Triết gia nổi tiếng của Trung Hoa là Khổng Tử, người sáng lập Nho Giáo,một trong 3 tư tưởng Triết học quan trọng, mang tính định hình văn hóa, xã hội,chính trị của Trung Quốc.. Sau này,
Trang 1BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM
-o0o -BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN (HL-L2) Học phần: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Hội họa Sơn mài
Giảng viên phụ trách: Nguyễn Thị Huệ Sinh viên: Nguyễn Trần Hoàng
Ngày sinh: 23-08-1998
Lớp: Hội họa K60B Sơn Mài
Trang 3Bài làm:
Câu 1 : Anh (chị) hãy phân tích những đặc trưng cơ bản của lịch sử tư tưởng
triết học Trung Quốc cổ trung đại So sánh với triết học Ân Độ để thấy được sựgiống nhau và khác nhau cơ bản của hai nền triết học đó
Trả lời:
A Đặc trưng cơ bản của lịch sử tư tưởng Triết học Trung Quốc cổ trung đại:Triết học Trung Quốc cổ đại có sáu đặc điểm cơ bản như sau:
1 Triết học Trung Quốc cổ đại là một nền triết học xuất hiện rất sớm (khoảng
2000 năm TCN) đồng thời là một nền triết học đồ sộ, gồm nhiều trường pháikhác nhau như: Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Danh gia,Tạp gia, Nông gia, Tung hoành gia
2 Triết học Trung Quốc cổ đại phát triển mạnh vào thời kỳ tan rã của chế độchiếm hữu nô lệ và bắt đầu hình thành chế độ phong kiến
3 Triết học Trung Quốc cổ đại đề cập nhiều đến vấn đề chính trị, xã hội, đạođức của con người mà ít chú ý nghiên cứu các vấn đề thuộc về bản thể luận,nhận thức luận, lôgic học
4 Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên
và xã hội Hầu hết các trường phái đều phản đối cái thái quá, cái bất cập, màthường xuất hiện các phạm trù: “Thiên nhân hợp nhất”, “Tri hành hợp nhất”,
“Thể dụng như nhất”, “Tâm vật dung hợp”
5 Triết học Trung Quốc cổ đại có lối tư duy trực giác tức là thông qua cảmnhận
và thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Vì vậy, các nhà triết học thường coitrọng cái Tâm, coi Tâm là gốc rễ của nhận thức, lấy “Tâm để bao quát vật”
6 Trong triết học Trung Quốc cổ đại các yếu tố duy vật và duy tâm, vô thần vàhữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, nhiều khi rất khó nhận thấy
Tôi muốn đi sâu hơn, mở rộng phân tích thêm về các đặc trưng của nền Triết
Trang 42tiên trên thế giới, nơi có thiên nhiên đa dạng và trù phú Theo truyền thuyết, vào
Trang 5khoảng từ 4.500 đến 5.000 năm trước đây, vùng phía Tây và Tây Bắc Trung
Quốc, dọc theo thượng nguồn của con sông Hoàng Hà có một quần thể dân cư
sinh sống và đã đạt được một trình độ văn hóa khá cao, Văn minh sông Hoàng
Hà hay văn minh Hoa Hạ Những cư dân này sống định cư dưới chân núi Hoa
nên tiếng Trung Quốc gọi là Hoa Hạ (người sống dưới núi Hoa) Cũng theo truyền thuyết, người Hoa Hạ đã có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa
và xã hội Từ sớm, khoảng 2000 năm TCN, bắt đầu có sự xuất hiện của các tư
tưởng Triết học.
