Bài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương Mại Bài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương MạiBài tổng hợp luật kinh tế Đại học Thương Mại
Trang 1Tình huống thảo luận
Ngày 20/3/2015, Công ty TNHH A (sau đây gọi tắt là Công ty A) có trụ sở tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh ký Hợp đồng số 34/HĐĐN-06 mua khoai mì lát của Doanh nghiệp tư nhân B (sau đây gọi tắt là DNTN B) có trụ sở tại xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, do bà C làm chủ doanh nghiệp, số lượng 3.000 tấn, đơn giá 1,73 triệu đồng/1tấn, tổng giá trị hợp đồng là 5,19tỷ đồng
Ngày 09/5/2015, Công ty A tiếp tục ký Hợp đồng số 35/HĐĐN-06, mua khoai mì lát của DNTN B, số lượng 2.000 tấn, đơn giá 1,73 triệu đồng/tấn, tổng giá trị hợp đồng là 3,46 tỷ đồng (BL48)
Tổng giá trị hai hợp đồng là 8,65 tỷ đồng
Công ty A đã thanh toán cho DNTN B bằng chuyển khoản 7 lần (từ ngày 22/3/2015) với tổng số tiền là 8 tỷ đồng
Ngày 04/6/2015, DNTN B có đủ hàng để giao nhưng do quá trình thu mua, thời hạn kéo dài, khoai mì đổi màu, Công ty A không nhận vì cho rằng chất lượng hàng không đạt, hai bên thoả thuận rằng DNTN B mua lại số khoai mì nói trên với giá 8 tỷ đồng và chịu lãi
160 đồng/1kg; tổng cộng DNTN B phải trả Công ty A 8,8 tỷ đồng với thời hạn thanh toán chậm chất là ngày 15/8/2015; nếu quá thời hạn trên mà không thanh toán thì DNTN B phải chịu lãi suất chậm thanh toán 1,1%/tháng (kể từ ngày 16/8/2015) và phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 5%/tháng (kể từ ngày 16/8/2006); cộng hai khoản là 6,1% /tháng trên số tiền còn nợ
DNTN B đã trả 800 triệu đồng, cụ thể: ngày 11/7/2015 trả 500 triệu đồng, ngày 10/8/2015 trả 100 triệu đồng; ngày 15/8/2015 trả 200 triệu đồng; còn 8 tỷ đồng tiền vốn hẹn đến ngày 30/9/2015 trả.Quá hẹn, DNTN B vẫn không trả được
Ngày 15/01/2016, kho hàng của DNTN B bị cháy làm thiệt hại trên 10 tỷ đồng nên DNTN B gặp khó khăn trong việc thanh toán cho Công ty A
Sau nhiều lần đòi nợ không thành, Công ty A quyết định kiện ra Tòa án
Câu hỏi:
1 Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc?
2 Thỏa thuận về mức lãi và phạt 6,1%/tháng giữa công ty A và chủ DNTN B có hợp pháp không ? Căn cứ vào luật nào?
3 Việc kho hàng của DNTN B bị cháy có là yếu tố để Tòa án cho phép DNTN B không phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cho DNTN B không?
Trang 21.Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc?
