1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển năng lực học sinh thông qua dạy học dự án Bài 9 Nhật Bản – Địa lí 11 – Ban cơ bản_2

96 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm thay đổi cách học, nhận thức của học sinh về môn Địa lí cũng như định hướng phát triển năng lực cho học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

VI NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4

1 Khái niệm dạy học theo dự án 5

2 Đặc điểm dạy học theo dự án 5

3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án 8

3.1 Vai trò của giáo viên 8

3.2 Vai trò của học sinh 8

3.3 Vai trò của công nghệ: 9

4 Các hình thức của dạy học theo dự án 9

5 Các bước tiến hành 10

6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án 14

6.1 Ưu điểm: 14

6.2 Nhược điểm: 15

7 Các năng lực được hình thành trong dạy học dự án 15

8 Những lưu ý khi tổ chức dạy học theo dự án 15

II – CƠ SỞ THỰC TIỄN 17

1 Thực trạng dạy và học Địa Lí theo phương pháp dự án ở trường THPT hiện nay 17

1.1 Về phía giáo viên: 17

1.2 Về phía học sinh: 19

2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế khi tổ chức hoạt động dạy học dự án trong môn Địa Lí ở trường THPT hiện nay 20

3 Một số giải pháp tổ chức có hiệu quả dạy học dự án trong môn Địa Lí 20

III – THỰC NGHIỆM: DẠY HỌC DỰ ÁN BÀI 9 NHẬT BẢN ( ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 21

Trang 2

1 Giáo án thực nghiệm 21

1.1 Tên dự án dạy học 21

1.2 Mục tiêu dạy học 21

1.3 Đối tượng dạy học của dự án 23

1.4 Ý nghĩa của dự án 24

1.5 Thiết bị dạy học và học liệu 25

1.6 Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học 25

1.7 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 34

2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 35

2.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 35

2.2 Đối tượng và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 35

2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 35

2.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 36

2.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 37

PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

I KẾT LUẬN 41

1 Những kết quả đạt được 41

2 Hiệu quả của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn 41

2.1 Về hiệu quả xã hội 41

2.2 Về hiệu quả kinh tế 42

2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đề tài 42

II Kiến nghị 43

1 Đối với Sở giáo dục và đào tạo: 43

2 Đối với nhà trường: 43

3 Đối với tổ, nhóm chuyên môn: 43

4 Đối với giáo viên 43

5 Đối với học sinh 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 46

Trang 4

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã và đang tiến hành đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có đổi mới PPDH Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ:

“ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Chính vì vậy giáo dục phổ thông nói

chung cũng như dạy học bộ môn Địa lí nói riêng hiện nay cũng đang có bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, chuyển đổi từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng hình thành năng lực và phẩm chất người học

Địa lí vốn là môn học có kiến thức gắn liền với thực tiễn, thay đổi hàng ngày theo sự phát triển của xã hội, cho nên, địa lí thực sự gần gũi và có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan cho học sinh Thế nhưng, vẫn có một bộ phận học sinh còn thờ ơ với việc học tập bộ môn, nhiều phụ huynh coi nhẹ tầm quan trọng của địa lí Để học sinh trở nên yêu thích môn học, để phụ huynh có cái nhìn đúng đắn về bộ môn thì rất cần sự thay đổi từ nhiều phía Việc thay đổi chương trình sách giáo khoa theo hướng hiện đại, tích hợp thôi là chưa đủ mà điều quan trọng là phải đổi mới người thầy, đổi mới phương pháp giảng dạy để mỗi bài học là một sự khám phá, mỗi tiết lên lớp là những cuộc phiêu lưu, cuốn người học vào các hoạt động giảng dạy tích cực và hữu ích

Có thể nói, trong nhiều lí do thì đổi mới phương pháp giảng dạy là nhân tố hết sức quan trọng Việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng chính là đổi mới người thầy, biến những kiến thức hàn lâm, khô cứng trong sách giáo khoa đó trở thành những thông tin đơn giản, dễ tiếp thu Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng

cao hiệu quả giáo dục với mô hình “lấy học sinh làm trung tâm” là mục tiêu quan

trọng mà toàn ngành đang ưu tiên hướng tới nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tương lai Để đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động dạy và học, người giáo viên luôn trăn trở, tìm tòi cho mình một phương pháp tối ưu nhất Làm sao cho tiết dạy đạt hiệu quả cao, học sinh nắm vững trọng tâm, giờ học sinh động?

Đó là một câu hỏi khó đối với một giáo viên trẻ hay cả với các giáo viên dạy lâu năm

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm và dạy học tích cực có nhiều phương pháp và những kĩ thuật dạy học khác nhau Có thể liệt kê ra ở đây nhiều phương pháp quan trọng như phương pháp giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, phương

Trang 5

pháp thảo luận, dạy học theo trạm, dạy học theo góc, dạy học theo dự án… Mỗi phương pháp, mỗi kĩ thuật dạy học bên cạnh việc nâng cao kiến thức cho học sinh còn có ý nghĩa lớn trong việc hình thành những kĩ năng và nhân cách cho học sinh

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đổi mới phương pháp dạy học và tiếp cận nội dung, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo hướng phát triển năng lực người học, trong quá trình dạy học tôi đã lựa chọn một số hình thức dạy học mới trong đó có dạy học dự án

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học định hướng hành động, trong

đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành để tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Để làm được điều đó, người học phải có tính tự lực cao trong học tập, đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học

Nhằm thay đổi cách học, nhận thức của học sinh về môn Địa lí cũng như định hướng phát triển năng lực cho học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp

tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học

sinh; tôi đã áp dụng hình thức dạy học dự án với đề tài: “Phát triển năng lực học sinh thông qua dạy học dự án Bài 9 Nhật Bản” – Địa lí 11 – Ban cơ bản

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài: nghiên cứu lí thuyết về phương pháp dạy học theo dự án nhằm phát triển năng lực cho học sinh trong chương trình Địa lí trung học phổ thông

- Áp dụng phương pháp dạy học theo dự án để xây dựng kế hoạch dạy học phần Địa lí Nhật Bản trong chương trình Địa lí lớp 11 Ban cơ bản

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án để xây dựng kế hoạch dạy học phần Địa lí nhật Bản trong chương trình Địa lí lớp 11 Ban cơ bản

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 11 ở 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực nghiệm đối với học sinh lớp 11 ở 3 trường trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Phân tích thực trạng việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá môn Địa lí ở trường trung học phổ thông hiện nay,

- Tổng quan những vấn đề lí luận về phương pháp dạy học theo dự án góp

Trang 6

phần nâng cao năng lực học sinh hiện nay Từ đó vận dụng xây dựng kế hoạch dạy học phần Địa lí Nhật Bản chương trình Địa lí lớp 11 Ban cơ bản theo dạy học dự án

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng hầu như trong suốt đề tài với nguồn tài liệu được sử dụng có thể gồm các dạng: các văn bản Nghị định, Nghị quyết về vấn đề giáo dục; các tài liệu tập huấn chuyên môn của

Bộ giáo dục và đào tạo; các tài liệu, sách báo chuyên ngành của các tác giả, một sốtrang báo điện tử về giáo dục, nhằm thu thập thông tin, số liệu liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Trên cơ sở những số liệu đã thu thập, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng để xử lí các số liệu phục vụ mục đích nghiên cứu thực trạng đổi mới dạy học môn Địa lí ở trường phổthông để từ đó áp dụng hiệu quảvào việc xây dựng các chủ đề dạy học Việc xử

lý số liệu còn kết hợp với việc phân tích, tổng hợp và so sánh các đối tượng, các số liệu với nhau để tìm ra những nhận định, đánh giá của bản thân về vấn đề cần nghiên cứu Sản phẩm của việc xử lý này được phân tích, tổng hợp hay hệ thống hóa bằng bảng số liệu, trực quan hóa thành biểu đồ

-Phương pháp quan sát: Quan sát khoa học là phương pháp tri giác đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin đối tượng Trong quá trình thực hiện đề tài, giáo viên trực tiếp quan sát quá trình học sinh học tập tại lớp, trong giờ kiểm tra để tìm hiểu thái độ, hứng thú, tính tích cực học tập, kĩ năng làm bài, kĩ năng giải quyết vấn đề của học sinh để từ đó rút ra được ưu khuyết điểm mà phương pháp mình đang áp dụng, trên cơ sởđó điều chỉnh đểđạt được kết quả như

đề tài mong muốn

-Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm được dùng khi

đã có kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra Để khẳng định kết quả của đề tài chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệm sư phạm với lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Ở lớp thực nghiệm chúng tôi tiến hành dạy học theo phương pháp của đề tài Còn ở lớp đối chứng chúng tôi tiến hành dạy học theo các phương pháp dạy học truyền thống Sau đó chúng tôi tiến hành cho 2 lớp làm bài kiểm tra trong 15 phút để từ đó đánh giá được thái độ, ý thức, hiệu quảhọc tập của học sinh, là cơ sở khẳng định tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu

-Phương pháp điều tra, khảo sát: Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trong điều tra xã hội học Tức là tiến hành các cuộc nói chuyện dưới dạng hỏi - đáp trực tiếp và lấy phiếu thăm dò của giáo viên và học sinh lớp 11 về hiệu quả của việc sử dụng dạy học theo dự án để xây dựng kế hoạch dạy học Địa lí Nhật Bản chương trình Địa lí lớp 11 Đây là một cơ sở quan trọng để có thể rút ra kết luận về tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu

Trang 7

VI NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần tích cực trong việc tạo động cơ và sự hứng thú học tập bộ môn Địa Lí cho học sinh, đổi mới và đa dạng hóa phương pháp dạy học Địa Lí của giáo viên tại trường THPT

- Đề ra một số giải pháp trong việc nâng cao hiệu quả của việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Địa Lí hiện nay và ở chương trình mới

- Có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Địa Lí ở trường THPT và bản thân tác giả để vận dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn

- Trên cơ sở chung về lý luận dạy học theo dự án, sáng kiến kinh nghiệm vận dụng vào thực tế dạy học địa lí 11 – chương trình chuẩn; xây dựng dự án minh hoạ tiến trình tổ chức dạy học trong điều kiện hiện có của nhà trường