Nền Triết học ở Trung Hoa xuất hiện sớm và phát triển mạnh vào cuối thời
kì tan ra của chế độ chiếm hữu nô lệ cổ đại và bắt đầu hình thành chế độ Phongkiến Khai sinh trong xã hội đang có những chuyển biến phức tạp, triết họcTrung Hoa khi đó cũng mang những tính nhất phức tạp, đa dạng của xã hội conngười
Các tư tưởng Triết học thời gian đó thường xoay quanh cách lý giải sự vậnhành của vật chất, vũ trụ, lý giải nguồn gốc khởi nguyên của vũ trụ, con người.Người Trung Quốc thường ứng dụng lý thuyết Âm Dương, Ngũ Hành để giảithích minh họa cho tính chất đa chiều của Vũ trụ, Vô Thường và luôn luôn biếnchuyển của sự vật hiện tượng Có thể nói người Trung Quốc đã có tư duy DuyVật Biện Chứng từ xa xưa
Đại biểu tiêu biểu của phái này là Trâu Diễn ở TK III TCN
Người Trung Quốc cổ đại cho rằng khởi nguyên của thế giới là 2 yếu tố âm
và dương Âm là bóng tối và tất cả những gì thuộc về bóng tối; Dương là ánhsáng và tất cả những gì thuộc về ánh sáng Âm - dương là 2 mặt đối lập nhưnglại thống nhất với nhau, ràng buộc vào nhau, là cơ sở điều kiện tiền đề tồn tạicủa nhau và của mọi sự vật đồng thời là nguyên nhân của mọi sự vật động vàphát triển
Trang 6Biểu hiện cụ thể của âm - dương là các mặt đối lập như: Mặt trời - mặttrăng, sáng - tối, dài - ngắn, rộng - hẹp, nhanh - chậm, nóng - lạnh, quân tử -tiểu nhân, nam - nữ, thông minh - ngu đần Trong đó mặt một thuộc vềdương, mặt 2 thuộc về âm Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất của âm
và dương, trong dương có âm, trong âm có dương, âm - dương luôn luôntương tác, chuyển hoá lẫn nhau, không có gì là thuần âm hoặc thuần dương cả.Phần sáng nhiều gọi là thái dương, phần sáng ít gọi là thiếu dương Phần tốinhiều gọi là thái âm, phần tối ít gọi là thiếu âm Trong thái dương có thiếu âm
và trong thái âm có thiếu dương Âm - dương xoay vần, đắp đổi không ngừng,thiếu dương trong thái âm phát triển đến cùng thì có sự chuyển hoá âm thànhdương và ngược lại Trong mối quan hệ âm - dương thì dương được coi là mặtnăng động, tích cực còn âm là mặt thụ động, tiêu cực Nhưng không phải hoàntoàn như vậy mà phải xem xét chúng trong những mục đích, điều kiện, địađiểm, thời gian cụ thể để chỉ ra cái gì mang tính tích cực hay tiêu cực
Người Trung Quốc cho rằng tốt nhất là đạt được sự cân bằng âm - dương,mọi sự thái quá về âm hoặc về dương đều là không tốt
Biểu hiện cụ thể hơn nữa của âm - dương là ngũ hành - 5 yếu tố vật chấtđầu tiên của vũ trụ: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Mỗi yếu tố có tính chất riêng biệtchẳng hạn: thuỷ (nước) thì lạnh và luôn luôn chảy về chỗ thấp; hoả (lửa) thìnóng và luôn luôn bốc lên cao; mộc (gỗ) có tính chất đàn hồi; kim (kim loại)thì có tính chất phụ thuộc; thổ (đất) thì tiếp nhận hạt giống và làm mùa 5 yếu
tố này luôn luôn vận động, biến đổi và chuyển hoá không ngừng Cơ chế của
sự chuyển hoá là cái này thắng (khắc) cái kia gọi là quá trình tương khắc, cáinày sinh cái kia gọi là quá trình tương sinh
Thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ rồilại thổ sinh kim
Thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổrồi lại thổ khắc thuỷ Đây là kết quả của quá trình quan sát trực quan và đúc kết
Trang 7kinh nghiệm đời sống lâu dài của người Trung Quốc VD: Thổ khắc thuỷ vì đất
thấm được nước và ngăn chặn dòng nước, thuỷ khắc hoả vì nước có thể dập tắt
Ngũ tạng: Tỳ vị (lá lách, dạ dày) - phế (phổi) - thận - can (gan) - tâm (tim)
4 mùa: Xuân (do mộc sinh ra) - hạ (do hoả) - thu (do kim) - đông (do thuỷ)
- điều hoà 4 mùa (do thổ)
4 phương: Đông (do mộc sinh ra)- Tây (do kim)- Nam (do hoả)- Bắc (dothuỷ) - ở giữa các phương (do thổ)
Tóm lại, thuyết âm - dương, ngũ hành đã giải thích nguồn gốc và sự vậnhành của thế giới trên lập trường duy vật, mặc dù đây chỉ là duy vật ngây thơ,chất phác, giản đơn, mang tính chất máy móc nhưng nó có ý nghĩa thế giớiquan quan trọng chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo và mục đích luận về tựnhiên Nó là cơ sở lý luận quan trọng cho những phát minh vĩ đại của khoa học
tự nhiên như Thiên văn, Lịch pháp, Y học.Tuy nhiên, khi vận dụng nó vàocác vấn đề lịch sử xã hội thì các nhà triết học đã làm mất đi tính duy vật, làmnghèo nàn đi tính biện chứng ban đầu của nó
Thời gian đầu cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn giữa các luồng tư tưởng triết học,
do xã hội chưa có ổn định về chính trị
Theo ghi chép trong văn hiến Trung Quốc cổ đại, trước khi Hạ hậu thị kiếnlập, xuất hiện chiến tranh thường xuyên giữa bộ tộc Hạ và các bộ tộc khác
Trang 8vị lịch sử khá cao, người Hán đời sau thường tự xưng là "Hoa Hạ", trở thànhdanh từ đại diện cho Trung Quốc.
Đến thời nhà Thương, mới đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của văn tự, chữviết ( Kim Đỉnh Văn, Giác Cốt Văn ) Loại chữ viết này được thể hiện trênnhững phần xương phẳng của gia súc hay xương hươu, trên vỏ sò và mai rùa và
có lẽ trên cả gỗ Chúng là những đoạn ghi chép liên quan đến việc bói toántương lai Bằng cách chọc một cái que nóng vào một cái xương hay vỏ sò, vật
đó sẽ nứt ra, và những đường nứt biểu tượng cho các chữ cái sẽ cho biết câu trảlời cho rất nhiều câu hỏi: thời tiết sẽ thế nào, có xảy ra lũ lụt không, sẽ đượcmùa hay mất mùa, khi nào là thời gian thích hợp nhất để săn bắn và đánh cá,các câu hỏi về sức khoẻ hay thậm chí về thời điểm thích hợp để xuất hành
Người dân dưới nền văn minh Thương dường như cùng có sự thúc đẩy tôngiáo giống như những dân tộc khác Họ coi các hiện tượng thiên nhiên là donhiều vị thần sử dụng ma lực tạo ra, các vị thần được gọi là quỷ thần (Kuei-shen), một từ miêu tả ma quỷ hay linh hồn Họ có một vị thần mà họ cho rằnglàm ra mưa Họ có một vị thần sấm và một vị thần cho mỗi quả núi, con sông
và cánh rừng Họ có một vị nữ thần của Mặt Trời, một nữ thần Mặt Trăng vàmột thần gió Giống như các dân tộc trồng cấy khác, họ có một vị thần của sự
Trang 9phì nhiêu, màu mỡ Họ tin rằng một vị thần cao cấp nhất ngự trị ở trung tâm
thiên đường và trao thưởng cho những người có đạo đức tốt Và các vị thần của
họ có những khuôn mặt giống người châu Á hơn người châu Âu.