*Công ty TNHH A (sau đây gọi tắt là Công ty A) có trụ sở tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh
*Doanh nghiệp tư nhân B (sau đây gọi tắt là DNTN B) có trụ sở tại xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, do bà C làm chủ doanh nghiệp
-Theo khoản 3a điều 38 Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh -Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì :
“Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp , yêu cầu về kinh doanh , thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự”
-Theo khoản 1a điều 37 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh- Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những vụ việc sau:
“Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30, 32 của bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 điều 35 của bộ luật này”
Mà trong trường hợp này công ty A và DNTN B tranh chấp về kinh doanh thương mại trong việc công ty A đòi nợ doanh nghiệp B không thành công nhiều lần, dẫn đến công ty
A quyết định kiện DNTN B ra Tòa án
=>TAND tỉnh Tây Ninh có căn cứ để nhận thụ lý đơn kiện của công ty A
-Theo khoản 1 điều 30 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án -Bộ luật tố tụng dân sự 2015 :
“Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”
Trong trường hợp này DNTN B đã có hành vi vi phạm pháp luật về thương mại :giao hàng kém chất lượng cho công ty A,chậm trả nợ cho A và khi A gia hạn DNTN B cũng vẫn không hoàn thành thanh toán đầy đủ
Trang 3-Theo quy định tại điều 39 Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ -Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu
bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
=> Bị đơn ở đây là DNTN B thuộc tỉnh Tây Ninh,theo điều khoản này thì TAND tỉnh Tây Ninh có thẩm quyền giải quyết vụ việc
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
=> Nguyên đơn ở đây là công ty A có trụ sở tại quận 5 TP HCM,như vây Công ty A và DNTN B có thể thỏa thuận về việc yêu cầu TAND tp HCM thụ lý vụ việc này.
-Điều 40 Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu
cầu-bộ luật tố tụng dân sự 2015
1.Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
b)Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
2 Người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:
Trang 4a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ
sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;
=>Công ty A có quyền lựa chọn tòa án nơi công ty đặt trụ sở là Tp HCM thụ lý đơn kiện
=>Từ những điều khoản trên,Về nguyên tắc công ty A có thể lựa chọn nộp đơn khởi kiện tại TP HCM hoặc tỉnh Tây Ninh A và B cũng có thể thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quan
có thẩm quyền thụ lý đơn kiện.Tuy nhiên theo vụ việc trên thì khả năng TAND tỉnh Tây Ninh có khả năng thụ lý giải quyết cao hơn
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về thẩm quyền thì Chánh án TANDTC sẽ là người
quyết định cuối cùng TA nào sẽ thụ lý vụ án (khoản 3 điều 37 luật TTDS).
Thẩm quyền của Toà án các cấp
Khoản 3, Điều 37.Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền-Bộ luật tố tụng dân sự 2004(sửa đổi bổ sung năm 2011).
“Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấp tỉnh do Chánh
án Toà án nhân dân tối cao giải quyết.”
Trang 52 Thỏa thuận về mức lãi và phạt 6,1%/tháng giữa công ty A và chủ DNTN B có hợp pháp không ? Căn cứ vào luật nào?
Do DN B giao hàng kém chất lượng nên công ty A và B đã có thỏa thuận như sau:
DNTN B phải trả Công ty A 8,8 tỷ đồng(=8 tỷ mua lại số hàng + chịu lãi 160đồng/kg )với thời hạn thanh toán chậm chất là ngày 15/8/2015; nếu quá thời hạn trên mà không thanh toán thì DNTN B phải chịu lãi suất chậm thanh toán 1,1%/tháng (kể từ ngày 16/8/2015)
và phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 5%/tháng (kể từ ngày 16/8/2006); cộng hai khoản là 6,1% /tháng trên số tiền còn nợ
Doanh nghiệp B đã trả cho công ty A 800 triệu:
11/07/2015 trả 500 triệu đồng
10/08/2015 trả 100 triệu đồng
15/08/2015 trả 200 triệu đồng
B hẹn sẽ trả nốt cho A 8 tỷ vào 30/09/2015 nhưng quá hạn
Kho hàng của B bị cháy thiệt hại 10 tỷ đồng vào ngày 15/01/2016
-Theo Điều 422 Thực hiện hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm – Bộ luật Dân sự
2005 :
+Khoản1:” Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.”
+Khoản 2:” Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.”
+Khoản 3:” Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.”
