Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại – Về chữ viết .... Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại - Về tôn giáo ..... Vị trí địa lí của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
BÀI GIỮA KỲ HỌC PHẦN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI Chủ đề: Nền văn minh khu vực Đông Nam Á
Nguyễn Thị Huyền Trang 20031473
Nguyễn Phương Thảo 20031463
HÀ NỘI, 2021
Trang 2MỤC LỤC
I Cơ sở hình thành nền văn minh khu vực Đông Nam Á 1
1 Địa lý, cư dân 1
2 Sơ lược quá trình phát triển của các quốc gia Đông Nam Á thời cổ trung đại 2
II Những thành tựu chủ yếu của văn minh khu vực Đông Nam Á 2
1 Tín ngưỡng - tôn giáo 2
1.1 Tín ngưỡng 2
1.2 Tôn giáo 4
2 Chữ viết 6
3 Văn học 7
3.1 Dòng văn học dân gian 7
3.2 Dòng văn học viết 8
4 Văn hóa 8
5 Lễ hội 9
6 Nghệ thuật 9
7 Tổng kết về văn minh Đông Nam Á 11
III Ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại 12
1 Ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại 12
2 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại – Về chữ viết 12
3 Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Đông Nam Á thời cổ trung đại - Về tôn giáo 12
Trang 31
I Cơ sở hình thành nền văn minh khu vực Đông Nam Á
1 Địa lý, cư dân
* Vị trí, địa lý
Đông Nam Á thuộc khu vực phía đông nam của châu Á, với diện tích khoảng 4,5 triệu km2 bao gồm hai bộ phận lớn bán đảo Ấn - Trung và quần đảo Mã Lai Nói cách khác, Đông Nam Á có 2 tiểu vùng là: Đông Nam Á bán đảo (Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma, Thái Lan) và Đông Nam Á hải đảo (Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines và Đông Timor)
Địa hình: Khu vực này có địa hình phong phú và đa dạng
Khí hậu: Do điều kiện địa lí của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên 2 mùa tương đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng ẩm Vì thế Đông Nam Á còn được gọi là khu vực: “Châu Á gió mùa” Gió mùa
và khí hậu biển đã làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á nóng ẩm, thiên nhiên trù phú, xanh tốt khác hẳn với các khu vực lục địa có cùng vĩ độ khác
Hệ sinh thái: Đông Nam Á có hệ sinh thái phồn tạp - đặc trưng cho hệ sinh thái các quốc gia nhiệt đới: chỉ số đa dạng về giống loài rất cao (cao nhất là các cánh rừng mưa nhiệt đới, hệ sinh thái biển cũng đa dạng phong phú), khả năng tái sinh rất nhanh (cánh rừng mưa nhiệt đới tái sinh rất tốt), sô lượng trên mỗi giống loài thường thấp Chính vì vậy, từ lâu Đông Nam Á đã trở thành quê hương của những cây gia
vị, cây hương liệu như: hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương, Lúa nước chính là cây lương thực đặc trưng của vùng này
Vị trí địa lí của Đông Nam Á nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương nên từ lâu đã được coi là hành lang, là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải
* Cư dân
Theo một số nhà nghiên cứu thì cư dân Đông Nam Á có những nét chung thống nhất
về mặt văn hóa vì cư dân ở đây có chung một nền tảng văn hóa Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chính
Đông Nam Á có nhiều khả năng đã từng là một trong những cái nôi của loài người
Cư dân được hình thành trên cơ sở hai đại chủng là Môngôlôit và Ôxtralôit và cư dân Đông Nam Á được xếp vào loại Môngôlôit phương Nam
Trang 42
2 Sơ lược quá trình phát triển của các quốc gia Đông Nam Á thời cổ trung đại
