1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận xã hội chủ nghĩa khoa học THU HẸP KHOẢNG CÁCH VÀ GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT NAM

14 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 772,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THU HẸP KHOẢNG CÁCH VÀ GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT NAM. Theo báo cáo của Oxfarm, Việt Nam xếp hạng thứ 99 trên toàn cầu trong bảng thống kê chỉ số cam kết giảm bất bình đẳng năm 2018. Dù thực tế, không một quốc gia nào có thể bảo đảm sự đồng đều về thu nhập cho tất cả mọi người, nhưng rút ngắn, thu hẹp khoảng cách, giảm bất bình đẳng chính là mục tiêu quan trong với chúng ta để có xã hội thật sự bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước trước đó là 9,8% năm 2015 xuống còn 3,7%, thật sự vui mừng khi Việt nam chúng ta có tên trong 10 quốc qia tăng chi tiêu cho an sinh xã hội năm 2017, năm 2019 vàcuối năm 2020 còn 2,7%.Nói đến đây thì chắc bạn đã biết vì sao tôi chọn đề tài này phải không ? Vì tôi muốn làm rõ hơn về sự nỗ lực thu hẹp khoảng cách giảm bất bình đẳng của chính phủ Việt Nam, và hơn thế nữa tôi muốn thay mặt nói lên quan điểm, giải pháp mà tôi cho là hợp lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

TÊN CHỦ ĐỀ: THU HẸP KHOẢNG CÁCH VÀ GIẢM BẤT BÌNH

ĐẲNG Ở VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : NGUYỄN MINH THI

Mã số sinh viên : 030836200184

Lớp, hệ đào tạo : DH36KQ01

CHẤM ĐIỂM

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

LỜI MỞ ĐẦU 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ BÀI TIỂU LUẬN 1

1 Bối cảnh liên quan vấn đề thu hẹp khoảng cách giảm bất bình đẳng trên toàn cầu và đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay 1

1.1 Bối cảnh toàn cầu: 1

1.2 Bối cảnh ở Việt Nam hiện nay: 1

2 Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay 2

2.1 Bất bình đẳng về kinh tế: 2

2.2 Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng đan xen: 4

2.3 Bất bình đẳng theo dân tộc và theo vùng (Bất bình đẳng theo chiều ngang): 5

2.4 Bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội: 7

2.5 Bất bình đẳng về giáo dục và y tế: 8

3 Các chính sách giải quyết của Chính phủ Việt Nam 9

3.1 Về hệ thống thuế: 10

3.2 Chi cho giáo dục 10

3.3 Chi cho y tế 10

4 Trình bày nhận xét, đánh giá của bản thân về thực trạng và đưa ra các giải pháp 11

KẾT LUẬN 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CRI Chỉ số cam kết giảm bất bình đẳng

CPI Chỉ số giá tiêu dùng biến động

ADP Ngân hàng Phát triển châu Á

NHTG Ngân hàng Trung Gian

DTTS Dân tộc thiểu số

GDP Thu nhập bình quân đầu người

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2 1: Diễn biến tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, từ 1992 đến 2012 3

Hình 2 2: Tăng chi tiêu trung bình hàng năm theo thập phân vị, 1992 đến 2012 3

Hình 2 3: Chi tiêu trung bình hàng ngày của một số nhóm thập phân vị (1992, 2002, 2012) 3

Hình 2 4: Thu nhập bình quân theo ngũ phân vị 4

Hình 2 5: “Tục cướp vợ của trai Mông trên Tây Bắc” 5

Hình 2 6: thể hiện tỷ lệ nghèo theo vùng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014 5

Hình 2 7: Thu nhập theo đầu người phân theo dân tộc và khu vực 6

Hình 2 8: Tỷ lệ phần trăm người dân chuyển từ việc làm không đòi hỏi kỹ năng sang việc làm đòi hỏi kỹ năng 8

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Theo báo cáo của Oxfarm, Việt Nam xếp hạng thứ 99 trên toàn cầu trong bảng thống kê chỉ số cam kết giảm bất bình đẳng năm 2018 Dù thực tế, không một quốc gia nào có thể bảo đảm sự đồng đều về thu nhập cho tất cả mọi người, nhưng rút ngắn, thu hẹp khoảng cách, giảm bất bình đẳng chính là mục tiêu quan trong với chúng ta để có xã hội thật sự bền vững Tỷ lệ hộ nghèo cả nước trước đó là 9,8% năm 2015 xuống còn 3,7%, thật sự vui mừng khi Việt nam chúng ta có tên trong 10 quốc qia tăng chi tiêu cho an sinh xã hội năm