- Đề tài áp dụng được cho rộng rãi các đối tượng học sinh (không chỉ học sinh khá, giỏi mà cả học sinh trung bình hay yếu), từ đó phát huy những năng khiếu, năng lực học sinh mà ở dạy học truyền thống ít phát huy được

- Qua quá trình làm đề tài, giúp học sinh nhận ra được năng khiếu, sở trường của mình, từ đó phát hiện và bồi dưỡng các em trong học tập, giúp định hướng nghề nghiệp và khả năng tiếp cận với những kiến thức nghề nghiệp mà các em yêu thích

- Liên hệ kiến thức được học vào thực tế, biến kiến thức trên sách vở vào ứng dụng thực tế, mang lại lợi ích cho xã hội

Trang 8

PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và

kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA

2 Đặc điểm dạy học theo dự án

Từ nghiên cứu của các nhà khoa học và thực tiễn dạy học cho thấy phương pháp dạy học theo dự án có các đặc điểm cơ bản sau:

- Tính phức hợp, liên môn của nhiệm vụ học tập: Nhiệm vụ học tập trong dạy

học theo dự án không giới hạn trong một đơn vị kiến thức của mỗi bài trong một môn học mà có thể xuyên suốt giữa các bài, giữa các chương trong một giáo trình, giữa các giáo trình trong một bậc học và giữa các môn học với nhau Ví dụ như khi thực hiện một dự án Địa lí về Nhật Bản, HS lớp 11 có thể vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức Địa lí đã được học ở lớp 10 để giải thích đặc điểm khoáng sản Nhật Bản…đồng thời có thể liên kết kiến thức Lịch sử để giải thích đặc điểm kinh

tế Nhật Bản 1945 – 1950, hay liên môn với Hóa học để làm mô hình Nhật Bản

- Sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn

và kết quả của dự án có ý nghĩa thực tiễn xã hội vì vậy dạy học dự án tạo ra kinh nghiệm học tập cho học sinh và kinh nghiệm dạy học đối với giáo viên, thu hút học sinh vào những dự án phức tạp trong thế giới thực, học sinh sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng, kiến thức của mình vào cuộc sống

Trọng tâm của dạy học theo dự án là tạo điều kiện cho HS vận dụng các tri thức

lí thuyết vào hoạt động thực tiễn thông qua đó kiểm chứng và mở rộng kiến thức

lí thuyết đồng thời bổ sung kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, HS có điều kiện để thực hành những lí thuyết đã học và thông qua kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn, HS có thể rút ra được những nhận định, những kết luận của vấn đề nghiên cứu Trong dự án Nhật Bản như đã đề cập ở trên, trên cơ sở tư liệu thu thập được, HS thường xuyên vận dụng các kiến thức về cách đọc bảng Số liệu thống kê, Sơ đồ, Biểu đồ, Bản đồ … để phân tích, rút ra được những nhận định

về tình hình phát triển kinh tế theo giai đoạn của Nhật Bản, các ngành kinh tế trong nước hoặc của một vùng kinh tế cụ thể Ngoài ra HS còn có thể chuyển kết quả nghiên cứu của mình thành biểu đồ, bản đồ trong các sản phẩm cuối cùng Như vậy kĩ năng Địa lí của HS thường xuyên được rèn luyện và phát triển

- Tạo ra sản phẩm: Sản phẩm là yêu cầu bắt buộc khi kết thúc các dự án Sản

Trang 9

phẩm được tạo ra trong quá trình HS thực hiện dự án Học sinh được đánh giá thông qua các sản phẩm này cùng với việc công bố, giới thiệu sản phẩm và quá trình làm việc của mình Do vậy, khi giới thiệu dự án luôn có định hướng sản phẩm

rõ ràng Đó là kết quả của hoạt động và những kết quả ấy có thể công bố được Sản phẩm có thể là những đồ vật cụ thể, chẳng hạn: một ấn phẩm, tờ rơi hay sách, các bài trình diễn Powerpoint tìm hiểu về tiềm năng, tình hình phát triển, những điểm mạnh, nổi bật trong kinh tế Nhật Bản; video, mô hình Nhật Bản hay cao hơn là triển lãm về Nhật Bản – vùng đất mới; cũng có thể là những sản phẩm phi vật thể như thực hiện một định hướng trong chọn nghề tương lai của học sinh, vấn đề tiếp thu tinh hoa văn hóa Nhật Bản, hợp tác lao động Việt – Nhật

- Tính tự lực của người học (tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm của người học): Trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào

các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

Đây là một điểm đặc trưng của phương pháp dự án, thể hiện xuyên suốt quan điểm dạy học hướng vào người học Trong quá trình thực hiện dự án, HS cần được tạo điều kiện để “tự định hướng” trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án Trong chừng mực nhất định, HS còn được tham gia xác định mục đích dự án và đánh giá kết quả của dự án HS cần được rèn luyện kĩ năng “tự đánh giá” - Kĩ năng “Siêu nhận thức”- trong suốt quá trình làm dự án để hoàn thiện sản phẩm Từ đó, cùng với giáo viên, các nhóm HS

có thể tham gia đánh giá sản phẩm của nhau, đặc biệt trong giai đoạn kết thúc dự

án – cụ thể ở thời điểm các nhóm trình bày sản phẩm

- Dạy học dự án gắn liền với hoàn cảnh: Các đề tài của dự án cần phải

xuất phát từ thực tế, từ hoàn cảnh gần gũi với cuộc sống, đó là những vấn đề cần phải giải quyết và phù hợp với điều kiện và khả năng của HS

-Tính định hướng hành động: Trong mô hình dạy học theo dự án, học sinh

sẽ liên tục khám phá, giải thích, tổng hợp thông tin một cách sát thực và có ý nghĩa Các tiết học theo dự án hấp dẫn sẽ giúp học sinh hiểu rằng các nhiệm vụ trong lớp là có giá trị Học sinh sẽ có động cơ tốt khi tin rằng các nhiệm vụ mà họ thực hiện phù hợp với các nhu cầu, quyền lợi và mục đích cá nhân của họ Song cần nhấn mạnh, giáo viên phải đảm bảo rằng các nhiệm vụ phải phù hợp với khả năng của học sinh Nếu các nhiệm vụ quá sức thì học sinh sẽ mất tự tin Nếu các nhiệm vụ quá dễ thì học sinh nhanh chán và mất hứng thú làm việc, các hoạt động học sẽ không còn hiệu quả

- Định hướng vào hứng thú của học sinh: Xuất phát từ những vấn đề thực

tiễn, đề tài của dự án tạo được hứng thú và giúp phát triển động cơ học tập của HS Hứng thú của HS cũng cần phải được duy trì và phát triển trong suốt quá trình

Trang 10

thực hiện dự án Vì vậy, vai trò theo dõi, giám sát, hỗ trợ đúng lúc và đúng thời điểm của GV là rất quan trọng

- Dự án có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn và

kết quả của dự án có ý nghĩa thực tiễn xã hội vì vậy dạy học dự án tạo ra kinh nghiệm học tập cho học sinh và kinh nghiệm dạy học đối với giáo viên, thu hút học sinh vào những dự án phức tạp trong thế giới thực, học sinh sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng, kiến thức của mình vào cuộc sống

Việc thực hiện các dự án có thể mang lại sự thay đổi có ý nghĩa trong đời sống xã hội và trong bản thân của mỗi HS , chẳng hạn với dự án: Nhật Bản (địa lý 11), sau khi tìm hiểu vấn đề dân cư – lao động ở nhật Bản, học sinh thấy được tình trạng thiếu lao động ở Nhật Bản, mối tương quan với nhu cầu lao động của nước ta

và trên thế giới; trên cơ sở xác định sở trường, sự hứng thú, niềm đam mê và điều kiện của bản thân, HS có thể có những hướng đi, những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, …

- Việc học tập mang tính xã hội: Thể hiện sự cộng tác chặt chẽ liên tục

giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh Việc cộng tác giữa giáo viên với học sinh thể hiện ở sự hướng dẫn, tư vấn và cung cấp thông tin phản hồi của giáo viên cho học sinh Học sinh sẽ nhận nhiệm vụ và liên tục thông qua tiến trình thực hiện dự án với giáo viên

Tổ chức cho HS làm việc nhóm là hình thức phổ biến trong dạy học dự

án Trong quá trình làm việc nhóm, các cá nhân trong nhóm tương tác với nhau

để cùng thực hiện và hoàn thiện sản phẩm của nhóm, các nhóm học sinh phải có

sự cộng tác trong làm việc mới đảm bảo được thành công cho dự án Đồng thời giữa các nhóm cũng thường xuyên chia sẻ, đánh giá, đóng góp ý kiến cho nhau

để nâng cao chất lượng, sản phẩm GV, với vai trò người tổ chức, chỉ đạo, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện, … sẽ thường xuyên phối hợp nhịp nhàng với nhóm Ngoài ra, các nhóm còn có thể liên kết với các GV khác trong nhà trường, với các chuyên gia trong xã hội về lĩnh vực nhóm đang tìm hiểu để nhận được sự tư vấn chuyên nghiệp và kịp thời, … Dễ dàng nhận thấy rằng tính chất “xã hội” của học tập dự án được hình thành và phát triển, qua đó HS được rèn ý thức và PP cùng cộng tác trong lao động

Tính chất xã hội còn được thể hiện rõ qua việc HS “đóng vai” trong quá trình thực hiện dự án HS phải “hóa thân” vào các vai có thật trong cuộc sống Trong dự án Nhật Bản, HS có thể vào vai sứ giả văn hóa, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, …Việc đóng vai ngoài ý nghĩa giúp cho HS nghiên cứu sâu và sát với thực tiễn hơn một vấn đề học tập, còn giúp HS bước đầu tiếp cận với những công việc thật ngoài xã hội, qua đó góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp

Ngoài ra, tính chất xã hội trong dạy theo dự án còn thể hiện ở khả năng tận dụng những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ trong xã hội, đặc biệt

Trang 11

những thành tựu về CNTT CNTT là nguồn lực hỗ trợ tối quan trọng, tối cần thiết trong suốt quá trình thực hiện dự án Có thể nói, khó lòng hình dung, việc thiết kế

và thực hiện các dự án dạy học trong thế kỉ 21 lại tách biệt hoàn toàn với CNTT, đặc biệt là Internet