Từ khoảng đầu công nguyên đến thế kỉ thứ VII: là thời kỳ xác lập và phát triển của các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á với hàng loạt quốc gia sơ kỳ đã được hình thành và phát triển ở khu vực phía Nam và Đông Nam Á lục địa Ước tính có khoảng
30 tiểu quốc được hình thành, tiêu biểu là Phù Nam
Bắt đầu từ khoảng thế kỷ VII đến thế kỷ X ở Đông Nam Á đã diễn ra quá trình hình thành các quốc gia “dân tộc” lấy một bộ tộc tương đối đông đúc và phát triển hơn cả làm nòng cốt
Từ thế kỷ X đến thế kỉ XV là giai đoạn xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia phong kiến “dân tộc” ở Đông Nam Á: Giava, Đại Việt, Chămpa, Pagan, Ayuthaia Lanxang
Sau thế kỷ XV, Đông Nam Á bước vào giai đoạn suy thoái ở các mức độ khác nhau của các vương quốc phong kiến Sự suy thoái này diễn ra không đồng đều về thời gian Ở Campuchia quá trình này bắt đầu sớm hơn, từ khoảng thế kỷ XIII, Chămpa
từ thế kỷ XV, Đại Việt và Mianma muộn hơn một chút Riêng Xiêm và Lananxang chế độ phong kiến vẫn tiếp tục hưng thịnh Nguyên nhân sâu sa của tình trạng suy thoái bắt nguồn từ trong lòng của chế độ phong kiến Nền kinh tế phong kiến đã trở nên lỗi thời, không còn tiếp tục phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Trong bối cảnh đó, sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân vào Đông Nam Á là nhân tố cuối cùng có ý nghĩa quyết định dẫn tới sự suy sụp của các quốc gia phong kiến trong khu vực (Các quốc gia phong kiến Đông Nam Á suy sụp trước sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân)
II Những thành tựu chủ yếu của văn minh khu vực Đông Nam Á
1 Tín ngưỡng - tôn giáo
1.1 Tín ngưỡng
Trước khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, từ thời tiền sử và sơ sử cư dân Đông Nam Á đã sáng tạo nên một nền văn hóa bản địa có cội nguồn chung gắn với khu vực địa lí Trong tính thống nhất khu vực đó mỗi nền văn hóa đều có nguồn gốc
và mang trong mình một bản sắc riêng được phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử, phải kể đến như:
Trang 53
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: thần Mặt trời, thần Đất, thần Nước, Thần Sông, thần Mưa, thần Mùa Màng và thần Lúa
Cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, ở giai đoạn phát triển đầu tiên của mình khi mà nhà nước chưa ra đời, chưa có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh, cư dân Đông
Nam Á đã sử dụng thuyết “vạn vật hữu linh” để chỉ tất cả những hình thức tín
ngưỡng, thờ tự ở đây trước khi Phật giáo, Hồi giáo và Kitô giáo truyền bá tới Trong
số các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy thì bái phật giáo là hình thức xuất hiện
sớm hơn cả Những ý niệm bái phật giáo xưa là những ý niệm về sức mạnh siêu nhiên của tự nhiên
• Theo quan niệm của người Lào, trong thế giới vô hình mà con người cảm thấy được vô vàn những phi (ma): phi rừng, phi ruộng Chúng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người
• Người Thái gọi những lực lượng siêu nhiên, thần bí bằng cái tên chung là phỉ: phỉ lửa, phỉ núi, phỉ bệnh…
• Người Pnông ở Campuchia cho rằng đá là nơi ngự trị của thần bản địa, thần nhà Họ chỉ đem những viên đá thần đó ra khỏi bàn thờ khi làm lễ tế lớn Trong số các thần ngụ trong đá, trên núi mà cư dân Đông Nam Á thờ phụng thì thần đất-vị thần bảo hộ, phù trợ cho nông nghiệp-bao giờ cũng là vị thần tối cao