2017, năm 2019 vàcuối năm 2020 còn 2,7%.Nói đến đây thì chắc bạn đã biết vì sao tôi chọn đề tài này phải không ? Vì tôi muốn làm rõ hơn về sự nỗ lực thu hẹp khoảng cách giảm bất bình đẳng của chính phủ Việt Nam, và hơn thế nữa tôi muốn thay mặt nói lên quan điểm, giải pháp mà tôi cho là hợp lý

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ BÀI TIỂU LUẬN

1 Bối cảnh liên quan vấn đề thu hẹp khoảng cách giảm bất bình đẳng trên toàn cầu và đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay

1.1 Bối cảnh toàn cầu:

- Trong 1 bài báo mới đây Oxfam chỉ ra tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, khi hầu hết tài sản được tạo ra vào năm 2017 đều rơi vào “bị” tiền của những “Rich People” Cụ thể, bài báo của tổ chức này đã so sánh mức thu nhập của những người giàu có và các cổ đông với mức thu nhập của các công nhân, nông dân thông thường

- Ở Châu Á cũng xảy ra tình trạng tương tự, nhóm người nghèo nhất thu nhập của họ giảm đáng kể trong khi đó nhóm những người giàu ước tính khoảng lại tăng?,

1.2 Bối cảnh ở Việt Nam hiện nay:

- Nước ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ hơn về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo so với những năm trước, nhưng hiện nay thì chúng ta có thể thấy được tình trạng bất bình đẳng đang gia tăng và Chính phủ đã và đang phải đối mặt

Trang 5

2

trong nhiều thập kỉ Trong khi đó, bất bình đẳng về kinh tế đi cùng với bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội khiến nhóm người nghèo nhất ngày càng không theo kịp trong khi lợi ích tập trung vào nhóm người giàu, dẫn tới giảm cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản của hộ nghèo, đặc biệt là trong 2 lĩnh vực y tế, giáo dục Các nhóm dân tộc ở Việt Nam có mức sống chênh lệch khá nhiều, trong đó nhóm dân tộc Kinh và Hoa có mức sống cao hơn hẳn Tỷ lệ nhập học trung học phổ thông trong nhóm Kinh và Hoa là 65% trong khi đó tỉ lệ này trong nhóm DTTS chỉ có 13,7%

2 Các chiều bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay

- Nước ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ hơn về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo so với những năm trước, nhưng hiện nay thì chúng ta có thể thấy được tình trạng bất bình đẳng đang gia tăng và Chính phủ đã và đang phải đối mặt trong nhiều thập kỉ

- Nhưng thuế vẫn còn là thách thức lớn, những công ty đang được nhà nước trợ cấp với hình thức ưu đãi thuế, miễn giảm thuế trong 1 khoảng thời gian ngắn hạn Chi tiêu công lũy tiến cho các trung tâm y tế xã chiếm phần nhỏ tổng chi, trong khi chi cho bệnh viện tuyến trên và các trợ cấp y tế khác lại có lợi nhiều hơn cho những người khá giả.Trong khi độ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, phần lớn tổng chi cho y tế – 57% là tiền tự túc

2.1 Bất bình đẳng về kinh tế:

- Việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong các năm qua và các chính sách trong ba thập kỷ vừa qua đã làm giảm thiểu tỷ lệ nghèo trong cả nước Các bài báo của Oxfam chỉ ra rằng ở Việt Nam người giàu nhất thu nhập của họ trong một ngày cao hơn của người nghèo nhất làm lụng trong 10 năm

- Theo NHTG, chỉ số Gini tăng từ 35,7% lên 38,7% trong 20 năm qua từ 1992 đến 2012, bất bình đẳng thu nhập tăng trong giai đoạn này, các số liệu có thể không chính xác hoặc thậm chí giảm về số liệu đo bất bình đẳng Trong giai đoạn từ 1992 đến 2012, tỷ lệ Palma tăng 17%, từ 1,48 lên 1,74 ( Hình 1)

Trang 6

Hình 2 1: Diễn biến tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, từ 1992 đến 2012

