh thổ là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa lý của một dân tộc, biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu Lãnh thổ là yếu tố thể hiện chủ quyền của một dân tộc trong tương quan với các quốc gia dân tộc

Trang 8

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay quá trình di cư khiến không ít cư dân của một quốc gia lại cư trú ở nhiều quốc gia châu lục khác Vậy nên, khái niệm dân tộc, lãnh thổ, hay đường biên giới không chỉ bó hẹp trong biên giới hữu hình, mà đã được

mở rộng thành đường biên giới “mềm”, ở đó đầu ấn văn hóa lại chính là yếu tố mạnh nhất để phân định ranh giới giữa các quốc gia dân tộc

Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế

Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, là cơ sở để gắn kết các bộ phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định, bền vững của dân tộc Mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc Nếu thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở thành dân tộc

Thứ ba, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp

Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và tình cảm Trong một quốc gia có nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ có một ngôn ngữ chung, thống nhất, Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho

từ vựng cơ bản Ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ đã phát triển và sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc

Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý

Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý tính cách, phong tục, tập quán, lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc Văn hóa dân tộc gắn bó chặt

Trang 9

6

chẽ với văn hóa của các cộng đồng tộc người trong một quốc gia Văn hóa là một yếu

tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của dân tộc mình Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó

Cá nhân hoặc nhóm người nào từ chối những giá trị văn hóa dân tộc thì họ đã tự mình tách khỏi cộng đồng dân tộc Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển nếu không giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác Tuy nhiên trong giao lưu văn hóa, các dân tộc luôn có ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc của mình, tránh nguy cơ đồng hóa về văn hóa

Thứ năm, có chung một nhà nước (nhà nước dân tộc)

Các thành viên cũng như các cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập Đây là yếu tố phân biệt dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người Dân tộc - tộc người trong một quốc gia không có nhà nước với thể chế chính trị riêng Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính trị của dân tộc quyết định Nhà nước là đặc trưng cho thể chế chính trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc 1a dân tộc khác trên thể giới

Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Các đặc trưng ấy có quan hệ nhân quả, tác động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và độc đáo trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng dân tộc

Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một công động tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa Công đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ

tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của quốc gia Chẳng hạn, Việt Nam

là quốc gia có 54 dân tộc tức 54 cộng đồng tộc người Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người

Dân tộc — tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau:

Trang 10

7

- Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng

ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người

vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp

- Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi

tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của

họ Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người

- Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc

người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình: đó còn

là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người

Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển Đồng thời căn cứ vào ba tiêu chí này để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam hiện nay

Thực chất, hai cách hiểu trên về khái niệm dân tộc, tuy không đồng nhất nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc người Dân tộc tộc người là bộ phận hình thành dân tộc quốc gia Dân tộc tộc người

ra đời trong những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố hình thành dân tộc tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia Đấy là lý do, khi nói đến dân tộc Việt Nam thì không thể bỏ qua 54 cộng đồng tộc người, trái lại, khi nói đến 54 cộng đồng tộc người ở Việt Nam phải gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam

Trang 11

8

1.1.2 Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc

1.1.2.1 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I.Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong

sự phát triển quan hệ dân tộc

Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân

tộc độc lập Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức

về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập

Xu hướng này thể hiện rõ nét trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước thực dân, đế quốc

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều

quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa

tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi bóc lột thuộc địa; do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong

xã hội tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau

Trong thời đại ngày nay, hai xu hướng này diễn ra với những biểu hiện rất đa đảng và phong phú

Trong phạm vi một quốc gia

Xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc (tộc người) để đi tới

sự tự do, bình đẳng và phồn vinh của dân tộc mình Xu hướng thứ hai thể hiện ở sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc trong một cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hòa hợp với nhau ở mức độ cao hơn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong phạm vi quốc tế

Trong thời đại ngày nay, xu hướng thứ nhất của sự phát triển dân tộc thể hiện trong phong trào giải phóng dân tộc nhằm chống lại chủ nghĩa để quốc và chống chính sách thực dân đô hộ dưới mọi hình thức, phá bỏ mọi áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế

Trang 12

9

quốc Độc lập dân tộc chính là mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia trong thời đại ngày nay Độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý của thời đại, là sức mạnh hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc Xu hướng thứ hai thể hiện ở xu thể các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác với nhau để hình thành liên minh dân tộc ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu Xu hướng này tạo điều kiện

để các dân tộc tận dụng tối đa những cơ hội, thuận lợi từ bên ngoài để phát triển phồn vinh dân tộc minh

Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc có sự thống nhất biện chứng với nhau trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại Trong mọi trường hợp, hai xu hướng đó luôn có sự tác động qua lại với nhau, hề trợ cho nhau, mọi

sự vi phạm mối quan hệ biện chứng này đều dẫn tới những hậu quả tiêu cực, khó lường Hiện nay, hai xu hướng nêu trên diễn ra khá phức tạp trên phạm vi quốc tế và trong từng quốc gia, thậm chí nó bị lợi dụng vào mục đích chính trị nhằm thực hiện chiến lược

“diễn biến hòa bình”

1.1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ dân tộc - giai cấp

C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc với tư cách là một bộ phận chung của cách mạng vô sản, tức là vấn đề lợi ích của giai cấp công nhân gắn với lợi ích của dân tộc và của cách mạng thế giới Cách mạng giải phóng dân tộc bị

áp bức, xét đến cùng là việc giải quyết mâu thuẫn của các giai cấp bị áp bức với các giai cấp đi áp bức, bóc lột Vì vậy, chỉ khi lựa chọn được một giai cấp tiến bộ, cách mạng,

có đủ sức để tập hợp lực lượng, lôi kéo đông đảo quần chúng của cả dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng áp bức thì dân tộc đó mới được giải phóng, qua đó giải phóng giai cấp Khi đó giai cấp cách mạng sẽ trở thành giai cấp mang tính dân tộc, đại diện cho lợi ích của dân tộc Vì vậy, để thực hiện cuộc cách mạng “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” 1 , và “giai cấp công nhân không thể mạnh lên được, không thể trưởng thành và hình thành được nếu không “tự tổ chức trong khuôn khổ của dân tộc”, nếu không “có tính chất dân tộc” 2

1 C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.623 - 624

2 V.I.Lênin (2006), Toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.88

Trang 13

10

3 V.I.Lênin (2006), Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.414

Theo V.I.Lênin, có áp bức dân tộc thì có đấu tranh dân tộc Sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc tất yếu sản sinh ra phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc trên quy

mô toàn thế giới Thời đại C.Mác và Ph.Ăngghen, phong trào giải phóng dân tộc chưa phát triển, các phong trào giành quyền tự quyết của dân tộc bị áp bức chủ yếu diễn ra trong nội bộ quốc gia đa dân tộc và hầu hết do giai cấp tư sản lãnh đạo Thời đại của V.I.Lênin đã có nhiều thay đổi, phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX có tính chất chủ động lịch sử lớn hơn nhiều so với phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XIX V.I.Lênin dự báo: “ngày mai đây của lịch sử toàn thế giới sẽ chính là ngày mà các dân tộc bị bọn đế quốc áp bức được thức tỉnh, sẽ dứt khoát vùng dậy, và bắt đầu một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài và gian khổ để tự giải phóng mình” 3 Vì vậy, muốn làm cho lực lượng cách mạng vô sản tăng lên gấp bội, nhất thiết phải thực hiện được sự kết hợp chặt chẽ, sự thống nhất cao độ giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Theo V.I.Lênin, nhiệm vụ của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc là vì sự nghiệp giải phóng của chính bản thân, phải ủng hộ hết sức mình phong trào giải phóng dân tộc, phải đấu tranh chống chủ nghĩa nước lớn, chống chủ nghĩa sô vanh, “chủ nghĩa vệ quốc” của bọn