Tín ngưỡng thờ sinh thực khí, những nghi thức phồn thực:
Do cuộc sống gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp trồng lúa nên bên cạnh việc sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực với nghi thức cầu mong được mùa, cầu cho các giống loài sinh sôi nảy nở cũng rất phát triển ở Đông Nam Á vào buổi đầu lịch sử
• Trên mặt trống đồng, xen kẽ giữa các tia mặt trời là các hình tượng sinh thực khí nam nữ cách điệu hóa những hình cóc trên mặt trống làm rõ ý nghĩa cầu mưa của những “trống sấm” thời Đông Sơn
• Những hội “múa dưới trăng” của người H'mông, người Dao, những tục đánh trống thi cho đến thủng trống của người Việt, người Thái, người Choang…
• Những lễ cúng tế của nhiều dân tộc khác đến những trò chơi phổ biến của Đông Nam Á đều phần nào phản ánh nghi thức phồn thực của một xã hội nông nghiệp
Trang 64
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên và hồn ma những người chết đã trở thành một nghi thức tôn giáo Có lẽ cũng bắt nguồn từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, các dân tộc Đông Nam
Á đều cho rằng mỗi người có không phải một mà là cả một nhóm hồn, ma
+ Người Thái đen (ở Việt Nam) cho rằng mỗi người có 120 hồn, sau khi chết các hồn đó đều biến thành phi (ma)
+ Theo G.Masperô, người Khơme tin rằng mỗi người có 9 hồn chính; người Mường 90; người Thái ở Bắc Lào 32 hoặc 34
+ Người Việt cho rằng mỗi người có 3 hồn và đàn ông có 7 vía, đàn bà 9 vía + Các hồn đều có liên quan mật thiết với cuộc đời của mỗi con người: nếu có chuyện gì xảy ra với hồn thì người đó sẽ đau ốm, nếu hồn rời khỏi xác thì người
đó cũng sẽ chết Họ tin rằng cuộc sống không chấm dứt sau khi chết- đó chỉ là sự chia tay tạm thời của người chết với những người đang sống
➢ Tất cả những hình thức tín ngưỡng dân gian đó đã được bảo tồn trong suốt quá trình lâu dài, đồng thời có tác động to lớn tới các tôn giáo được truyền bá vào sau Một nhà nghiên cứu đã nhận xét: "Từ khi Phật giáo và Ấn Độ giáo
du nhập vào Đông Nam Á, những quan niệm và nghi thức tôn giáo bản địa vẫn tiếp tục được duy trì và có ảnh hưởng sâu sắc đến hai tôn giáo kia và trong quá trình tiếp xúc với tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, chúng đã phải thay đổi khá nhiều."
1.2 Tôn giáo
1.2.1 Phật giáo
Được du nhập từ đầu Công nguyên cùng với những tôn giáo lớn từ Ấn độ như Ấn
Độ giáo và từ Trung Quốc như Nho giáo, Đạo giáo
Phật giáo đã nhanh chóng phát huy ảnh hướng tới đời sống tinh thần của các dân tộc Đông Nam Á, có vai trò to lớn trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của cư dân Đông Nam Á Vì thế các tổ chức sự tăng cũng như nhà nước rất chú ý tới việc phổ biến tư tưởng Phật giáo trong dân chúng, đặc biệt là qua hệ thống giáo dục
Trang 75
+ Phật giáo vào Campuchia ngay từ buổi đầu cùng với Ấn Độ giáo Trong suốt thời kỳ Ăngco, Phật giáo tồn tại song song với tôn giáo thần - vua Bắt đầu từ thời Jayavarman VII (1181 - 1219) đạo Phật mới hoàn toàn thay thế Ấn Độ giáo và trở thành quốc giáo của người Khơme Từ đó Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo của cả tầng lớp quý tộc lẫn dân chúng
+ Tín ngưỡng Phật giáo cũng xuất hiện tại Campuchia, Myanmar, Thái Lan, Malaysia từ rất sớm Theo nguồn dữ liệu cổ của Xri Lanca - cuốn Maha Vamsa
và bút tích số 13 của vua Asoka thì sau khi định đô ở Pataliputra, Asoka đã phái 9 đoàn truyền giáo ra nước ngoài, trong đó có một đoàn gồm 3 cao tăng