- Đến đây, ta thấy hình 2, giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2012, tăng chi tiêu bình quân của bốn nhóm 10% đầu tiên trong mô hình vẫn luôn thấp hơn các nhóm khác Đặc biệt, khi chi tiêu của nhóm 10% nghèo nhất tăng 4,8 % mỗi năm, thì chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất càng tăng mạnh 6,3%

Hình 2 2: Tăng chi tiêu trung bình hàng năm theo thập phân vị, 1992 đến 2012

Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0,truy cập ngày 06/09/2016)

- Ở hình 3 cho chúng ta thấy tốc độ tăng trưởng kỹ càng hơn ở giá trị chi tiêu tuyệt đối Trong 20 năm (từ 1992 đến 2012), chi tiêu hàng ngày của nhóm 10% nghèo nhất tăng từ 0,8 USD lên 2,1 USD, trong khi chi tiêu của nhóm 10% giàu nhất tăng từ 7,2 USD lên 24,3 USD

Hình 2 3: Chi tiêu trung bình hàng ngày của một số nhóm thập phân vị (1992,

2002, 2012)

Trang 7

4

Nguồn: PovcalNet (http://iresearch.worldbank.org/PovcalNet/index.htm?0,truy cập ngày06/09/2016)

Hình 2 4: Thu nhập bình quân theo ngũ phân vị

Nguồn: Nguyễn Việt Cường, ước tính từ KSMSDC

- Hình 4 cho thấy, trong khi chỉ có sự chênh lệch thu nhập nhỏ giữa bốn nhóm ngũ phân vị đầu tiên trong mô hình phân bố, có khoảng cách lớn giữa nhóm này

và nhóm 20% có thu nhập cao nhất, và khoảng cách này ngày càng rộng ra từ năm 2004 Sâu hơn nữa, sự phân bố lợi ích tăng trưởng kinh tế càng ngày càng không đồng đều trong những năm gần đây Nói theo 1 cách khác, phân bố thu

nhập ngày càng phân cực theo thời gian

2.2 Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng đan xen:

- Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Lợi và cộng sự: Trong khu vực việc làm chính thức, cơ hội việc làm có lương định kỳ của nam và nữ ngang nhau Tuy vậy, trong nền kinh tế phi chính thức và kinh tế hộ, nữ giới vẫn không có cơ hội tiếp cận các công việc bình đẳng như nam giới Khoảng cách thu nhập giữa nam

và nữ nhỏ nhất trong khu vực công, ở mức 7%, trong khi rất lớn trong khu vực phi chính thức , lên tới 30% Nhưng khác biệt lớn nhất là trong nông nghiệp và các công ty nước ngoài

- Về mặt văn hóa, các em DTTS cảm thấy mình bị kẹt giữa 2 nền văn hóa, giữa bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình và bản sắc văn hóa chung

Trang 8

Hình 2 5:“ Tục cướp vợ của trai Mông trên Tây Bắc”

- Còn trong lĩnh vực chính trị và kinh tế, nam giới làm trong các cơ quan của chính phủ và lãnh đạo doanh nghiệp chiếm phần đông, nên khi đưa ra các chính sách có liên quan đến nữ giới thì đa số nam giới có lợi hơn Ở tất cả các bộ ngành, bộ trưởng và vụ trưởng người có quyền quyết định các chính sách nói chung và các chính sách về bình đẳng giới nói riêng thì phần lớn cũng là nam giới

2.3 Bất bình đẳng theo dân tộc và theo vùng (Bất bình đẳng theo chiều ngang):

- Bất bình đẳng theo dân tộc, vùng miền hay theo chiều ngang cũng là 1 cản trở lớn ở Việt Nam và đang thách thức cuộc xóa nghèo và giảm bất bình đẳng của Đảng và nhà nước ta Ta có 1 số nghiên cứu Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ được cho là chiếm số đông trong thu nhập bình quân ngược lại thì Đồng bằng Sông Cửu Long lại nằm trong nhóm cận nghèo

Hình 2 6: thể hiện tỷ lệ nghèo theo vùng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014

Trang 9

6

(Nguồn: NHTG tại Vietnam 2015 Phân tích Hệ thống tỷ lệ nghèo theo vùng miền ở Việt Nam – Ưu tiên Giảm Nghèo, Thịnh vượng Chung và Bền vững)