Giống như các thầy tế ở Tây Á, các thầy tế của nhà Thương cũng hiến tế chocác vị thần của họ, đút lót cho họ, tin rằng các vị thần sẽ tạo ra sự rộng lượng,nhân từ hay cái xấu xa phép thuật Việc lũ lụt xảy ra thường xuyên cũng nhưnhững tai ương khác khiến người dân nhà Thương tin rằng một số vị thần là tốt
và một số khác làm điều xấu Và họ tin rằng một vị thần xấu làm người ta đi saiđường và ăn thịt người
Người dân nhà Thương tin vào một thiên đường không nhìn thấy được màcon người sẽ được lên đó sau khi họ chết Nhà Thương nói với thần dân của họrằng thiên đường là nơi mà các vị vua triều đại trước của họ đang trú ngụ Cácnhà quý tộc rất quan tâm đến địa vị của mình và thường kiêu hãnh về nguồngốc tổ tiên Họ lưu giữ các bản gia phả dòng họ và coi tổ tiên là thần thánh cónguồn gốc từ một loài vật nào đó - các vị thần trở thành biểu tượng của dòng
họ như những vật tổ tương tự với các dân tộc ở châu Mỹ Người dân thường,trái lại, không có họ và phả hệ và không tham dự vào sự thờ phụng tổ tiên
Vua thứ 30 nhà Thương là Trụ Vương hoang dâm vô đạo, bạo ngược tàn ác,mất lòng nhân dân và các chư hầu
Bộ tộc Chu ở sông Vị có lãnh chúa là Tây Bá Cơ Xương tài đức vẹn toàn,ngoài ra còn có tiềm lực về quân sự và kinh tế hùng mạnh nhất trong các chưhầu Trụ Vương nhiều lần đã phái quân tướng triều đình tây chinh để trừ hậuhọa nhưng không thành Tây Bá Cơ Xương dù biết Trụ Vương vô đạo nhưngvẫn một mực giữ lòng trung, không khởi binh tướng xâm phạm Cơ Xương mất
Trang 10Cơ Phát Sau nhiều lần dẹp tan quân xâm lược, Cơ Phát đã tập hợp chư hầu
đi
đánh Trụ Vương, cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than.
Sau khi lấy được 5 ải biên thùy của nhà Thương, vào khoảng năm 1122 TCN,hai bên quyết chiến ở trận Mục Dã Quân Trụ Vương tuy đông nhưng binh línhkhông có tinh thần chiến đấu cho bạo chúa nên nhanh chóng tan rã Trụ Vương
co cụm về hoàng cung, sau đó một mình lên Lộc Đài tự thiêu mà chết NhàThương diệt vong
Bắt đầu từ thời các vua nhà Chu, các vị thủ lĩnh địa phương nhận đượcquyền hành động như các thầy tế: để thực hiện hiến tế, để cho phép hát một sốloại bài hát và một số điệu nhảy, quyền cúng tế các vị thần núi sông ở địaphương, các dòng suối và đất và mùa màng Tuy nhiên, các quý tộc địa phươngtiếp tục đi theo di sản của ông cha để lại Họ lấy vợ bằng những nghi thức tôngiáo và sự ghi chép gia phả, trong khi dân thường vẫn tiếp tục kiểu lấy vợ thời
cổ, không có họ hay có gia phả Họ chỉ đơn giản sống với nhau và được côngnhận là một cặp bởi những người hàng xóm
Giống như ở Ân Độ và Tây Á, cùng với thời gian có một sự pha trộn giữacác tôn giáo của kẻ chinh phục và kẻ bị chinh phục Những vị cai trị nhà Chuchấp nhận vào danh sách thần thánh của mình một số vị thần của nền văn minhThương Sự cúng tế nhiều vị thần từ thời nhà Thương vẫn được tiếp tục, gồm
cả vị thần mùa màng, mưa và nông nghiệp - một trong những vị thần này đượctin rằng được sinh ra từ một bà mẹ trinh trắng Trong số các vị thần đó có vịthần sông Hoàng Hà, người có thân cá nhưng có mặt người Trong nền vănminh Chu, con người tiếp tục cố gắng làm dịu các vị thần bằng cách cúng tế.Những người có khả năng thì hiến tế bằng gia súc, cừu, lợn hay ngựa
Trang 11Việc hiến tế bằng người giảm bớt so với thời nhà Thương, nhưng nhà Chu