đế quốc phản động Cách mạng giải phóng dân tộc là đồng minh tự nhiên của phong trào vô sản

Trang 14

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Nga và cách mạng thế giới đầu thế kỷ XX, đối với vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc, do yêu cầu phải đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc, một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của chủ nghĩa cộng sản, V.I.Lênin đã tập trung làm nổi bật nhân tố giai cấp, nhân tố quốc tế Điều này hoàn toàn đúng Song, điều kiện ấy, không tránh khỏi có những trường hợp vấn đề dân tộc chưa được đề cập đúng mức Chính V.I.Lênin sau đó đã nâng vấn đề dân tộc lên, làm sâu sắc thêm quan điểm giai cấp, điều chỉnh một số nhận định cho phù hợp với điều kiện phong trào giải phóng dân tộc đã phát triển thành cao trào rộng lớn

Trang 15

Việc xây dựng những biện pháp giải quyết vấn đề dân tộc ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là vấn đề cấp bách và mang tính quan trọng cao cho sự phát triển vương lên mạnh mẽ của đất nước trong sự nghiệp quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Tầm vóc chiến lược to lớn đòi hỏi ở chúng ta sự suy nghĩ, chuẩn bị chu đáo nhằm giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả và thông minh nhất

Để giải quyết được bất kỳ một vấn đề, trước tiên ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng

về chính vấn đề đó Xét theo quan điểu của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề về dân tộc thực chất là một bộ phận của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính

vô sản Vì lý do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc, ta phải gắn liền nó với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng xã hội chủ nghĩa Một điểm đáng xét đến được nhắc tới bởi chủ nghĩa Mác – Lênin là, khi xem xét và giải quyết vấn để dân tộc, ta phải dựa trên lập trường phải đáp ứng được nhu cầu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Hay nói cách khác, điều đó cũng có nghĩa là việc xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc phải đặt trên cơ sở giải quyết vì quyền lợi của dân tộc, bám sát và bảo đảm lợi ích chung của cả dân tộc được đưa lên làm ưu tiên hàng đầu

Bản chất của vấn đề dân tộc là về sự mâu thuẫn, va chạm lợi ích giữa các dân tộc trong các quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc

tế trên mọi lĩnh vực Theo lẽ đó, bản chất của giải quyết vấn đề dân tộc trên thực tế là hình thành một quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong cùng một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới về mọi lĩnh vực

Trang 16

Cương lĩnh nêu ra 3 nội dung cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc như sau:

Nội dung thứ nhất: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ,

ở trình độ phát triển cao hay thấp Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa

Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế

Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết

và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc

Nội dung thứ hai: Các dân tộc được quyền tự quyết

Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền

tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình

Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất

Trang 17

Nội dung thứ ba: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc

và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính

Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thể

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày những nội dung cơ bản về vấn đề dân tộc dưới góc nhìn của chủ nghĩa Mác Lênin Dân tộc là một cộng đồng dân cư dùng để chỉ một quốc gia hay chỉ một bộ phận dân cư của một quốc gia Trong quá trình phát triển, xây dựng cuộc sống mà xảy ra mâu thuẫn do không có cùng lợi ích, mục đích chung Những mâu thuẫn này đã dẫn đến xảy ra nhiều vấn đề được biết đến là vấn đề dân tộc với nhiều hậu quả nghiêm trọng vẫn đang xảy ra hằng ngày Để giải quyết vấn đề dân tộc, ta cần dựa trên nội dung Cương lĩnh dân tộc nêu lên bởi Lênin và vận dụng cho phù hợp với công cuộc

quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 18

14

Chương 2

VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Vấn đề dân tộc ở Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam

Thứ nhất, có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người

Dân tộc Việt Nam có tất cả 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất không đồng đều nhau Theo tài liệu chính phủ mới nhất, dân tộc Kinh chiếm đa số tổng dân số của nước Việt Nam xấp xỉ 82 triệu người và chiếm 85,3% tổng dân số Trong khi đó, các dân tộc khác chỉ chiếm 14,7% với tổng cộng 14 triệu người Đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng núi, vùng sâu vùng xa và có dân số chỉ chiếm dưới 1% tổng dân số cả nước, ví dụ như dân tộc Ba Na, dân tộc Ê Đê, dân tộc Chăm…