- Nghiên cứu mới đây của Oxfam cho thấy các hộ ở Đông Nam Bộ, vùng giàu nhất Việt Nam, có mức độ dịch chuyển thu nhập cao nhất giữa các vùng Cũng

vì thế, người Hoa thường được xếp chung nhóm với người Kinh về các nghiên cứu thu nhập bình quân của hộ gia đình, dù vậy họ có thể vẫn chịu phân biệt đối

xử do khác biệt ở dân tộc ở 1 số khía cạnh nhỏ Trẻ em DTTS có nguy cơ nghèo cao hơn so với trẻ em Kinh hay Hoa Các nhóm DTTS cũng có khuynh hướng

dễ bị chuyển dịch đi xuống về thu nhập hơn so với nhóm Kinh và Hoa

- Trẻ em gái, cộng đồng DTTS và nhóm nghèo nhất bị lề hóa không được hưởng dịch vụ công đầy đủ

Hình 2 7: Thu nhập theo đầu người phân theo dân tộc và khu vực

Nguồn: Nguyễn Việt Cường 2016, ước tính từ KSMSDC 2004-2014

- Năm 2012, có đến 583,724 hộ gia đình Việt Nam bị rớt xuống hộ cần nghèo hoặc nghèo Tỷ lệ hộ nghèo cả nước từ 9,8% đã giảm xuống còn 3,7% năm

2019, ước tính cuối năm 2020 sẽ giảm còn 2,7% Nhận thấy được tình trạng này Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 đã dành 80% ngân sách trong tổng kinh phí hơn 41 nghìn tỷ đồng cho vùng nghèo Từ đó các quỹ “Vì người nghèo” nối gót sau đó đặt mục tiêu không chỉ giúp hộ nghèo xây được nhà ở và còn phải có cơ hội tiếp xúc với khoa học kỹ thuật, mạng xã hội, các kinh nghiệm khác của cuộc sống để họ biết cách thức làm ăn, có nghị lực thoát nghèo “Cụ

Trang 10

thể hỗ trợ các huyện nghèo làm canh tác, dạy trồng trọt, chăn nuôi cho các hộ nghèo khác.”

2.4 Bất bình đẳng về tiếng nói và cơ hội:

2.4.1.Bất bình đẳng về tiếng nói:

- Nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy các nhóm thiệt thòi thiếu hiểu biết về quyền

và có rất ít không gian để lên tiếng về quyền của mình Các nhóm này thiếu khả năng tiếp cận thông tin về pháp luật, dịch vụ,v v.v, và bị hạn chế quyền tự do biểu đạt Theo cách nhìn của những người làm công chức, người dân “họ” hờ hững, thờ ơ với các thông báo, các Nghị Quyết được đưa từ Chính Phủ đến với người dân địa phương, Có cơ hội tham gia nhưng để bình đẳng tiếp cận cơ hội thì lại chưa có để tạo ảnh hưởng thực chất tới công tác quản trị nhà nước Và gần như hầu hết người dân có nhận thức hạn chế về chính sách thuế

-Người dân cảm thấy họ không có quyền đòi hỏi thông tin hay chất vấn các quyết định về thuế và ngân sách, và cũng tiếp thu rất chậm và không đồng đều những vấn đề này

2.4.2.Bất bình đẳng về cơ hội:

- DTTS nghèo, đặc biệt là DTTS chiếm dân số nhỏ , có khả năng chịu nhiều thiệt thòi hơn về dịch vụ, ngôn ngữ, văn hóa, và cơ hội việc làm Dẫn đến hậu quả là các dạng bất bình đẳng xã hội, tình trạng xuống cấp xã hội và cơ hội chuyển dịch nấc thang xã hội bị hạn chế Bình đẳng cơ hội dựa là dựa trên ý tưởng rằng mọi người đều có cơ hội dịch chuyển lên nấc thang xã hội từ thế hệ của mình về sau Nghiên cứu mới đây của Oxfam về dịch chuyển xã hội cho thấy “Đường Cong Gatsby Vĩ đại” , nó mô tả quan hệ tỷ lệ nghịch giữa bất bình đẳng thu nhập và dịch chuyển thế hệ ở Việt Nam

- Nhưng nếu giả định này không xảy ra, tất cả sự đồng tình ban đầu có được sẽ trở thành cảm giác thất vọng, ghen tỵ và tức giận, có thể sẽ dẫn tới ẩu đả, sung đột, và cũng hầu hết tất cả người tin vào sự chuyển nấc thang xã hội họ tăng thu

Trang 11

8

nhập miễn là họ, gia đình họ và thế hệ sau của họ có thể đi lên nấc thang cao hơn

