1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và trình bày các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật sự vận dụng vào quá trình học tập của sinh viên

16 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 280,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là vân động, không gian, thời gian, nhân quả, tính quy luật, tất yếu, ngẫu nhiên, giống nhau, khác nhau, mâu thuẫn… Chúng là những đặc trưng của các đối tượng vật chất, là những hình

Trang 1

BÀI BÁO CÁO GIỮA KỲ

Đề tài: Phân tích và trình bày các cặp phạm trù

của phép biện chứng duy vật

Sự vận dụng vào quá trình học tập của sinh viên

Nhóm 4

Giảng viên: Thầy Đỗ Văn Thắng

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021

Trang 2

Danh sách nhóm 4

Ca: 4 Thứ 4

STT MSSV Họ và tên Tỷ lệ % tham gia Ghi chú

4 720H1656 Võ Thị Quỳnh Như

5 B20H0593 Huỳnh Thị Kim Thanh

6 720H0791 Nguyễn Phương Thảo

Lời cam đoan

Chúng em xin cam đoan bài thuyết trình giữa kỳ do Tổ 4 nghiên cứu và thực hiê ̣n Chúng em đã kiểm tra dữ liệu theo quy định hiện hành

Kết quả bài thuyết trình giữa kỳ là trung thực và không sao chép từ bất kỳ báo cáo của nhóm khác

Các tài liê ̣u được sử dụng trong bài thuyết trình giữa kỳ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Trang 3

Biên bản họp nhóm

(V/v Phân công công việc /Đánh giá hoàn thành)

1 Thời gian, địa điểm, thành phần tham dự.

1.1 Thời gian:

- Lần 1: 9h ngày 14 tháng 10 năm 2021

- Lần 2:19h30’ ngày 19 tháng 10 năm 2021

1.2 Địa điểm: Qua hình thức trực tuyến

1.3 Thành phần tham dự:

+ Chủ trì: Nhóm trưởng Lê Quốc Nam

+ Tham dự: Các thành viên còn lại của nhóm

+ Vắng: 0

2 Nội dung cuộc họp:

-Lần 1: Thảo luận cùng chọn đề tài, phân công công việc cụ thể.

- Lần 2: Kết luận, tổng kết lại hiệu quả và đóng góp của từng thành viên.

2.1.Nhóm trưởng đánh giá mức độ hoàn thành công việc cho các thành viên như sau:

STT

Họ tên

MSSV Nhiệm vụ (ghi chi tiết, cụ

thể)

Đánh giá mức

độ hoàn thành (tỷ lệ % )

Ghi chú

1 Trần Thị Thu My B20H0540

2 Lê Quốc Nam 720H1297

3 Bùi Tuyết Nhi B20H0361

4 Võ Thị Quỳnh

Như 720H1656

5 Huỳnh Thị Kim

Thanh B20H0593

6 Nguyễn Phương

Thảo 720H0791

Trang 4

2.2 Ý kiến của các thành viên: Đề nghị ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đồng ý hay

không đồng ý với ý kiến của nhóm trưởng, hoặc phản biện với các ý kiến của các thành viên khác,

2.3 Kết luận cuộc họp

Thống nhất lại nội dung cuộc họp sau khi có ý kiến của từng thành viên

(Đây là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng thành viên)

Cuộc họp đi đến thống nhất và kết thúc lúc giờ phút cùng ngày

Thư ký ( Ký và ghi rõ họ tên)