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài và có sự chênh lệch đáng kể giữa nhiều khía cạnh, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn

Thứ hai, các dân tộc Việt Nam cư trú và sinh sống xen kẽ lẫn nhau

Tuy một số dân tộc sinh sống tập trung chủ yếu ở một số vùng nhất định như dân tộc Ba Na sinh sống chủ yếu ở vùng núi Tây Nguyên, dân tộc Lào sinh sống chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc, song nhìn chung đa số các dân tộc sống đan xen nhau, không có lãnh thổ riêng biệt

Việc sinh sống đan xen lẫn nhau của các dân tộc tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường quan hệ mọi mặt giữa các dân tộc, xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày càng gắn bó vững chắc để cùng nhau tiến bộ và phát triển và để từng bước thu hẹp chênh lệch

về trình độ văn hóa giữa các dân tộc với nhau

Thứ ba, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yêu ở các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng

Ngày đăng: 24/01/2022, 18:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me trong tình hình mới, https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/chi-thi-cua-ban-bi-thu-ve-tang-cuong-cong-tac-o-vung-dong-bao-dan-toc-kho-me-trong-tinh-hinh-moi-314308/, ngày truy cập 01/10/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2021
5. Giàng Seo Phử (2011), Tập trung đầu tư phát triển nhanh, bền vững vùng dân tộc thiểu số, miền núi, https://bitly.com.vn/gnx7xm, ngày truy cập 30/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung đầu tư phát triển nhanh, bền vững vùng dân tộc thiểu số, miền núi
Tác giả: Giàng Seo Phử
Năm: 2011
7. Lê Hoà. (2018). Nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện từ vùng “năm nhất”, https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/nhieu-thanh-tuu-quan-trong-toan-dien-tu-vung-nam-nhat-338816/, ngày truy cập 25/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện từ vùng “năm nhất”
Tác giả: Lê Hoà
Năm: 2018
8. Nguyễn Quỳnh Hoa (2017), Chính sách dân tộc tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức cần vượt qua, https://bom.to/uL2fNzQwtcXg9, ngày truy cập 24/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức cần vượt qua
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa
Năm: 2017
9. Nguyễn Thị Thu Thanh (2021), Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/821701/chinh-sach-dan-toc-cua-viet-nam-qua-35-nam-doi-moi.aspx,ngày truy cập 20/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thanh
Năm: 2021
10. Phạm Vĩnh Hà (2020), Đa dạng văn hóa ở Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và vấn đề chính sách, https://vass.gov.vn/hoi-nghi-hoi-thao/Da-dang-van-hoa-o-Viet-Nam-1229, ngày truy cập 21/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa ở Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và vấn đề chính sách
Tác giả: Phạm Vĩnh Hà
Năm: 2020
12. Thủ tướng Chính phủ (2001). Quyết định 143/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-143-2001-QD-TTg-phe-duyet-Chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xoa-doi-giam-ngheo-va-viec-lam-giai-doan-2001-2005-48367.aspx, ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 143/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005”
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2001
13. U Minh Nam (2020), Công tác thể chế đường lối, quan điểm của Đảng đối với vấn đề dân tộc, http://www.bandantoc.kontum.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/Cong-tac-the-che-duong-loi,-quan-diem-cua-Dang-doi-voi-van-de-dan-toc-811, ngày truy cập 25/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thể chế đường lối, quan điểm của Đảng đối với vấn đề dân tộc
Tác giả: U Minh Nam
Năm: 2020
15. Vy Xuân Hoa (2008), Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam, http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=Print&mid=1692, ngày truy cập 03/10/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Vy Xuân Hoa
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho sinh viên đại học khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
11. Thủ tướng Chính phủ (1998). Quyết định 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w