đã tới vùng đất vàng (Suvarnabhumi) ở phía Đông Vào những thế kỷ đầu công nguyên, hai thành phố That Ơn và Prôme đã là những trung tâm Phật giáo nổi tiếng
+ Phật giáo được truyền bá vào Lào từ khoảng thế kỉ VII - VIII, nhưng chỉ đến thời Pha Ngừm nó mới chính thức trở thành quốc giáo của vương quốc Lanxang
Phật giáo đã không ngừng phát triển và trở thành quốc giáo ở Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia
1.2.2 Đạo Hồi
Bắt đầy du nhập từ cuối thế kỉ XIV- đầu thế kỉ XV, sau đó được truyền bá vào hầu hết các nước Đông Nam Á Ngày nay, đạo Hồi có khoảng hơn 165 triệu tín đồ và con số đó đang không ngừng tăng lên
1.2.3 Đạo Kitô
Được truyền bá vào cùng với sự xâm nhập của tư bản phương Tây Nhiều người cho rằng đây là cuộc hội nhập văn hóa lần thứ hai của Đông Nam Á Nó diễn ra tuy ngắn
nhưng quyết liệt Có ở Việt Nam, Campuchia, Lào…
Đạo Kito xuất hiện ở Việt Nam ngay từ TK XVI, được truyền bá bằng chữ Quốc ngữ do những giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp Quá trình truyền bá đạo Kitô vào Campuchia cũng gần giống như ở Việt Nam: từ thế kỉ XVI chủ yếu do người Bồ Đào Nha và từ giữa thế kỉ XIX do người Pháp Kitô giáo vào Lào khá muộn từ thế kỉ XIX do những giáo sĩ người Pháp và sau đó là người Mỹ đem tới
Trang 86
Như vậy có thể thấy bức tranh tôn giáo ở Đông Nam Á quả là đa dạng, phức tạp Ở đây không chỉ có một tôn giáo duy nhất mà đã từng tồn tại nhiều tôn giáo; Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo và đạo Tin lành Mỗi tôn giáo có một vai trò nhất định trong giai đoạn lịch sử của khu vực, song không tôn giáo nào đã đến đây
mà lại ra đi không để lại dấu ấn của mình
2 Chữ viết
Từ đầu công nguyên đã xuất hiện chữ viết cổ, trên cơ sở chữ viết của Ấn Độ và
Trung Quốc
Chữ Phạn
Bắt nguồn ở Ấn Độ được du nhập từ rất sớm Bia Võ Cạnh (thế kỉ III – IV) là bia chữ Phạn cổ nhất ở Đông Nam Á và là bằng chứng đầu tiên về sự du nhập chữ Phạn vào Chămpa (được viết cho đến khi vương quốc Chămpa chấm dứt sự tồn tại)
Chữ Chămpa cổ
Bia Đông Yên Châu nói về vị thánh Naga (thế kỉ IV) viết bằng chữ Chămpa cổ
Trước thế kỷ VII, người Chăm đã dùng văn tự để ghi chép kinh sách và trao đổi thư
từ Năm 605, viên tướng nhà Tùy đem quân đánh Lâm Ấp thu về 18 thần chủ bằng
vàng và hơn 1350 bộ kinh phật và nhiều sách viết bằng chữ Chiêm bà Sau thế kỷ
XIII, chữ Chămpa cổ chuyển sang kiểu chữ vuông của Bắc Ấn Sau XV, chữ Chămpa trở lại nét cong và móc nhưng phóng khoáng hơn có 65 kí hiệu gồm 41 chữ cái và
24 chân chữ bắt nguồn từ chữ thảo của Ấn Độ
Chữ viết Khơme
Bắt nguồn từ chữ ở miền Nam Ấn Độ (theo truyển thuyết xuất hiện vào khoảng thế
kỉ II) Những tấm bia đầu tiên của người Khơ me bằng chữ Khơ me cổ được biết đến
là bia Ăngco Bôrây (Takeo) có niên đại năm 611 nói về việc dựng một ngôi đền trong đó có tới 22 nhạc công và vũ nữ, 58 nô lệ làm ruộng, 100 bò và 20 trâu
Chữ Mã Lai
Bia viết bằng chữ Mã Lai cổ sớm nhất là tấm bia ở Xumatơra năm 683
Chữ Thái cổ
Trang 97
Hình thành khoảng đầu XIII ở phía Bắc Đông Dương - phía Tây Nam Trung Quốc Qua chữ Shan ở Bắc Mianma, người ta thấy văn tự Thái cổ có mang nhiều yếu tố của chữ Pêgu cổ
Chữ Thái – Xiêm
Chữ viết của những cư dân nói tiếng Thái ở khu vực Chao Phaya đã ra đời vào khoảng XIII Bia đầu tiên khắc bằng chữ Thái - Xiêm là bia Rama Kamheng năm