Trong tình huống ,Do DNTN B giao hàng chất lượng kém,công ty A không nhận số hàng trên và yêu cầu DNTN B phải trả Công ty A 8,8 tỷ đồng(=8 tỷ mua lại số hàng + chịu lãi 160đồng/kg )với thời hạn thanh toán chậm chất là ngày 15/8/2015
Trang 6Ở đây phần lãi 160đồng/kg là phần DNTN B phải đền bù cho công ty A vì khi B giao hàng kém chất lượng,công ty A phải tìm kiếm và thu mua hàng của DN khác sẽ mất thời gian,làm chậm tiến độ sản xuất,thiệt hại về kinh tế của công ty A…
=>Bên B là bên có vi phạm hợp đồng do hàng giao kém chất lượng, A và B tiến hành thỏa thuận về việc giải quyết vi phạm là đúng luật.Và phần lãi 160đồng/kg do A và B thỏa thuận là phần mà B phải trả để bù thiệt hại cho A là hợp pháp
*Nghĩa vụ trả tiền
-Theo Khoản 2, Điều 438, bộ Luật dân sự 2005: Nghĩa vụ trả tiền
’Bên mua phải trả lãi , kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của bộ luật này,trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác’
-Theo Khoản 1,Điều 305- Bộ luật dân sự 2005: Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự :
" Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có
quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
-Cũng theo Khoản 2,Điều 305 –Bộ luật dân sự 2005 quy định :
‘’Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân Hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian
chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.’’
-Điều 306-Bộ luật thương mại 2005: Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán
“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời
Trang 7điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
DNTN B đã trả cho công ty A 800 triệu,còn 8 tỷ hẹn đến ngày 30/09/2015,nhưng quá hạn vẫn không hoàn thành nợ
=>Như vậy, bên B phải có nghĩa vụ trả tiền đúng thời hạn cho bên A,và trong trường hợp này bên B vi phạm trả tiền không đúng hạn,sau khi được bên A gia hạn cũng vẫn không thanh toán được khoản tiền trên nên bên B phải chịu lãi suất chậm thanh toán và chịu mức phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
*Lãi suất cho vay
Công ty A yêu cầu DNTN B nếu quá thời hạn trên mà không thanh toán thì DNTN B phải chịu lãi suất chậm thanh toán 1,1%/tháng (kể từ ngày 16/8/2015) và phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 5%/tháng (kể từ ngày 16/8/2006); cộng hai khoản là 6,1% /tháng trên số tiền còn nợ
-Tại Khoản 2,Điều 305 –Bộ luật dân sự 2005 quy định (đã nêu ở trên):
‘’Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân Hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian
chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.’’
=>Mức lãi suất trả chậm mà DNTN B Phải trả cho công ty A do A Và B thỏa thuận phải dựa trên mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.
-Theo quy định tại Khoản 1, Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất cho vay:
‘’Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng’’
Về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm
Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá:
Trang 89% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12
= 1,125%/tháng
=>Theo đó tại tình huống này, Doanh nghiệp tư nhân B phải chịu lãi suất chậm thanh toán mà công ty A đưa ra cho doanh nghiệp B là :
1,1%/ tháng < 1.125%/ tháng, do đó có thể chấp nhận được mức lãi suất chậm thanh toán.
*Mức phạt vi phạm
-Theo điều 422 Bộ luật dân sự 2005:” Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận.”
Tuy nhiên
-Theo Điều 301 Luật thương mại 2005 về Mức phạt vi phạm:
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm
do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của bộ luật này’’
Trong khi đó , doanh nghiệp B còn phải trả cho công ty A là 8,8-0,8=8 tỷ, tương đương với mức phạt là không quá 640 triệu (=8 tỷ *8) Tức là theo đúng điều luật trên quy định thì DNTN B còn phải trả cho công ty A là nhỏ hơn hoặc bằng 8,64 tỷ(8 tỷ+640 triệu) Tuy nhiên ,trong tình huống trên thì A yêu cầu B phải chịu mức lãi phạt vi phạm hợp đồng là 5%/tháng
Theo đó điều khoản mà A đưa ra cho B đã vi phạm điều 301,nếu đúng luật thì sẽ là 5% của giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng vi phạm chứ không phải là chịu lãi 5%/tháng ,tức là 5% của 8 tỷ=5%* 8 tỷ=400 triệu.Và B còn phải trả cho A theo đúng luật sẽ là =8 tỷ+400 triệu= 8,4 tỷ
=>Như vậy mức phạt 5%/tháng của công ty A quy định là quá cao và sai quy định của pháp luật.