3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học theo

dự án

Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực, bản chất của phương pháp này đã tạo nên một sự thay đổi lớn về vai trò của người dạy và người học

3.1 Vai trò của giáo viên

Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung tâm, là chuyên gia và nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức, trong DHDA, GV chỉ

là người hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise) chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” cho HS của mình Theo đó, giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ nội dung nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gắn với nội dung cần học (thiết

kế các bài tập cho học sinh)…

- Giáo viên là người hướng dẫn, hỗ trợ và tạo động lực thúc đẩy vai trò tự chủ của học sinh, gắn sự chủ động của học sinh trong việc giải quyết nội dung bài học Giáo viên chịu trách nhiệm tư vấn và giúp học sinh giải quyết các vướng mắc chứ không phải giải quyết hộ học sinh Năng lực và vai trò của giáo viên thể hiện ở các hỗ trợ học sinh (không chỉ bằng các chỉ dẫn mà còn bằng cả các sản phẩm mẫu, các tài liệu cung cấp tham khảo, các nguồn thông tin, cách chuyển giao công việc và quá trình đánh giá) Trong lớp học truyền thống, giáo viên nắm giữ tất cảcác kiến thức và truyền tải đến học sinh

Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án

3.2 Vai trò của học sinh

- Học sinh là người chịu trách nhiệm chính, là trung tâm của quá trình dạy học Học sinh tự lập kế hoạch, tự định hướng quá trình học tập, hợp tác giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, đánh giá Cũng chính vì vậy, dạy học theo dự án trở nên thực

và hữu ích, hấp dẫn với học sinh

- Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp

và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó

- Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm

Trang 12

- Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em

- Học sinh hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó

- HS cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án

Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó

3.3 Vai trò của công nghệ:

Mặc dù công nghệ không phải là vấn đề cốt yếu đối với phương pháp DHDA nhưng nó có thể nâng cao kinh nghiệm học tập và đem lại cho học sinh cơ hội để hòa nhập với thế giới bên ngoài, tìm thấy các nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm Một vài giáo viên có thể không cảm thấy thoải mái với những công nghệ mới hoặc có thể cảm thấy lớp học chỉ với một máy tính sẽ là trở ngại đối với việc phải dùng máy tính như là một phần của công việc dự án Những thử thách này có thể vượt qua Nhiều giáo viên cần sẵn sàng chấp nhận rằng họ không phải là chuyên gia trong mọi lĩnh vực và học sinh của họ có thể biết nhiều hơn họ, đặc biệt

là khi tiếp cận với công nghệ Cùng học các kỹ năng mang tính kỹ thuật với học sinh hoặc nhờ học sinh giúp đỡ như một người cố vấn kỹ thuật là một vài cách để vượt qua chướng ngại này

4 Các hình thức của dạy học theo dự án

- Phân loại dự án

Các loại dự án học tập có thể phân chia theo nội dung, theo thời gian thực hiện hoặc theo hình thức tham gia:

- Phân loại theo nội dung:

+ Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học + Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau Ví dụ:

dự án cải tạo hồ bơi của trường (Môn Toán -Lí -Mỹ thuật-Kĩ thuật )

+ Dự án ngoài môn học: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường, dự án tìm hiểu năng lượng Mặt trời, dự án quảng bá du lịch địa phương

- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm học sinh, dự án

cá nhân Dự án dành cho nhóm học sinh là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

- Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:

Trang 13

+ Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học

+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay

40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

5 Các bước tiến hành

Qui trình tổ chức dạy học theo dự án

Giai đoạn 1: Chuẩn bị Bước 1 Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo dự án đạt hiệu quả

- Lựa chọn nội dung học tập: Nội dung học theo dự án có thể được thực hiện trong phạm vi một môn học hoặc liên môn Từ đó, xác định chủ đề lớn cho học sinh nghiên cứu

- Phân bổ thời gian học tập: Giáo viên cần quyết định thời gian học sinh thực hiện dự án nằm trong phân phối chương trình chính khóa hoặc hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa

- Thời lượng: Thời lượng học theo dự án tùy thuộc vào quy mô và nội dung

dự án (xem mục các loại dự án)

- Tài liệu: Giáo viên cần xem xét đến các nguồn tài liệu học sinh có thể tiếp cận để học theo dự án như tư liệu sẵn có (giáo viên có thể cung cấp cho các em), hay các em phải tìm kiếm trong thư viện, trên internet, Ngoài ra cũng cần tính đến khả năng hỗ trợ của các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, ở cộng đồng

Các công cụ hỗ trợ khác: Giáo viên cần xem xét đến sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại (nếu có) như: Các phần mềm Microsoft Office (Word, Excel, Powerpoint), máy ảnh kỹ thuật số, máy quay phim, các công cụ trên internet,

Bước 2 Thiết kế kế hoạch bài học theo dự án

- Thiết kế mục tiêu: Các chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn

họcvà những kỹ năng tư duy bậc cao mong muốn đạt được là căn cứ để thiết kế cho những mục tiêu cụ thể của bài học theo dự án

- Thiết kế bộ câu hỏi khung: Theo các tác giả Wiggins, G & McTighe, J

(2001) bộ câu hỏi khung sẽ giúp cho các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm Học sinh được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn Học sinh sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu

Giáo viên xây dựng bộ câu hỏi định hướng để hướng dẫn dự án và giúp học sinh tập trung vào những ý tưởng quan trọng và những mấu chốt của bài học Bộ câu hỏi định hướng là bộ câu hỏi xuyên suốt các dự án, phát triển tư duy ở các cấp

Trang 14

độ Bộ câu hỏi định hướng giúp dự án tạo ra sự cân bằng giữa việc thấu hiểu nội dung và việc khám phá những ý tưởng hấp dẫn khiến việc học trở nên phù hợp với học sinh, định hướng cho học sinh đạt được mục tiêu của dự án, tạo hứng thú kích thích để học sinh đạt được những kỹ năng tự tổ chức chiếm lĩnh tri thức, tư duy ở mức độ cao như so sánh, tổng hợp,làm việc nhóm, ứng dụng kiến thức vào thực tế

để đánh giá và tự đánh giá Bộ câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung hướng dẫn việc tiếp thu bài học

- Lập kế hoạch đánh giá: Trong dạy học dự án, các chuẩn được sử dụng nhằm giúp cho việc thiết kế dự án, việc đánh giá được lên kế hoạch trước và xuyên suốt trong bài học, các bài kiểm tra chỉ là một trong nhiều loại đánh giá Việc thực hiện nhiệm vụ, các phiếu tự đánh giá, bảng kiểm mục và các bài kiểm tra được coi như các công cụ để đánh giá Để triển khai thành công dạy học dự án, việc đánh giá nên tập trung vào những câu hỏi cụ thểnhư: học sinh hướng đến các mục tiêu học tập như thế nào? Học sinh sử dụng những kĩ năng tư duy nào? Liệu học sinh

có nâng cao được khả năng tự quản lý, tư duy sâu để học tốt hơn hay không?

- Thiết kế các hoạt động: Giáo viên cần xây dựng các tình huống, áp dụng các kỹ thuật học tích cực để thiết kế các hoạt động nhằm cuốn hút học sinh tìm cách giải quyết vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ học tập khác nhau để trả lời các câu hỏi khung, liên hệ được với cuộc sống bên ngoài lớp học và giải quyết một số vấn

đề của cuộc sống thực

Giai đoạn 2 Tổ chức cho học sinh học theo dự án

Quá trình tổ chức dạy học theo dự án được tiến hành theo 6 bước sau đây: Bước 1 Lựa chọn chủ đề dự án: Giáo viên tạo điều kiện để học sinh đề xuất chủ đề, xác định mục tiêu dự án

Chủ đề khởi đầu bằng một ý tưởng có liên quan đến nội dung học tập của một môn học hoặc liên môn gắn với thực tiễn mà học sinh quan tâm/yêu thích

Xây dựng tiểu chủ đề và xác định các vấn đề nghiên cứu cụ thể: Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc theo nhóm sử dụng kỹ thuật động não để xác định các tiểu chủ đề từ ý tưởng/chủ đề lớn ban đầu Trên cơ sở đó, các nhóm sẽ xây dựng các vấn đề nghiên cứu cụ thể

Bước 2 Lập kế hoạch: Học sinh lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ Trong giai đoạn này, học sinh với sự hướng dẫn của giáo viên xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

Trong giai đoạn này, để thuận lợi khi xây dựng ý tưởng mới xung quanh chủ

đề đã lựa chọn cũng có thể sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi có các từ hỏi như Ai? Cái gì? Ởđâu? Khi nào? Như thế nào? Tại sao? Trong số các câu hỏi này, câu hỏi Tại

Trang 15

sao và Như thế nào là quan trọng nhất

Hoạt động lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập nhằm giúp cho các thành viên trong nhóm biết được ai sẽl àm nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành Đây là hoạt động hợp tác giữa các thành viên, đòi hỏi mỗi thành viên phải ý thức phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành dự án

Bước 3: Thu thập thông tin: Học sinh tìm cách thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: quan sát, phỏng vấn nhân chứng, mạng Internet, thư viện, bảo tàng, sách, phim ảnh,

Bước 4 Xử lí thông tin: Học sinh làm việc theo kế hoạch đã xây dựng và tham vấn giáo viên hướng dẫn nhằm đảm bảo dự án đi đúng hướng

Trong bước này học sinh xử lí các tài liệu thu thập được

- Phân tích và giải thích các kết luận: Sau khi thu thập dữ liệu, cần tiến hành phân tích để có dữ liệu có ích và có ý nghĩa Các kết luận rút ra sau khi phân tích đầy đủ các dữ liệu là minh chứng cho các phát hiện của dự án Một số cách phân tích dữ liệu tiêu biểu là: Lập bảng, biểu đồ; tổng hợp thông tin; so sánh và đối chiếu

- Tổng hợp thông tin: Trong quá trình tìm hiểu, học sinh đã thu thập một lượng lớn dữ liệu/ thông tin Các dữ liệu thô này cần được tổng hợp lại để chỉ đưa vào báo cáo các kết luận có liên quan và đã được phân tích Kỹ năng tổng hợp rất quan trọng đối với hoạt động tìm hiểu và tổng hợp kết quả của dự án

- Xây dựng sản phẩm của dự án: Sau khi thu thập được các thông tin qua hoạt động tìm kiếm, điều tra, phỏng vấn và phân tích, học sinh có thể tập hợp lại thành một sản phẩm của dự án Các dạng sản phẩm dự án có thể là: bài trình bày bằng Powerpoint; báo cáo văn bản; phim; tiểu phẩm; mô hình

Học sinh có thể lựa chọn bất cứ dạng sản phẩm nào để thể hiện kết quả dự

Bước 6 Đánh giá sản phẩm dự án: Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả

và quá trình Rút ra kinh nghiệm

Việc đánh giá dự án cần phải trả lời các câu hỏi:

Trang 16

- Dự án vừa thực hiện có cho phép một sự học tập tích cực hay không?