1296 Chữ Thái - Xiêm được Ram Kamheng khởi xướng từ năm 1283 đến năm 1296 dùng để khắc bia Điều đó chứng tỏ nó đã được định hình, được sử dụng khá nhuần nhuyễn
Chữ Lào
Trên nền tảng của chữ Xiêm cổ, chữ Lào chưa biết rõ xuất hiện vào lúc nào (khoảng thế kỷ XVI), chỉ biết qua lời huấn thị của Pha Ngừm năm 1353 đã là một văn bản có niên đại chính xác Những bia khắc bằng chữ Lào sớm nhất: bia Vat That (Luôngphabang) năm 1548, bia Đonsai năm 1560 và Thạt Luông (Viêng Chăn) năm
1566
Chữ Nôm
Được sáng tạo dựa trên Chữ Hán, phổ biến tử thế kỷ XV
Đến thế kỉ XVI - XVII, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đã có hệ thống chữ quốc ngữ
Việc sáng tạo ra chữ viết và quá trình cải tiến nó của các cư dân Đông Nam Á không phải là một sự bắt chước đơn giản mà là cả một quá trình công phu và sáng tạo, một thành tựu đáng kể về văn hóa của khu vực
3 Văn học
3.1 Dòng văn học dân gian
Dòng văn học dân gian có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của các cư dân Đông Nam Á
Dòng văn học dân gian bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động cần cù và đấu tranh kiên cường của các dân tộc Đông Nam Á Thay vì biến huyền thoại, truyền thuyết
Trang 108
thành “lịch sử”, cư dân Đông Nam Á đã chuyển “lịch sử” thành huyền thoại và truyền thuyết
Văn học dân gian của các dân tộc Đông Nam Á phong phú về thể loại: thần thoại (Punha - Nhu - Nhơ của người Lào, Đẻ đất, đẻ nước của người Thái, …), truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, sử thi (Thạo Hùng - Thạo Chương, ),
3.2 Dòng văn học viết
Xuất hiện muộn hơn, nhưng phát triển nhanh và dần trở thành nền văn học của toàn dân tộc Được hình thành trên cơ sở của dòng văn học dân gian và văn học nước ngoài (văn học Ấn Độ và Trung Quốc, về sau thêm văn học Arập và Tây Âu) đóng vai trò đặc biệt trong dòng văn học viết Đông Nam Á
Dòng văn học viết Đông Nam Á không chỉ tiếp thu văn học Ấn Độ và Trung Quốc
về mẫu tự (chữ viết) mà cả về đề tài và thể loại Trong giai đoạn đầu, bộ phận văn học này chiếm ưu thế, song nó phát triển chủ yếu trong giới quý tộc, quan lại, vì thế được coi là văn học chính thống, cao quý, bác học hay văn học cung đình
Trong quá trình phát triển, nền văn học viết có xu hướng dần trở về với dân tộc, với văn học dân gian Bên cạnh những đề tài, những "điển tích văn học" khai thác từ nước ngoài, những tác phẩm văn học khai thác đề tài trong nước xuất hiện ngày càng nhiều Quang cảnh quê hương, đất nước, làng bản, hình ảnh những con người gần gũi, thân thiết, những vấn đề day dứt của cuộc sống thực được mô tả trực tiếp thay thế cho những xứ sở xa xôi tưởng tượng, những nhân vật huyền thoại trong các sử thi Những huyền thoại, truyền thuyết trước kia đã được văn học viết tái tạo lại, có những truyện đã được nâng lên, trở thành biểu tượng chung cho cả dân tộc
Dòng văn học bằng tiếng dân tộc cũng phát triển nhanh chóng, chiếm lĩnh văn đàn, thay thế cho dòng văn học bằng tiếng vay mượn
Như vậy văn học dân gian đã có tác dụng làm nền tảng cho văn học viết hình thành
và ngược lại văn học viết đã tái tạo và thúc đẩy văn học dân gian phát triển
4 Văn hóa
Cư dân Đông Nam Á đã sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo Chiếc nhà sàn với quy
mô khác nhau là một biểu tượng văn hóa thích hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm,
ở các địa hình khác nhau