Trang 93 Việc kho hàng của DNTN B bị cháy có là yếu tố để Tòa án cho phép DNTN B không phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cho DNTN B không?
Trong tình huống : Ngày 15/01/2016, xảy ra sự kiện kho hàng của DNTN B bị cháy làm thiệt hại trên 10 tỷ đồng khiến DNTN B gặp nhiều khó khăn ,trước đó ngày 30/09/2015 là hạn mà DNTN B phải thanh toán nợ cho Công ty A
Sau nhiều lần đòi nợ không thành, Công ty A quyết định kiện ra Tòa án
-Theo điểm b Khoản 1 Điều 294 luật Thương Mại 2005: Xảy ra sự kiện bất khả kháng , hợp đồng được miễn trách nhiệm đối với hành vi bị vi phạm :
-TH1:Nếu DNTN B có thông báo cho công ty A về trường hợp miễn trách nhiệm trong thời hạn hợp đồng của A và B không có thoả thuận về trường hợp miễn trách nhiệm, Toà
án sẽ áp dụng Khoản 1 điều 296 luật luật Thương Mại 2005:
“Trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; nếu các bên không có thoả thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây:
a) Năm tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận không quá mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng;
b) Tám tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận trên mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng.”
Trong tình huống : Ngày 04/6/2015, DNTN B có đủ hàng để giao nhưng do quá trình thu mua, thời hạn kéo dài, khoai mì đổi màu, Công ty A không nhận vì cho rằng chất lượng hàng không đạt, hai bên thoả thuận rằng DNTN B mua lại số khoai mì nói trên với giá 8
tỷ đồng và chịu lãi 160 đồng/1kg; tổng cộng DNTN B phải trả Công ty A 8,8 tỷ đồng với thời hạn thanh toán chậm chất là ngày 15/8/2015; nếu quá thời hạn trên mà không thanh toán thì DNTN B phải chịu lãi suất chậm thanh toán 1,1%/tháng (kể từ ngày 16/8/2015)
và phải chịu phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 5%/tháng (kể từ ngày 16/8/2006); cộng hai khoản là 6,1% /tháng trên số tiền còn nợ
Trang 10=> Theo đó, thời hạn giao hàng của hợp đồng này từ ngày 4/6/2015 đến ngày 16/8/2015, thoả thuận nhỏ hơn 12 tháng nên thời hạn thanh toán dựa theo điều 296 là 5 tháng.Tức là DNTN B sẽ có thêm thời hạn là 5 tháng để khắc phục những tổn thất do bị cháy kho hàng và hoàn trả nốt số nợ còn lại cho công ty A mà không phải bồi thường thêm thiệt hại vi phạm hợp đồng
-TH 2: Nếu DNTN B không thông báo cho công ty A về trường hợp miễn trách nhiệm thì
Tòa án sẽ áp dụng khoản 2 điều 295 luật Thương Mại 2005:
“Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại
Theo đó, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế,trực tiếp mà bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng.”
Vậy thì trong TH này DNTN B phải bồi thường thiệt hại bao gồm số tiền thực tế vẫn nợ công ty A cùng với sỗ lãi mà 2 bên đã thỏa thuận trong hợp đồng
=> Dựa trên điều luật trên, việc kho hàng DNTN B bị cháy là sự việc bất khả kháng và nếu DNTN B rơi vào 1 trong 2 trường hợp trên thì tòa án sẽ dựa trên các điều luật để giải quyết vụ việc để công bằng cho cả 2 bên Nhưng dù xảy ra 1 trong 2 trường hợp trên DNTN B vẫn phải thực hiện hợp đồng theo giao dịch chứ không được miễn không phải thực hiện hợp đồng hay rút bớt không thực hiện các điều khoản của hợp đồng