- Mục đích học tập đạt được hay chưa?

- Liệu sản phẩm của dự án có dùng được hay không?

- Những thiếu sót gì đã bỏ qua?

- Trong tương lai dự án có thể thực hiện khác được không?

- Hướng phát triển tiếp theo của dự án là gì?

Ngoài ra còn cần xem xét đánh giá các yếu tố khác trong quá trình thực hiện

dự án như cảm giác thoải mái của học sinh trong quá trình làm việc theo nhóm –thời gian thực hiện dự án - các vấn đề gặp phải và sự hỗ trợ, Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự án hoặc thực hiện các dự án tiếp theo khác

Có những phương pháp đánh giá khác nhau như: trao đổi bằng thư, đánh giá toàn lớp, đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá, học sinh nêu câu hỏi, đánh giá các nhóm

Sau đây là bảng tóm tắt các bước tổ chức dạy học dự án nói trên:

đề

hoạch các nhiệm vụ học tập

hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được

lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần, ý tưởng và tên dự án

HS : làm thế nào để HS thực hiện xong thì bộ câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được

GV và HS cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế

đề dự án

định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công v iệc trong nhóm

đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án

chí đánh giá dự án

2 Thực hiện

dự án

giá HS trong quá trình

viên trong nhóm thực hiện dự

Trang 17

giáo viên hướng dẫn

thực hiện dự án

mời cần thiết cho HS

điều kiện thuận lợi cho các

tin thu được

báo cáo

cần

báo thông tin cho GV và các nhóm khác

3 Kết thúc

dự án

các kết quả

buổi báo cáo dự án

tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

Trang 18

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;

- Phát triển khả năng sáng tạo;

- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

- Phát triển năng lực đánh giá của học sinh (tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng)

- Rất phù hợp với xu hướng đa dạng hóa hình thức đánh giá trong đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay, phù hợp với chương trình giáo dục THPT mới 2018

- DHDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

- DHDA đòi hỏi giáo viên nhiệt tình, chịu khó đầu tư thời gian để thiết kế dự

án, năng động, có trình độ chuyên môn, trình độ sử dụng công nghệ thông tin và nghiệp vụ nhất định

7 Các năng lực được hình thành trong dạy học dự án

- Làm việc nhóm: Học sinh làm việc hợp tác trong nhóm nhỏ để thể hiện hết khả năng thích nghi, chủ động và tinh thần trách nhiệm trong công việc

- Phân tích, đánh giá: Sử dụng thiết bị viễn thông một cách hiệu quả để ghi chép thông tin nghiên cứu và tổng hợp thông tin để viết rõ ràng, đánh giá thông tin

từ xa, giao tiếp với người khác trong việc hỗ trợ học tập trực tiếp, độc lập và theo đuổi các sở thích cá nhân

- Sử dụng một số công cụ hỗ trợ từ công nghệ thông tin: Các kĩ năng soạn thảo văn bản, thiết kế ấn phẩm, poster, lược đồ điện tử, làm video clip, cẩm nang,

tổ chức triển lãm…

- Khai thác bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh…

- Sự sáng tạo và cải tiến của học sinh sẽ được phát huy tối đa vì thông qua

dự án cho phép các em thực hiện những ý tưởng sáng tạo để tạo nên đóng góp đáng kể và có ích cho lĩnh vực có sự cải tiến

8 Những lưu ý khi tổ chức dạy học theo dự án

Khi tổ chức dạy học theo dự án giáo viên cần lưu ý một số điểm sau đây:

Trang 19

- Phải xác định đúng chủ đề: Vì nếu không xác định đúng chủ đề thì nội

dung của dự án tiến triển theo 2 hướng bất lợi: Một là không có nhiệm vụ nghiên cứu vì chủ đề quá đơn giản, hai là nhiệm vụ quá khó vượt khả năng và điều kiện cho phép – nghĩa là nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình

độ và khả năng của học sinh HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân

- Đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, tích

cực, yêu nghề Đặc biệt là năng lực tổ chức và quản lý học sinh trong hoạt động,

nhất là hoạt động nhóm

- Giáo viên phải quan tâm đến nguồn tư liệu tham khảo của chủ đề dự án, trang thiết bị cần thiết và địa điểm phù hợp cho hoạt động của giáo viên và học sinh

- Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành

- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm

- Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

- Dạy học dự án không phù hợp với các bài học đòi hỏi sự trình bày chính xác, chặt chẽ và hệ thống

-Việc thực hiện dự án ít nhiều liên quan đến kinh phí (in ấn, chi phí trong quá trình thu thập tài liệu ) vì vậy giáo viên phải thường xuyên bám sát, điều chỉnh tránh lãng phí, không cần thiết

- Không phải nội dung nào, bài học nào cũng áp dụng được phương pháp dạy học theo dự án Nội dung dạy học trong dự án dạy học phải mang tính tổng hợp hoặc liên môn Vấn đề phải hấp dẫn, sát với thực tiễn để thiết kế được nhiều hoạt động

Tóm lại, dạy học dự án là hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: Định hướng người học, định hướng hành động, dạy học giải quyết vấn đề và quan điểm dạy học tích hợp Bên cạnh đó, dạy học dự án góp phần gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học

Trang 20

II – CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thực trạng dạy và học Địa Lí theo phương pháp dự án ở trường THPT hiện nay

1.1 Về phía giáo viên:

biết cơ bản, hệ thống về Trái Đất - môi trường sống của con người, về thiên nhiên

và những hoạt động kinh tế của con người trên phạm vi quốc gia, khu vực và thế giới; rèn luyện cho học sinh những kĩ năng hành động, ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, xã hội Đó là một phần của học vấn phổ thông cần thiết cho mỗi người lao động trong xã hội hiện đại, trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Vì vậy giáo viên cần phải thay đổi phương pháp dạy học nhằm phát huy năng lực, kĩ năng của mỗi một học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng lao động hiện nay

về đổi mới phương pháp dạy học Nhiều giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Đối với môn Địa lí nói riêng và các môn học khác ở các trường trung học phổ thông việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học sinh đã và đang được quan tâm nhiều hơn Việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực vào các tiết dạy học được sử dụng nhiều hơn và đã bước đầu có những kết quả khả quan Học sinh tỏ ra quan tâm, hứng thú hơn đối với môn học, kết quả học tập cao hơn Nhiều giáo viên đã thật sự đầu tư, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy cũ, áp dụng các phương pháp dạy học theo dự án để kích thích hứng thú học tập, phát triển các kĩ năng cần thiết cho học sinh

Tuy nhiên, hoạt động dạy học theo dự án ở trường trung học phổ thông chưa đồng bộ và hiệu quả chưa cao như mong muốn Quá trình dạy học vẫn thiên về truyền thụ tri thức một chiều, nặng về truyền thụ kiến thức Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như

sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được chú trọng Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học chưa được thực hiện rộng rãi

Tôi đã tiến hành khảo sát việc sử dụng các phương pháp dạy học theo dự án của giáo viên vào giảng dạy ở 3 trường Trung học phổ thông thuộc địa bàn huyện

Quỳnh Lưu, tổng số 12 giáo viên ( xem Phụ lục 1) Tôi đã thu được kết quả như

sau:

Trang 21

Bảng 1: Thống kê các phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng trong giảng dạy bộ môn Địa lí ở một số trường trung học phổ thông tại huyện

Quỳnh Lưu

T

T

Tên phương pháp

Thường xuyên sử dụng

Tỉ

lệ (%)

Số lượng (người)

Tỉ

lệ (%)

Số lượng (người)

Tỉ

lệ (%)

Số lượng (người)

Tỉ

lệ (%)

cực như phương pháp dự án cần rất nhiều thời gian, soạn bài chi tiết, tỉ mỉ

Trang 22

Nguyên nhân thứ 2 là do chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu

"xoáy ốc" nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia ra các mức độ khác nhau để học ở các cấp học khác nhau (nhưng không thực sự hợp lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng nội dung, nặng về lập luận, suy luận, diễn giải hình thành kiến thức; cùng một chủ đề/vấn đề nhưng kiến thức lại được chia ra thành nhiều bài/tiết để dạy học trong 45 phút không phù hợp với phương pháp dạy học tích cực; có những nội dung kiến thức được đưa vào nhiều môn học; hình thức dạy học chủ yếu trên lớp theo từng bài/tiết nhằm "truyền tải" hết những gì được viết trong sách giáo khoa, chủ yếu là "hình thành kiến thức", ít thực hành, vận dụng kiến thức

thức trắc nghiệm Hình thức thi này chưa phù hợp nhiều cho việc áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là ở phương pháp dạy học theo dự án cũng như chưa tạo điều kiện phát huy hết năng lực của học sinh

ảnh hưởng đến việc dành nhiều thời gian cho đầu tư phương pháp dạy học, số lượng hồ sơ còn nhiều cũng ảnh hưởng đến việc đầu tư cho giáo án

1.2 Về phía học sinh:

Bên cạnh đó, thực trạng học tập của học sinh đối với bộ môn Địa lí hiện nay cũng khiến cho việc áp dụng các phương pháp dạy học mới gặp nhiều khó khăn