Hình 2 8: Tỷ lệ phần trăm người dân chuyển từ việc làm không đòi hỏi kỹ năng sang việc làm đòi hỏi kỹ năng

Nguồn: Nguyễn Việt Cường (2016)

2.5 Bất bình đẳng về giáo dục và y tế:

- “Thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói - Diệt giặc dốt - Diệt giặc ngoại xâm Cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho

dân”.Trích Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua (11-06-1948) Để đáp lại lời kêu gọi

của Bác, Việt nam ta đã và đang nỗ cải thiện các kết quả giáo dục và y tế, nhưng

vì bất bình đẳng trong giáo dục và y tế quá rõ rệt phản ánh thực trạng nguồn lực phân bố không đồng đều và không có đủ nên sẽ làm giảm khả tiếp cận các ngành dịch vụ giáo dục, y tế cho các nhóm người nghèo đặt biệt là phụ nữ , trẻ

em và DTTS

2.5.1.Bất bình đẳng về giáo dục:

- Mặc dù tỷ lệ nhập học tăng ở mọi cấp nhưng bất bình đẳng về giáo dục của tỷ

lệ nhập học vẫn tồn tại ở các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau Năm 2012, tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc trung học phổ thông là 90% đối với nhóm ngũ phân vị giàu nhất, so với 68% đối với nhóm ngũ phân vị nghèo nhất và 81% với nhóm ngũ phân vị nghèo thứ nhì

- Thua thiệt về cơ hội và kết quả học tập thể hiện rõ không chỉ ở các nhóm người dân có thu nhập khác nhau, giữa các tầng lớp xã hôi mà còn giữa các thành phố và nông thôn, và giữa các nhóm DTTS

Trang 12

2.5.2 Bất bình đẳng về y tế:

- Các nhóm không may mắn phải chịu sức nặng bất bình đẳng thông qua hệ thống chi tiêu y tế Trong khi đó, các dịch vụ công cộng có ít tiến bộ về hiệu quả ngày càng tăng và giảm chi phí dịch vụ Chính sách giảm nghèo và phân phối ngân sách, chi tiêu cho y tế công cộng chưa đạt được hiệu quả cao do quy trình phát triển chính sách không dựa trên bằng chứng thực tế, quản trị y tế không hiệu quả trong việc theo dõi hành động thường xuyên và có sự kiểm soát chất lượng đáng tin cậy của cơ chế, thiếu phiếu bầu của xã hội dân sự Vấn đề sức khỏe kém ở Việt Nam tập trung trong người nghèo Người nghèo tái sử dụng ít dịch vụ y tế hơn người giàu, trong khi các nhóm thu nhập cao có độ nghiêng

"nhiều hơn" sử dụng nhiều dịch vụ nội bộ và ngoại trú khác nhau và cũng có các điều kiện để truy cập các bệnh viện và nhiều món ăn hơn

3 Các chính sách giải quyết của Chính phủ Việt Nam

- Chính phủ Việt Nam thiết kế các chương trình và chính sách cụ thể cho các nhóm thiệt thòi cụ thể, và đầu tư nhiều hơn cho hỗ trợ các lao động thiệt thòi gồm nông dân quy mô nhỏ, DTTS, phụ nữ nghèo, và lao động nhập cư Để giảm thiểu bất bình đẳng theo nhóm dân tộc, chỉ hướng tới các vùng nghèo thôi chưa

đủ, mà thay vào đó cần xem xét nhu cầu của các nhóm cụ thể (gồm cung cấp thông tin bằng tiếng dân tộc) Khuyến nghị này đòi hỏi:

• Chính phủ tạo điều kiện cho nông dân quy mô nhỏ tham gia nhiều hơn vào tiếp thị nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xã hội, và đảm bảo nông dân nghèo hưởng lợi các chương trình quốc gia như Tín dụng cho Người Nghèo hay Chương trình Nông thôn mới; v v v

Những nỗ lực lớn hơn cho bốn trụ cột của một khung chính sách bình đẳng sẽ thể hiện cam kết của Chính phủ xóa nghèo và bất bình đẳng cực đoan Theo ông Bùi Sỹ Lợi, muốn thực hiện được tiến bộ công bằng xã hội phải đi đôi chính sách tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội Thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng, đảm bảo công bằng xã hội chính là gốc để phát triển xã hội bền vững

Ngày đăng: 23/01/2022, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w