Chủ trì ( Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 5

Mục lục

I Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật: 7

1 Định nghĩa phạm trù và phạm trù triết học: 7

2 Bản chất của phạm trù: 7

II Cái riêng và cái chung: 7

1 Khái niệm 7

2 Quan hệ biện chứng giữa “cái riêng”, “cái chung” và “cái đơn nhất” 7

3 Ý nghĩa phương pháp luận 8

III Nguyên nhân và kết quả: 9

1 Khái niệm 9

2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả 9

3 Ý nghĩa phương pháp luận 9

IV Tất nhiên và ngẫu nhiên: 10

1 Khái niệm 10

2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên 10

3 Ý nghĩa phương pháp luận 11

V Nội dung và hình thức: 12

1 Khái niệm nội dung và hình thức 12

2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức 12

3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận 13

VI Bản chất và hiện tượng: 13

1 Khái niệm bản chất và hiện tượng 13

2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng 13

3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận 14

VII Khả năng và hiện thực: 14

1 Khái niệm khả năng và hiện thực 14

2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực 14

3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận 14

Trang 6

VIII Sự vận dụng vào quá trình học tập của sinh viên: 15

1 Vai trò của phép biện chứng duy vật đối với sinh viên: 15

2 Sự vận dụng phạm trù của phép biện chứng duy vật cho sinh viên 15

Phần mở đầu

Trong hệ thống lý luận của Triết học Mác-Lênin, V.I.Lênin viết: “Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên Con người bản năng, con người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người có ý thức tự tách khỏi tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới” (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29 và 102) Ta có thể thấy hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được

bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học

Khả năng nhận thức của con người cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn lịch sử Do vậy các phạm trù phản ánh thế giới khách quan cũng phải vận động và phát triển Là sinh viên

ĐH TDT, việc nhận thức được những “màng lưới” trong nhận thức thế giới mang lại những ích lợi to lớn, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bản chất, nắm bắt những thay đổi, vận động và phát triển và trên hết là vận dụng vào thực tiễn trong công việc cũng như cuộc sống Đó cũng là lí do để nhóm em (nhóm 4) cùng nghiên cứu về đề tài các cặp phạm trù

cơ bản của phép biện chứng duy vật

Trang 7

I Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật:

1 Định nghĩa phạm trù và phạm trù triết học:

Trong quá trình nhận thức con người thâm nhập ngày càng sâu hơn vào các đối tượng để nắm bắt và thể hiện thông qua các khái niệm những thuộc tính và mối liên hệ chung cùng

có ở tất cả chúng Đó là vân động, không gian, thời gian, nhân quả, tính quy luật, tất yếu, ngẫu nhiên, giống nhau, khác nhau, mâu thuẫn… Chúng là những đặc trưng của các đối tượng vật chất, là những hình thức tồn tại phổ biến của vật chất, còn các khái niệm phản ánh chúng, là những phạm trù tiết học

Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là những mô hình

tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất cả các đối tượng hiện thực Mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản Tính cặp đôi của các phạm trù thể hiện sự phản ánh biện chứng tính thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của thế giới khách quan

2 Bản chất của phạm trù:

Trong phép biện chứng duy vật, các cặp phạm trù có vai trò phương pháp luận khác nhau Các cặp cái riêng, cái chung; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ thống Các cặp nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực là cơ sở phương pháp luận chỉ ra các mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng như những quá trình tự nhiên Cặp nội dung và hình thức là cơ sở phương pháp luận nắm bắt các hình thức tồn tại hoặc biểu hiện của đối tượng trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức và hoạt động thực tiễn

II Cái riêng và cái chung:

1 Khái niệm

- Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định

- Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một

sự vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác

- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những

có ở một sự vật, một hiện tượng nào đó, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng ( nhiều cái riêng ) khác nữa

Trang 8

2 Quan hệ biện chứng giữa “cái riêng”, “cái chung” và “cái đơn nhất”

Các nhà duy thực khẳng định, cái chung tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cái riêng

Và các nhà duy danh cho rằng, cái chung không tồn tại thực trong hiện thực khách quan Chỉ có sự vật đơn lẻ, cái riêng mới tồn tại thực Cái chung chỉ là tên gọi, danh xưng của các đối tượng đơn lẻ

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục những khiếm khuyết để lý giải mối quan hệ cái chung – cái riêng Cả cái chung lẫn cái đơn nhất đều không tồn tại độc lập, tự thân, chúng là thuộc tính nên phải gắn với đối tượng xác định Chỉ cái riêng (đối tượng, quá trình, hiện tượng riêng) mới tồn tại độc lập Cái chung và cái đơn nhất đều chỉ tồn tại trong cái riêng, như là các mặt của cái riêng

Cái chung không tồn tại độc lập, mà là một mặt của cái riêng và liên hệ không tách rời với cái đơn nhất, hệt như cái đơn nhất liên hệ chặt chẽ với cái chung

“ Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung…” – VI.Lenin: Bút ký triết học, Toàn tập, Hà Nội,2005

VI Lênin viết: "Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác (sự vật, hiện tượng, quá trình) Nó “chỉ tồn tại trong mỗi liên hệ dưa đến cái chung…” và có khả năng chuyển hóa ở những điều kiện phủ hợp thành cái riêng bất kỳ khác

- Mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái chung thể hiện trước hết ở mối liên hệ lẫn nhau trong một thể thống nhất gồm các mặt, các yếu tố đơn lẻ vốn có trong một sự vật, hiện tượng này và các mặt, các yếu tố được lặp lại ở nó và trong các sự vật, hiện tượng khác

- Mối liên hệ giữa cái chung với cái riêng biểu hiện là mối liên hệ lẫn nhau giữa các thuộc tỉnh (hay các bộ phận) củng có ở nhiều đối tượng với từng đối tượng đó được xét như cái toàn bộ

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Nếu bất cứ cái chung nào cũng chỉ tồn tại trong cái riêng, như một thuộc tính chung của một số cái riêng, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với cái đơn nhất và mối liên hệ đó đem lại cho cái chung một hình thức riêng biệt thì các phương pháp thực tiễn dựa trên việc vận dụng một quy luật chung nào đó đều không thể như nhau đối với mọi sự vật, hiện tượng (cái riêng) có liên hệ với cái chung đó Vì hiện tượng không phải là một và không giống nhau hoàn toàn, mà chỉ là biểu hiện của cái chung đã được cá biệt hóa, thì các phương pháp xuất phát từ cái chung đó, trong mỗi trưởng hợp cụ thể, cần phải thay đổi hình thức, phải cả biệt hóa cho phù hợp với đặc điểm của từng trường hợp

Trang 9

- Nếu bất kỳ một phương pháp nào cũng bao hàm cả cái chung lẫn cái đơn nhất, thì khi sử dụng một kinh nghiệm nào đó trong điều kiện khác, không nên sử dụng hình thức hiện có của nó, mà chỉ nên rút ra những mặt chung đối với trường hợp đó, chi rút ra nhữn cải thích hợp với điều kiện nhất định đó Trong quá trình phi triển của sự vật, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất"

III Nguyên nhân và kết quả:

Nhận thức về sự tác động, tương tác giữa các mặt, các yếu tố hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau như là nguyên nhân cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của các mặt, các yếu

tố, các sự vật, hiện tượng mới về chất, chính là khâu quyết định dẫn đến việc phát hiện ra tính nhân quả như là yếu tố quan trọng của mối liên hệ phổ biến

1 Khái niệm

Nguyên nhân là phạm trù chi sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó Còn kết quả là phạm trù chi những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra

Nhận thức về nguyên nhân, kết quả như trên vừa giúp khắc phục được hạn chế coi nguyên nhân của mỗi sự vật, hiện tượng, trong những điều kiện nhất định, nằm bên ngoài

sự vật, hiện tượng đỏ; vừa khắc phục được thiếu sót coi nguyên nhân cuối cùng của sự vận động, chuyển hóa của toàn bộ thế giới vật chất nằm ngoài nó, trong lực lượng phi vật chất nào đó

2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả

Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, phổ biển và tất yếu Phê phản quan niệm sai lầm của triết học duy tâm về tính chất của mối liên hệ nhân quả Ph.Ăngghen nhấn mạnh

“Hoạt động của con người là hòn đã thử vàng của tinh nhân quả” Từ quan niệm kết quả

do nguyên nhân sinh ra còn phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, phép biện chứng duy vật cho rằng, một nguyên nhân nhất định trong hoàn cảnh nhất định chỉ

có thể gây ra một kết quả nhất định Bởi vậy, nếu các nguyên nhân càng ít khác nhau bao nhiêu, thì các kết quả do chúng gây ra cũng ít khác nhau bấy nhiêu

Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ nhân quả không cứng nhắc, tình tại Trong quá trình vận động, phát triển, nguyên nhân và kết quả có thể đối chỗ, chuyển hóa cho nhau Nhưng nếu bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó thì cũng không có nghĩa là mỗi sự vật, hiện tượng chỉ do một nguyên nhân sinh ra Trên thực tế, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, do vậy sự phân loại nguyên nhận thành nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thử yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên

Trang 10

ngoài đối với một kết quả vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Nếu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó và do nguyên nhân quyết định, thì để nhận thức được sự vật, hiện tượng ấy nhất thiết phải tìm ra nguyên nhân xuất hiện của nó, muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó không cần thiết, thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó

- Xét về mặt thời gian, nguyên nhân có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng cần tìm ở các sự vật, sự kiện, mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng xuất hiện Trong thời gian hoặc trong mối quan hệ nào đó, vì nguyên nhân và kết quả có thể đối chỗ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau nên để nhận thức được tác dụng của một sự vật, hiện tượng và để xác định phương hướng đúng cho hoạt động thực tiễn, cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là kết quả, cũng như trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân, sản sinh ra những kết quả nhất định

- Một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và quyết định, nên khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó không vội kết luận về nguyên nhân nào đã sinh ra nó; khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn phương pháp thích hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chứ không nên rập khuôn theo phương pháp cũ Trong số các nguyên nhân sinh ra một sự vật, hiện tượng có nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoải, nên trong nhận thức và hành động cần dựa vào nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong

IV Tất nhiên và ngẫu nhiên:

1 Khái niệm

Tất nhiên là phạm trù chi mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân cơ bản bên trong sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thể chứ không thể khác

Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện thể này hoặc có thể xuất hiện thế khác

2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Trang 11

a) Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người

và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật

Không phải chỉ có cái tất nhiên mới đóng vai trò quan trọng mà cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của

sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm Thí dụ; cá tính của lãnh tụ một phong trào là yếu tố ngẫu nhiên, không quyết định đến xu hướng của phong trào, nhưng lại có ảnh hưởng làm cho phong trào phát triển nhanh hoặc chậm, mức độ sâu sắc của phong trào đạt được như thế nào

b) Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần tuý cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần túy

Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất hữu

cơ này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua

vô số cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên

Ph.Ăngghen nhận xét: sự xuất hiện các nhân vật xuất sắc trong lịch sử là tất nhiên do nhu cầu xã hội phải giải quyết những nhiệm vụ chín muồi của lịch sử tạo nên Nhưng nhân vật đó là ai lại không phải cái tất nhiên, vì cái đó không phụ thuộc vào tiến trình chung của lịch sử Nếu gạt bỏ nhân vật này thì nhân vật khác sẽ xuất hiện thay thế Người thay thế này có thể tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng cuối cùng nhất định nó phải xuất hiện Như vậy ở đây cái tất yếu như là khuynh hướng chung của sự phát triển Khuynh hướng đó không tồn tại thuần tuý, biệt lập, mà được thể hiện dưới hình thức cái ngẫu nhiên Cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại thuần tuý mà luôn là hình thức thể hiện của cái tất nhiên Trong cái ngẫu nhiên ẩn giấu cái tất yếu

c) Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau

Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cùng với sự thay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hoá thành ngẫu nhiên và ngược lại Thí dụ: việc trao đổi vật này lấy vật khác trong xã hội công xã nguyên thuỷ lúc đầu chỉ là việc ngẫu nhiên Vì khi đó lực lượng sản xuất thấp kém, mỗi công xã chỉ sản xuất đủ cho riêng mình dùng, chưa có sản phẩm dư thừa Nhưng về sau, nhờ có

sự phân công lao động, kinh nghiệm sản xuất của con người cũng được tích luỹ Con người đã sản xuất được nhiều sản phẩm hơn, dẫn đến có sản phẩm dư thừa

Khi đó sự trao đổi sản phẩm trở nên thường xuyên hơn và biến thành một hiện tượng tất nhiên của xã hội

Sự chuyển hoá giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chỗ, khi xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiện tượng đó là cái tất yếu Như vậy, ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có ý nghĩa tương đối

Ngày đăng: 24/01/2022, 07:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w