Đa số các em còn lúng túng với dạng bài tập “mở” khi đọc hiểu để trả lời câu hỏi

hoặc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Học sinh chủ yếu dựa vào kiến thức trong sách giáo khoa, chưa biết cách sử dụng các kiến thức thực tiễn

và liên môn trong giải quyết các bài tập và làm bài kiểm tra Đặc biệt một số em cho rằng đó là môn học của khối C hoặc coi đó là môn phụ không cần học nhiều, nên dẫn tới tâm lí không hứng thú, không quan tâm chú trọng những tiết học này

các lớp 11 ở 3 trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu để tìm hiểu mong muốn của các em khi tham gia các hoạt động học tập trong các giờ học Địa lí với câu hỏi như sau: “Em có mong muốn trong một giờ học Địa lí sẽ được tham gia vào những hoạt động học tập nào nhiều? Chúng tôi đã thu được kết quả trong số

487 học sinh được khảo sát thì có đến 257 em thích được tham gia hoạt động nhóm (chiếm 61,1%), có 84 em thích được thảo luận vấn đề (32,7%), chỉ có 15 em (chiếm 5,8%) thích lên lớp nghe giảng lí thuyết và 1 em (0,4%) thích tự nghiên cứu bài học (xem Phụ lục 1) Như vậy hầu hết học sinh đều có mong muốn được hiểu, được bày tỏ ý kiến của bản thân đối với vấn đề tiếp nhận kiến thức mới, mong muốn được vận dụng hiểu biết của bản thân để giải quyết các vấn đề trong thực tế

Với sự phát triển của cách mạng 4.0 hiện nay, đa số học sinh biết sử dụng điện thoại, zalo, facebook, mersinger , một bộ phận các em (không phải chỉ học sinh khá, giỏi mà cả học sinh trung bình và yếu) còn biết lập trang wet, biết làm

Trang 23

video, lồng tiếng video, có em còn biết làm nhiều ấn phẩm học tập như sách, tờ rơi quảng bá, có em có năng khiếu dẫn chương trình, năng khiếu lãnh đạo nhóm Qua thực tế dạy học hướng dẫn thiết lập bản đồ tư duy trong một tiết dạy bài EU (thực hiện 8/12 lớp) tôi phát hiện ra nhiều em có năng khiếu hội họa, trí thông minh vận động trong khi đó với dạy học truyền thống các năng lực học tập này của các em không được sử dụng và phát huy

Đứng trước thực trạng đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn Theo

đó, phương pháp dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực hiện nay, có tác dụng rất lớn trong việc gắn bài học với thực tiễn, giúp học sinh hình thành những kĩ năng giải quyết tình huống trong thực tiễn hiệu quả

2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế khi tổ chức hoạt động dạy học

dự án trong môn Địa Lí ở trường THPT hiện nay

- Về cơ sở vật chất: nhà trường chưa có phòng học dành riêng cho bộ môn,

đa số các phòng học sắp xếp bàn ghế theo truyền thống (hai dãy hàng ngang), chưa phù hợp cho dạy học dự án, số lớp học có máy chiếu còn ít nên việc thực hiện dạy học dự án còn khó khăn

- Học sinh ít khi được học theo dự án nên cách tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn nhiều bất cập, chưa có kinh nghiệm làm việc nhóm nên đòi hỏi gv phải theo sát để định hướng

- Dạy học dự án đòi hỏi nhiều thời gian công sức đầu tư của giáo viên, việc thực hiện ít nhiều liên quan đến kinh phí

- Thời gian để tổ chức buổi triển lãm dạy học dự án khó bố trí vì đa số các buổi sáng HS đều học 5 tiết

- Chương trình giáo dục phổ thông cũ chia ra nhiều bài, nhiều tiết nhỏ chưa phù hợp cho dạy học dự án

3 Một số giải pháp tổ chức có hiệu quả dạy học dự án trong môn Địa Lí

- Cần lên kế hoạch sớm, tỉ mỉ, chi tiết, dành thời gian rộng cho HS thực hiện nhiệm vụ dự án để không ảnh hưởng nhiều đến môn học khác và HS có thời gian đầu tư nhiều cho sản phẩm Cần tiến hành song song việc thực hiện dự án trên lớp (trong giờ Địa lý, sinh hoạt 15’) và ở nhà

- Tiết kiệm kinh phí: Việc thực hiện dự án ít nhiều liên quan đến kinh phí (vật liệu, in ấn…) GV cần hướng dẫn HS tận dụng các phế liệu, luôn bám sát, điều chỉnh cách in ấn của HS trong thực hiện dự án nhằm giảm chi phí, tránh lãng phí không cần thiết

Trang 24

- Hướng dẫn HS chọn đúng bạn có khả năng làm trưởng nhóm, tập huấn qua cho nhóm trưởng, hướng dẫn nhóm trưởng lập kế hoạch khoa học trước khi thực hiện

- Lựa chọn dự án hấp dẫn, giao nhiệm vụ dự án phù hợp với năng lực học sinh

- Lập trang nhóm và đưa đầy đủ các nội dung, nhiệm vụ dự án, các mẫu khảo sát, tài liệu tham khảo, hay lập địa chỉ trang web để khảo sát online ngay từ trước khi giới thiệu dự án hay bắt đầu dự án.Thiết lập và hướng dẫn HS sử dụng

công cụ “google form, google meet”… trong thực hiện dự án

III – THỰC NGHIỆM: DẠY HỌC DỰ ÁN BÀI 9 NHẬT BẢN ( ĐỊA

LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

Tiêu đề bài dạy

Dự án có thể sử dụng khi dạy bài 9 Nhật Bản

Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế Tiết 2: Các ngành kinh tế và các vùng kinh tế

Tiết 3: Phân tích hoạt động kinh tế đối ngoại của Nhật

Việc xác định mục tiêu dự án có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện

dự án Cụ thể, cần xác định mục tiêu dự án từ chuẩn kiến thức bài học và các kĩ năng cơ bản, những kĩ năng tư duy bậc cao và những năng lực phẩm chất mà bài học hướng tới

Sau khi học xong bài này, học sinh sẽ tạo ra những sản phẩm là các lược đồ

Trang 25

điện tử, sơ đồ tư duy, quyển cẩm nang du lịch, bài nghiên cứu, video clip, tổ chức triển lãm …theo yêu cầu của giáo viên, có vận dụng kiến thức môn học khác nhau

để giải quyết dự án cho nhóm mình, vì thế học sinh cần nắm:

Mục tiêu bài dạy/dự án

a Kiến thức:

- Xác định được vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ NB từ khi thành lập đến nay

- Phân tích được ảnh hưởng của vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đến phát triển kinh tế - xã hội

- Phân tích được tác động của các đặc điểm dân cư, xã hội tới phát triển kinh

tế -

xã hội

- Giải thích được tình hình phát triển kinh tế NB qua các giai đoạn; trình bày được sự phát triển, phân bố các ngành kinh tế; so sánh được các vùng kinh tế theo những đặc điểm nổi bật

- Viết được báo cáo truyền đạt những nét nổi bật về hoạt động kinh tế đối ngoại

- Biết vận dụng kiến thức những môn học khác nhau như: Địa lí, lịch sử, tin học… để giải quyết những vấn đề dự án đặt ra và tổng hợp những kiến thức đó một cách khoa học

b Kỹ năng:

- Đọc được bản đồ, rút ra được nhận xét; phân tích được số liệu, tư liệu

- Khai thác, chọn lọc được các tư liệu từ các nguồn khác nhau về địa lí Nhật Bản

- Vẽ được biểu đồ, nhận xét

- Sự sáng tạo và cải tiến của học sinh sẽ được phát huy tối đa vì thông qua

dự án cho phép các em thực hiện những ý tưởng sáng tạo để tạo nên đóng góp đáng kể và có ích cho lĩnh vực có sự cải tiến

- Sử dụng thiết bị viễn thông một cách hiệu quả để ghi chép thông tin nghiên cứu và tổng hợp thông tin để viết rõ ràng, đánh giá thông tin từ xa, giao tiếp với người khác trong việc hỗ trợ học tập trực tiếp, độc lập và theo đuổi các sở thích cá nhân Xây dựng được video phù hợp với nội dung dự án, viết sách, tạp chí hay làm

Trang 26

- Thông qua dự án HS phát hiện ra được những năng khiếu, sở trường của mình, đồng thời nhận ra những điểm yếu, hạn chế của mình từ đó có giải pháp khắc phục để tiếp nhận tích cực các định hướng năng lực thế kỷ XXI và thời cách mạng 4.0

- Định hướng nghề nghiệp và khả năng tiếp cận với những kiến thức nghề nghiệp mà các em yêu thích

- Liên hệ kiến thức được học vào thực tế, biến kiến thức trên sách vở vào ứng dụng thực tế, mang lại lợi ích cho xã hội

- Có trách nhiệm công dân với tình hình phát triển kinh tế đất nước

e Năng lực:

- Năng lực chung gồm:

+ Năng lực tự chủ và tự học: được hình thành và phát triển thông qua học tập dự án NB như thu thập thông tin và trình bày báo cáo địa lí; khảo sát, điều tra thực tế địa phương, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế,

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động nhóm khi thực hiện nội dung dự án NB (học sinh thảo luận khi hoạt động nhóm để đi đến thống nhất ý kiến, ý tưởng về nội dung )

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: trong quá trình tham gia hoạt động dự án, HS phát hiện được các khó khăn xảy ra, đề xuất được các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm và tìm ra được giải pháp tối ưu nhất

- Năng lực chuyên biệt thuộc bộ môn Địa:

+ Năng lực nhận thức khoa học địa lí Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ;

Sử dụng bản đồ, tranh ảnh; sử dụng số liệu thống kê, năng lực khảo sát thực tế

+ Năng lực tìm hiểu địa lí: Sử dụng được các công cụ của Địa lí học, tổ chức được học tập ở thực địa, khai thác được Internet phục vụ môn học

+ Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Cập nhật được thông tin và liên hệ thực tế, thực hiện được chủ đề học tập khám phá từ thực tiễn, vận dụng tri

thức địa lí vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn

1.3 Đối tượng dạy học của dự án

- Chọn học sinh khối 11 ở 3 lớp 11A1, 11A2, 11A3 tổng sĩ số là 129 em Trong đó 11A1, 11A3 là hai lớp học có khả năng nắm bắt thông tin dự án nhanh, ý thức học tập cao, nhiều em biết ứng dụng công nghệ thông tin và đặc biệt là rất yêu thích bộ môn Địa lí, với lớp 11A2 lực học học sinh trung bình nhưng nhiều

em có năng khiếu công nghệ thông tin, hội họa, cần được phát huy

- Tuy nhiên, đây là ba lớp học thực nghiệm lần đâu tiên, vì thế trước khi dạy học dự án giáo viên cần phải tiến hành những công việc sau:

Trang 27

+ Phát phiếu điều tra khảo sát năng lực của học sinh trước khi tiến hành dạy học dự án Sau đó xem xét kết quả trả lời của học sinh để tiến hành dự án một cách tốt nhất

+ Hướng dẫn học sinh về một số phần mềm cần thiết để học sinh tạo được sản phẩm

+ Bộ câu hỏi định hướng, gợi mở theo chủ đề dự án mà học sinh đang tiến hành làm…

1.4 Ý nghĩa của dự án

a Đối với thực tiễn dạy học

- Dự án này có ý nghĩa sâu sắc đến thực tiễn dạy học ở trường THPT, giúp học sinh làm việc nhóm tốt hơn và thích thú hơn trong việc học tập bộ môn:

+ Với việc làm dự án các thành viên trong nhóm đều phải làm việc tự giác, trách nhiệm… từ đó rèn luyện cho các em kĩ năng làm việc nhóm, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm

+ Vấn đề giáo viên đưa ra phải lôi cuốn, thu hút, khơi gợi trí tò mò của học sinh

- Dự án này có ý nghĩa với việc rèn luyện kỹ năng mềm và giúp học sinh làm trung tâm trong việc học mà không có sự áp đặt ở giáo viên

+ Học sinh tự trình bày sản phẩm của nhóm Việc trình bày những sản phẩm, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp: học sinh diễn đạt những suy nghĩ, ý tưởng của mình qua hình thức nói, qua đó học sinh tự tin hơn khi đứng trước đám đông

+ Lấy học sinh làm trung tâm trong lớp học là bước rèn luyện cho các em hình thành năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác, giải quyết vấn đề, tự quản lí, có những kĩ năng làm việc, kĩ năng tư duy ban đầu để thực hiện những dự án học tập

do giáo viên giao, đồng thời giúp ích cho tương lai của các em

b Ý nghĩa đối với đời sống xã hội:

- Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học ở nhiều môn học để giải quyết những vấn đề có thực trong cuộc sống, phát họa nên bức tranh toàn cảnh về “Nhật

Bản - Vùng đất của những giấc mơ” Qua đó, các em có ý thức tiếp thu những

thành tựu của khoa học thế giới vào công cuộc xây dựng đất nước ta hiện nay

- Thông qua dự án, học sinh trải nghiệm những điều thú vị, giúp các em nhìn nhận sâu sắc hơn về bài học cũng như biết được tiềm năng, thực trạng các ngành kinh tế, vấn đề ngoại giao, nêu nguyên nhân, một số vấn đề về kinh tế - xã hội còn tồn tại ở NB và cùng tìm những hướng giải quyết cho các vấn đề liên quan đến ngành nghề của mình Từ đó có ý thức xây dựng và bảo vệ quê hương

Trang 28

1.5 Thiết bị dạy học và học liệu

- Để hoàn thành dự án này, cần phải có những thiết bị cần thiết bổ trợ, dưới đây là một số thiết bị cần dùng có đánh (X vào ô vuông) trong dự án này:

1.6 Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học

Tóm tắt bài dạy

Nhật Bản: Là một nước phát triển kinh tế cao nằm ở châu Á với con đường phát triển khác với nhiều nước, điển hình về khắc phục khó khăn của thiên nhiên, phát huy lợi thế của lực lượng lao động, vươn lên mạnh mẽ từ những khắc nghiệt sau chiến tranh, nền kinh tế hướng ra thế giới với sự phát triển các ngành đòi hỏi công nghệ cao và phát triển mạnh thương mại

Dự án NB gồm tổng hợp các hoạt động dự án đa dạng và định hướng giáo dục phát huy đa dạng năng lực của học sinh Dự án được xây dựng và thực hiện trong 4 tuần, với các hoạt dộng xây dựng mô hình, thiết kế các loại sản phẩm, báo cáo, triển lãm

Trong dự án này, học sinh sẽ đóng vai làm các ngành nghề khác nhau (thành viên của Bộ Nông Nghiệp, Bộ Công Nghiệp, Bộ Thương Mại, Bộ Ngoại Giao, Bộ Giáo Dục ) phác họa nên bức tranh toàn cảnh NB về tiềm năng, thực trạng các ngành kinh tế, ngoại giao, nêu nguyên nhân, một số vấn đề về kinh tế, xã hội còn tồn tại và cùng tìm những hướng giải quyết cho các vấn đề liên quan đến ngành

Thiết bị và nguồn tài liệu tham khảo

Công nghệ - Phần cứng (Đánh dấu vào những thiết bị cần thiết)

Máy quay Máy tính Máy ảnh kỹ thuật số Đầu đĩa DVD

Kết nối Internet

Đĩa Laser Máy in Máy chiếu Máy quét ảnh TiVi

Đầu máy VCR Máy quay phim Thiết bị hội thảo Video Thiết bị khác

Công nghệ - Phần mềm (Đánh dấu vào những phần mềm cần thiết)

Cơ sở dữ liệu/ bảng tính

Ấn phẩm Phần mềm thư điện tử Bách khoa toàn thư trên đĩa CD

Phần mềm xử lý ảnh Trình duyệt Web

Đa phương tiện

Phần mềm thiết kế Web

Hệ soạn thảo văn bản Phần mềm khác

Trang 29

nghề của mình

Sản phẩm của các nhóm là các lược đồ điện tử, sơ đồ tư duy, quyển cẩm nang

du lịch, tạp chí, sách, bài nghiên cứu, video clip, mô hình NB tất cả được sử dụng

để tổ chức triển lãm… được trình bày tại phòng tổ chuyên môn và phòng học của học sinh trong buổi báo cáo dự án Các hình ảnh, sản phẩm của các nhóm còn được đăng tải trên trang facebook dự án: “NB - Vùng đất của những giấc mơ” tại địa chỉ: https: //web.facebook.com/vungdatcuanhunggiacmo để mọi người tham khảo

Quỹ thời gian Lĩnh vực bài dạy Phương tiện học tập

trong dự án

- 4 tuần cho học

sinh chuẩn bị

- 1 tiết giới thiệu dự

án, 2 tiết báo cáo

- Địa lí

- Một số kiến thức liên môn: lịch sử

- Máy tính

- Máy chiếu

- Bộ câu hỏi định hướng

- Bộ câu hỏi khảo sát học sinh

- Các công cụ hỗ trợ dạy học dự án như mạng Internet,…

Những kĩ năng cơ bản HS cần có trước khi thực hiện dự án

- Kỹ năng tự nghiên cứu, tóm tắt nội dung bài học trong SGK

- Làm việc nhóm

- Phân tích, đánh giá

- Các kĩ năng soạn thảo văn bản, thiết kế ấn phẩm, poster, lược đồ điện tử, làm video clip, cẩm nang, tổ chức triển lãm, dẫn chương trình…

- Khai thác bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh…

- Biết sử dụng một số công cụ hỗ trợ từ công nghệ thông tin

1.6.1 NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

- Nội dung 1: Tổng quan về NB: Tóm tắt được các đặc điểm nổi bật về tự nhiên,

dân cư, xã hội và ảnh hưởng của chúng đến phát triển kinh tế - xã hội

Khái quát kinh tế NB qua 4 giai đoạn từ khi thành lập đến nay, nguyên nhân, giải pháp Sản phẩm là mô hình NB, sơ đồ tư duy hay lược đồ điện tử, các tờ rơi (HS

có quyền chọn loại hình sản phẩm theo năng khiếu, sở thích của mình)

- Nội dung 2: Dân cư và giáo dục NB: Thực trạng dân cư NB (mức sống, kết cấu

dân số, đô thị hóa, phân bố dân cư, trình độ dân trí và đặc tính của dân cư NB ), một số nguyên nhân và hậu quả Giải pháp để phát triển dân số bền vững Sản phẩm

là một quyển sách hay một video clip nghiên cứu về dân cư và giáo dục NB ( HS

có thể lựa chọn sản phẩm làm sách hay thiết kế video clip tùy theo sở thích, năng khiếu của mình)

- Nội dung 3: Kinh tế NB: các giai đoạn phát triển kinh tế NB, các ngành kinh tế

(Tiềm năng, thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra và giải pháp) Sản phẩm

Trang 30

là video clip

- Nội dung 4: Tìm hiểu về du lich và ẩm thực NB: Khái quát địa lí của NB, giới

thiệu một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, sản phẩm đặc trưng của một số bang ở NB (Nông nghiệp, công nghiệp,…) Đôi nét về lễ hội, văn hóa ẩm thực, các khu vui chơi, mua sắm, các nhà hàng khách sạn nổi tiếng của quốc gia này Sản

phẩm là một quyển cẩm nang du lịch hay tạp chí du lich NB

- Nội dung 5: Hoạt động kinh tế đối ngoại NB: Những nhân tố tác động đến quan

hệ Việt – Nhật, tiến trình quan hệ ngoại giao Việt – Nhật Những kết quả đạt được

và triển vọng hợp tác giữa hai nước Sản phẩm là một bài nghiên cứu

- Nội dung 6: NB những điều lý thú: HS tự tìm hiểu thông tin, cập nhật thông tin

mới về những điểm nổi bật, đặc biệt, thú vị về NB Sản phẩm là đố vui về NB (có thể làm sách đố vui nhỏ, các tờ rời đố vui nhỏ, quân bài đố vui NB )

Chú ý:

- Trong một nội dung gv có thể cho HS được lựa chọn sản phẩm thiết kế của mình

để phù hợp với năng khiếu sở thích của các em, từ đó tạo hứng thú cho HS khi thực hiện dự án, đồng thời góp phần làm cho sản phẩm buổi triển lãm đa dạng hơn

- Tùy theo lượng nội dung nhiều hay ít để gv định hướng số HS trong mỗi nhóm cho phù hợp

1.6.2 TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ

a Bộ câu hỏi định hướng

Câu hỏi khái

Câu hỏi bài học - Vì sao NB trở thành một cường quốc lớn trên thế giới?

Câu

hỏi nội

dung

- Nhóm 1: Tổng quan về NB + Đọc Bài 9 NB tiết 1, 2 trong SGK địa lý 11 tự tóm tắt nội dung bài học, sau đó xem hướng dẫn tóm tắt của gv và sửa lại (xem phụ lục 6)

+ Trình bày được các đặc điểm nổi bật về tự nhiên, dân cư

+ Phân tích được ảnh hưởng của chúng với phát triển kinh tế -

xã hội

+ 4 giai đoạn phát triển kinh tế từ khi thành lập đến nay

+ Các ngành kinh tế: đặc điểm nổi bật, nguyên nhân

Trang 31

- Nhóm 2: Dân cư và giáo dục NB:

+ Thực trạng dân cư NB (mức sống, kết cấu dân số, đô thị hóa, phân bố dân cư, trình độ dân trí và đặc tính của dân cư NB ), một số nguyên nhân và hậu quả

+ Giải pháp để phát triển dân số bền vững

- Nhóm 4: Tìm hiểu về du lich và ẩm thực NB:

+ Trình bày khái quát lịch sử và địa lí của NB

+ Giới thiệu một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử

+ Nêu sản phẩm đặc trưng của một số bang ở NB (Nông nghiệp, công nghiệp,…)

+ Đôi nét về lễ hội, văn hóa ẩm thực, các khu vui chơi, mua sắm, các nhà hàng khách sạn nổi tiếng của quốc gia này

- Nhóm 5: Hoạt động kinh tế đối ngoại NB:

+ Trình bày những nhân tố tác động đến quan hệ Việt – NB + Tiến trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt – NB + Nêu những kết quả đạt được trong quan hệ ngoại giao Việt –

b Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

Trang 32

b.1 Chuẩn bị của giáo viên:

- Bộ câu hỏi định hướng (Câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung)

cả các mẫu phiếu, biên bản trên vào trong trang nhóm “Nhật bản vùng đất của nhứng giấc mơ” để HS tiện theo dõi và sử dụng)

- Thiết kế và gửi các em bài tập tự học cá nhân, yêu cầu các nhóm hoàn thành trong khi thực hiện dự án

- Xem xét học sinh gặp phải những khó khăn nào, cần những yêu cầu nào, từ đó có thể hỗ trợ học sinh tốt hơn trong quá trình làm việc

- Giáo viên thường xuyên kiểm tra sản phẩm cũng như các biên bản làm việc nhóm hàng tuần để nắm tiến độ thực hiện dự án của các em

- Bảng khảo sát online kết quả học sinh nhận thức sau khi hoàn thành dự án

Sau dự án:

- GV tổng kết, đánh giá cho điểm dựa trên tất cả những theo dõi, ghi chép, cho điểm báo cáo, sản phẩm, ý thức, ngoài ra dự án cần dựa vào; phiếu ghi nhận thông tin, biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng, nhật ký cá nhân, báo cáo tổng kết

* Bộ Tư liệu hỗ trợ HS thực hiện dự án

- Danh mục các tài liệu tham khảo:

+ Sách giáo khoa , Địa lý 11 và các sách báo viết về đất nước NB

+ Địa chỉ trang Web liên quan: https: //www.google.com.vn; https:

Trang 33

google dịch ra tiếng Việt

- Liên kết chỉ dẫn về kĩ thuật

- Phiếu tự đánh giá về các sản phẩm thực hiện

* Hỗ trợ HS chia nhóm (kết hợp nội dung Điều chỉnh cho phù hợp đối tượng)

b2 Chuẩn bị của học sinh:

- Các loại bản đồ, hình ảnh, tài liệu thu thập được qua internet hoặc có trong thư viện

- Các sản phẩm do học sinh tự thiết kế

c Thiết kế các tiến trình dạy học chuyên đề

Thời gian, địa điểm

Hoạt động của GV và HS

Tuần 1 Hoạt động 1: Khảo sát nhu cầu học sinh trước dự án

Thời lượng: 10 phút (trong tiết học thứ 1 của tuần 1)

- Học sinh trả lời phiếu khảo sát HS

trực tuyến về: Kiến thức (liên quan tới NB), kỹ năng (CNTT, làm việc nhóm…), thái độ (tinh thần học tập những điều hay từ bạn bè…)

- Phân tích và ghi chú kết quả khảo sát, dự kiến cách chia nhóm

- Thể hiện những kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách trung thực trên phiếu khảo sát

Hoạt động 2: Giới thiệu dự án + triển khai việc thực hiện dự án Thời lượng: 15 phút (Trong tiết học thứ 2 của tuần 1)

- Giới thiệu sơ lược về dự án “NB - vùng đất của những giấc mơ” và

cung cấp cho các em bộ câu hỏi định hướng

- Suy nghĩ về các tiểu chủ đề có liên quan đến chủ đề dự án

“NB - vùng đất của những giấc mơ” và bộ câu hỏi định

hướng

- Nghiên cứu kết quả khảo sát

Trang 34

- Chia nhóm, hướng dẫn HS chọn

nhóm trưởng, phân công công việc

- Thu thập thông tin cá nhân, thông tin liên lạc, nhiệm vụ của từng thành viên

- Đưa ra yêu cầu thực hiện sản phẩm, phổ biến quy trình đánh giá, giới thiệu một số sản phẩm mẫu để định hướng nghiên cứu cho học sinh

- Thiết kế và gửi bài tập tự học cho các nhóm

- Cung cấp tư liệu hỗ trợ (sau khi HS

đã chọn sản phẩm), giới thiệu trang facebook của dự án

- Yêu cầu 1 HS là cán bộ lớp thành thạo công nghệ thông tin tạo trang nhóm trên facebook của lớp để liên lạc, trao đổi thông tin, thảo luận giữa các nhóm, và giao trách nhiệm quản

lý trang nhóm cho em đó GV hướng dẫn HS lập nội quy trang nhóm khi

sử dụng

Lưu ý: GV không cần phải tạo trang nhóm vì những việc HS làm được

gv để các em làm nhằm phát huy năng lực công nghệ thông tin của các

em, đồng thời rèn kỹ năng quản lý,

sử dụng trang nhóm facebook

- Đưa thông tin liên quan đến dự án

lên trang face

năng khiếu, sở trường, sở thích của các bạn trên trang khảo sát

HS của GV

- Thành lập nhóm, bầu nhóm trưởng, nhóm phó, thư ký…

- Đặt tên nhóm, tên chủ đề

- Lấy thông tin liên lạc với GV, các bạn trong nhóm (số điện thoại, email, facebook)

- Lập zalo của nhóm, mersinger của nhóm, nếu cần sử dụng

“google meet” để thảo luận, trao đổi nội dung dự án

- Thiết lập và triển khai nội quy trang nhóm facebook .trên mạng cho các bạn rõ

- Lắng nghe GV hướng dẫn hình thức tự đánh giá và nhận các bảng biểu đánh giá

- Làm bài tập tự học GV đã đưa

- Thảo luận nhóm về Bộ câu hỏi định hướng → chọn chủ đề

và hình thức thể hiện sản phẩm riêng của nhóm

Chú ý: các nhóm trưởng cần quyết đoán chốt nhanh hình thức thể hiện sản phẩm của nhóm

- Nghiên cứu các tư liệu hỗ trợ

→ phác thảo những công việc

sẽ tiến hành trong dự án

Tuần 2 Hoạt động 3: Tiến hành thực hiện dự án

Thời lượng: Linh hoạt

- Hướng dẫn HS lập kế hoạch thực hiện dự án

- GV hướng dẫn HS thu thập và

- Nhóm trưởng lập một bảng

kế hoạch thực hiện dự án thể hiện sự phân công công việc các thành viên trong nhóm thật

cụ thể, với các mốc thời gian rõ ràng

- Thu thập dữ liệu và thông tin

Trang 35

chọn lọc tài liệu

- Hướng dẫn các nhóm làm bài trình chiếu đa phương tiện, clip ảnh, cẩm nang du lịch, sách, tạp chí, game show, mô hình NB (xem ở phụ lục), các kỹ năng nghiên cứu

-Theo dõi mức độ tiếp thu của nhóm

Hội ý với các nhóm về tiến độ thực hiện

- Làm việc với từng cá nhân, đặc biệt quan tâm tới các em tiếp thu chậm

- Thường xuyên phản hồi nhận xét các công việc HS đã làm, kịp thời khích lệ và chỉnh sửa các sai sót, qua

đó mỗi cá nhân và nhóm sẽ luôn tự đánh giá lại công việc đã thực hiện,

tự điều chỉnh lại những sai sót, tự chỉnh sửa kế hoạch để đạt kết quả tốt

hơn

liên quan, bước đầu phân tích

và đánh giá tài liệu thu thập được

- HS tiến hành phân tích và đánh giá tài liệu thu thập được

- Các nhóm trình bày và chỉnh sửa dần nội dung sản phẩm

- Tham khảo ý kiến của giáo viên, từ các nhóm khác để có những điều chỉnh cần thiết

Tuần 3 Hoạt động 4: Tiến hành thực hiện dự án (tiếp theo)

Thời lượng: Linh hoạt

- Theo dõi và hỗ trợ tiến độ thực hiện dự án của HS (theo dỗi qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng, hay gv có thể đến đột xuất kiểm tra hoạt động của từng nhóm)

- Nhận xét, góp ý và đưa ra những động viên, tư vấn trong hỗ trợ, định hướng kịp thời (trường hợp HS gặp khó khăn) trong quá trình HS tiến hành thực hiện dự án

Chú ý: GV không đứng ra giải

quyết khó khăn cho HS , mà chỉ nên động viên, gợi mở để các em tìm ra các cách giải quyết

Ví dụ: trong khi làm mô hình thuyền NB của nhóm 1 lớp 11A3 trường tôi, HS gặp khó khăn trong việc uốn bìa cát tông theo đúng mô

- Thường xuyên báo cáo tiến

độ thực hiện dự án với GV

- HS báo địa điểm thời gian làm trên trang nhóm, quay hay chụp ảnh, ghi lại các hoạt động làm việc của nhóm mình chuyển báo cáo cho giáo viên theo từng giai đoạn

- Phản hồi với GV những khó khăn gặp phải (nếu có) và nhờ

GV tư vấn hỗ trợ, định hướng

Trang 36

hình mẫu, HS đã tự thử nghiệm khắc phục bằng cách sử dụng bìa mỏng hơn và đã thành công

Nhóm 3, lớp 11A1 gặp khó khăn khi tìm tư liệu kinh tế NB vì video tiếng Việt về NB trên mạng ít, HS

đã thử nghiệm gõ tiếng Anh và tiếng Nhật và tìm thấy được nhiều kênh thông tin, tư liệu

- Kiểm tra sản phẩm trong quá trình thực hiện dự án

- Hoàn thành sản phẩm đúng

thời gian

Hoạt động 5: Chuẩn bị cho buổi báo cáo sản phẩm dự án Thời lượng: Linh hoạt (có thể ở trên lớp hay ở ngoài hành lang lớn của dãy nhà học, phòng tổ bộ môn nếu có, phòng máy chiếu)

- - Chọn MC điều khiển buổi báo cáo

dự án của các nhóm

- - Gửi kịch bản chương trình báo cáo cho MC tham khảo (với lớp HS có khả năng viết kịch bản gv chỉ định hướng và góp ý, sửa đổi, bổ sung không viết thay HS )

- - Dặn dò HS về cách giới thiệu dự

án sao cho thu hút được người xem

- - Với triển lãm lớn cho toàn khối và trường dự, gv cần lên kế hoạch cùng các nhóm trưởng, nhóm phó tiến hành tổng duyệt qua chương trình trước khi thực hiện

- - Nhắc nhở HS xem lại bảng tiêu chí đánh giá báo cáo sản phẩm

- - Tự ứng cử hoặc đề cử 01 MC điều khiển buổi báo cáo dự án

- Nghiên cứu bảng tiêu chí đánh giá báo cáo sản phẩm và sản phẩm nhóm đã thực hiện → làm việc theo nhóm, thảo luận

về công tác báo cáo sản phẩm

(lựa chọn hình thức, phân công

báo cáo, …) dự án của nhóm

Tuần 4 Hoạt động 6: Báo cáo dự án

- + Nhóm thuyết trình: các thành viên hỗ trợ nhau hoàn thành phần trình bày của nhóm

- + Nhóm không thuyêt trình:

- * Lắng nghe, theo dõi và đặt câu hỏi cho các nhóm thuyết trình

Trang 37

- Tiến hành khảo sát kiến thức dự án học sinh bằng bài kiểm tra 15 phút

- Tiến hành khảo sát trực tuyến HS sau dự án

- Yêu cầu HS hoàn tất “Hồ sơ đánh giá” của từng nhóm  Nộp cho GV

- Đánh giá chung về quá trình làm việc của HS trong suốt dự án

- Đăng sản phẩm của các nhóm lên trang facebook dự án để các lớp khác tham khảo và phổ biến cộng đồng

 * Sắp xếp, phân công các thành viên nhóm tham gia đánh giá báo cáo các dự án

- Học sinh trả lời các câu hỏi trong 15 phút

- Thể hiện một cách trung thực những kiến thức, kỹ năng, thái

độ có được sau khi hoàn thành

dự án vào phiếu khảo sát

- Mỗi nhóm tự đánh giá về quá trình làm việc của mình trong

dự án tập hợp toàn bộ văn bản đánh giá nộp lại cho GV

- Lắng nghe những nhận xét của GV và rút kinh nghiệm

1.7 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Đánh giá kết quả học tập của học sinh không phải đánh giá theo lối truyền thống mà giáo viên phải đánh giá từ lúc học sinh bắt đầu tiến hành dự án, sản phẩm học sinh và đặc biệt là có sự đánh giá kết quả nhóm này đối với nhóm kia Tóm lại kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua tổng hợp đánh giá

- Hệ số đánh giá tùy thuộc vào giáo viên, trong dự án này tôi sẽ đánh giá như sau: Sản phẩm học sinh do nhóm đánh giá hệ số 1, sản phẩm học sinh do giáo viên đánh giá hệ số 2, tinh thần làm việc nhóm hệ số 1 và có điểm cộng cho thành viên nào trong nhóm tích cực và tham gia trả lời câu hỏi của nhóm mình và đặt câu hỏi hay cho nhóm khác

- Sản phẩm của học sinh được đánh giá thông qua những tiêu chí mà giáo viên xây dựng, dưới đây là ví dụ về tổng hợp đánh giá và một số tiêu chí đánh giá sản phẩm của học sinh:

TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TRONG DỰ ÁN

Trước khi bắt đầu dự

án

Học sinh thực hiện dự án và hoàn tất công việc

Sau khi hoàn tất

- Nhóm đánh giá

Trang 38

2 Kết quả thực nghiệm sư phạm

2.2 Đối tượng và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

- Đối tượng thực nghiệm:

Lựa chọn các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có trình độ tương đương nhau để tổ chức dạy học phần Nhật Bản Lớp thực nghiệm là 3 lớp 11A1, 11A3 (khối tự nhiên), 11A2 (khối xã hội) và 3 lớp đối chứng là 11A5 (khối tự nhiên), 11A8, 11A11 (khối xã hội) trường Trung học phổ thông tôi dạy Các lớp thực nghiệm (11A1, A2, A3) và các lớp đối chứng (11A5, A8, A11) được chọn đều có tổng sĩ số tương đương nhau, tương đương về trình độ và khả năng học tập (riêng lớp 11A2 lực học có thấp hơn so với 4 lớp 11A1, A3, A8, A11)

- Nhiệm vụ thực nghiệm:

+ Ở lớp thực nghiệm tổ chức dạy theo phương pháp dự án với 6 dự án nhỏ

đã được thiết kế của 6 nhóm học sinh và dự án chung là triển lãm Nhật Bản Ở lớp đối chứng tổ chức dạy theo phân phối chương trình với các phương pháp dạy học truyền thống

+ Áp dụng cách đánh giá như nhau giữa 6 lớp, từ đó thu thập các số liệu rồi dùng thống kê xử lý các số liệu để rút ra các kết luận về hiệu quả của việc dạy học theo dạy học dự án

+ Sau khi thực nghiệm tại trường mình dạy, tôi tiếp tục cho triển khai đề tài tại 2 trường bạn là trường Trung học phổ thông Quỳnh Lưu 1 và Trung học phổ thông Quỳnh Lưu 2 để khẳng định hiệu quả của đề tài

2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Chúng tôi lựa chọn phương pháp thực nghiệm có đối chứng để khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài Các lớp tham gia thực nghiệm gồm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Lớp thực nghiệm sẽ dạy học theo phương pháp dạy học

dự án Lớp đối chứng sẽ dạy học theo phương pháp dạy học truyền thống Cụ thể tiến trình như sau:

Cần đạt mục tiêu kiến thức, kỹ năng như nhau

Dạy học theo phương pháp dạy học dự án Dạy học theo phân phối chương

trìnhvà các phương pháp dạy học

Trang 39

Học sinh được giao nhiệm vụ trước và có

thời gian để chuẩn bị nội dung trình bày,

HS phải tự mình nghiên cứu SGK, bổ

sung tư liệu, cập nhật thông tin mới để

thực hiện dự án

Học sinh không cần chuẩn bị bài trước, lên lớp lắng nghe giáo viên giảng bài

Kiểm tra mức độ đạt được các tiêu chí để

đánh giá hiệu quả của dự án

Giáo viên tiến hành kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức của học sinh

Giáo viên quan sát, ghi chép hoạt động

của học sinh, có hướng dẫn để HS thực

hiện theo tiến trình đã định trước

Giáo viên cung cấp kiến thức, học sinh ghi nhận kiến thức theo trình tự

mà giáo viên đưa ra

Làm bài kiểm tra để đánh giá hiệu quả

của dạy học dự án

Làm bài kiểm tra để đánh giá hiệu quả giờ học

2.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với các bài học có nội dung liên quan đến phần Nhật Bản trong chương trình Địa lí lớp 11 Ban cơ bản

- Ở 3 lớp thực nghiệm (lớp 11A1, A2, A3) tôi tiến hành dạy học các kiến thức về Nhật Bản bằng các dự án

- Ở lớp đối chứng (lớp 11A5, 11A8, 11A11), giáo viên dạy học các bài theo phân phối chương trình và nội dung của sách giáo khoa Địa lí lớp 11 Bao gồm 1 bài (3 tiết):

+ Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế

+ Tiết 2: Các ngành kinh tế và các vùng kinh tế

+ Tiết 3: Thực hành: Tìm hiểu về hoạt động kinh tế đối ngoại Nhật Bản

Sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

có bài kiểm tra 15 phút để đo mức độ sự tiếp nhận tri thức và kỹ năng của học sinh với phương pháp dạy học mới so với phương pháp dạy học truyền thống Việc kiểm tra đánh giá kết quả được tiến hành một cách khách quan và đối chiếu với quá trình học tập của học sinh để đánh giá tính khả thi của dạy theo phương pháp

dạy học dự án (Đề kiểm tra xem Phụ lục Mẫu 6: Phiếu khảo sát kiến thức học sinh

sau khi thực hiện dự án)

Trang 40

2.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm

Sau khi sử dụng đề tài vào thực nghiệm giảng dạy, chúng tôi tiến hành khảo sát

học sinh qua một bài kiểm tra 15 phút (xem phụ lục: mẫu 6) Nội dung của bài kiểm

tra bao quát toàn bộ chủ đề Nhật Bản, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Bảng khảo sát kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra 15 phút

Bảng 2: Kết quả khảo sát về dạy học dự án Nhật Bản

(Xem Phụ lục: mẫu 8 - Khảo sát ngẫu nhiên với 66/124 em học sinh ở các lớp

thực nghiệm với trình độ khác nhau, lấy HS ở cả 6 nhóm)

Bảng 3: Bảng tổng hợp chuyên đề theo dự án

Lớp: 11A1, 11A2, 11A3 (Xem phụ lục: mẫu 7)

Qua quan sát diễn biến trong các tiết học thực nghiệm và đối chứng của các lớp học, qua kết quả của bài kiểm tra 15 phút, cũng như kết quả khảo sát, tổng hợp chuyên đề theo dạy học dự án, bản thân tôi có nhận thấy dạy học theo hình thức dự

án có hiệu quả hơn hẳn so với tiết dạy theo phương pháp truyền thống, cụ thể là:

* Đối với học sinh

dự án và nhiệm vụ do nhóm trưởng phân công Các thành viên hoạt động tích cực

Ngày đăng: 23/01/2022, 21:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w