có cả vợ và bạn bè ở trong mộ, và mỗi năm một cô gái trẻ bị cúng làm cô dâucho thần sông Việc hiến tế này bắt đầu bằng việc những bà đồng cốt lựa chọnmột cô gái đẹp nhất có thể Mặc cho cô ta đồ satin, tơ và đeo trang sức và đặtlên một cái giường cưới trên một cái bè Họ tống cái bè xuống sông Cái bè sẽchìm và cô gái chết đuối, coi như là một đồ hiến tế cho thế giới vô hình của vịthần sông
Năm 771 TCN, khi Chu U Vương phế truất Thân hậu để đưa Bao Tự lênthay thế, kinh đô nhà Chu đã bị các lực lượng du mục phía đông bắc tràn vàocướp phá do sự xúi giục của Thân Hầu (cha Thân hậu) U vương bị giết và con
cả là thái tử Nghi Cữu được các quý tộc chư hầu Trịnh, Tấn, Tần đưa lên làmvua, tức là Chu Bình Vương, dời đô về phía đông năm 771 TCN tới LạcDương, tỉnh Hà Nam hiện nay Từ đây bắt đầu giai đoạn Đông Chu, và chỉ kếtthúc khi bị nhà Tần lật đổ vào năm 256 trước Công Nguyên; trong lịch sửTrung Quốc, giai đoạn này được gọi là "Thời Xuân Thu" (771-403 TCN) và
"Thời chiến quốc" (403-256 TCN)
Ở giai đoạn Xuân Thu (771-403 TCN), Trung Quốc dần bị chia cắt thànhmột loạt các tiểu vương quốc do các vua chư hầu tự cai trị
Thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc, quá nhiều mẫu thuẫn khiến cho xã hội loạnlạc, thời kỳ chiến tranh liên miên, nhân dân bá tính vô cùng khổ cực, họ chỉmong chờ một tư tưởng có thể làm bình ổn chiến sự (thời kỳ “Bách Gia TranhMinh”)
Từ điều kiện đó, một trong những đặc điểm cơ bản của Triết học TrungQuốc ấy là triết học về chính trị-xã hội, về làm sao để bình ổn xã tắc, bảo vệlâu dài cho giai cấp thống trị Đồng thời, các tư tưởng Triết học ẩn bên trong
Trang 12Từ đó, ta có thể thấy, Triết học Trung Quốc mang tính chất Nhập thế
Triết gia nổi tiếng của Trung Hoa là Khổng Tử, người sáng lập Nho Giáo,một trong 3 tư tưởng Triết học quan trọng, mang tính định hình văn hóa, xã hội,chính trị của Trung Quốc Tới gần cuối đời Xuân Thu, Khổng Tử là người đầutiên mở trường tư thục để dạy trẻ em và thanh niên bất kỳ thuộc giai cấp nào
Có thể ông cũng dạy lục nghệ, nhưng ông chú trọng nhất tới sự đào tạo một sốthanh niên ưu tú, dạy họ Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc (có thể cảKinh Dịch nữa), để họ thành những người tài đức thay giai cấp quý tộc mà giúpvua chúa Một số môn sinh của ông đã giúp các vua và đại phu đương thời,thành những kẻ sĩ có danh vọng
Sau ông, môn đệ của ông gần thì như Tăng Tử, xa thì như Mạnh Tử (học tròcủa cháu nội ông, Tử Tư), Tuân Tử và nhiều nhà khác như Mặc Tử noigương ông mở trường dạy học, đào tạo được giai cấp kẻ sĩ; giai cấp này càngngày càng đông, uy tín càng tăng, chiếm được những địa vị cao trong chínhquyền, qua đời Hán thì gần như thay thế hẳn giai cấp quý tộc ở triều đình, trongdân gian
Vì vậy chế độ huyết thống sớm chuyển qua quý tộc trí thức 2.000 năm trướcphương Tây, khiến người phương Tây rất ngạc nhiên và rất phục, khen vănminh Trung Hoa là vô cùng độc sáng Người có công đầu là Khổng Tử; ôngđược xưng tụng danh hiệu Vạn thế Sư biểu
Sau này, đạo Nho hay đạo Khổng (Nhơn đạo) là một hệ thống đạo đức, triếthọc xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng vàđược các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa,
Trang 13trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức, đất nước thái bình, thịnh vượng.
Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước Đông Á là Trung Quốc, Đài Loan,Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam Những người thực hànhtheo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh
Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội được Khổng Tử (551- 479 TCN)sáng lập vào khoảng thế kỷ VI TCN Đây là một học thuyết chính trị xã hội cóảnh hưởng rất sâu rộng trong xã hội Trung Hoa cổ đại cũng như sau này, nóđược phát triển qua 4 thời kỳ:
Nho giáo sơ kỳ với các đại biểu: Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử bàn vềcác vấn đề Nhân, Lễ, Chính danh, về bản tính con người, về Thiên mệnh
Hán Nho (Thế kỷ II TCN) với các đại biểu: Đổng Trọng Thư, Lưu Hướng,Lưu Hâm Ở thời kỳ này Nho giáo bị đẩy tới mức cực đoan theo hướng duytâm, xuất hiện các khái niệm “Tam cương, Ngũ thường”, “Thiên nhân tươngcảm” nhằm củng cố vai trò của chế độ phong kiến trung ương tập quyền
Tống Nho (Thế kỷ X) với các đại biểu: Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di,Trương Tải, Chu Hy bàn về vấn đề bản thể thế giới, vũ trụ Khái niệm chủ yếucủa Tống Nho là “Khí” và “Lý” Đây là thời kỳ Nho học được phát triển theohướng duy tâm
Minh Nho (Thế kỷ XV) với các đại biểu: Vương Dương Minh phái “Tâmhọc”, “Bạch Sa phái”, “Hà Đông phái” Đây là thời kỳ phát triển Nho họctheo hướng duy tâm chủ quan
*Khổng Tử: đề ra đường lối “đức trị”.Nội dung tư tưởng đức trị của Khổng
Tử được thể hiện trong học thuyết: “ Nhân, Lễ và Chính danh”
Trang 14- Phạm trù “nhân” Khổng Tử đề cao Nhân (đức nhân - là phẩm chất đạođức cao quý) Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị - xã hộicủa Khổng Tử Trong Luận Ngữ đã nhiều lần ông nói về điều nhân Nhưngquan niệm của ông về nhân không nhất quán Tuỳ theo năng lực, phẩm hạnhcủa học trò mà ông giảng giải về nhân khác nhau Nhưng tựu chung lại nhânđược hiểu với 3 nội dung sau đây:
Trước hết nhân được hiểu là yêu người, thương người Khi học trò Phàn Trìhỏi về nhân ông trả lời: “ái nhân” Theo ông người có nhân thì luôn yêu người,yêu vật, muốn cho vạn vật tốt tươi, lòng mong muốn ấy là hoàn toàn tự nhiên,không miễn cưỡng, không điều kiện; tinh thần sáng láng, trong lòng an lặng,ứng xử ra ngoài thì chí thiện, chí công Còn người bất nhân thì tâm trí luôn vìmình, tinh thần mờ tối, hành vi độc ác, yêu ghét bất minh
Khi học trò Trọng Cung hỏi về nhân, ông trả lời: “Kỷ sở bất dục, vật thi ưnhân” (điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), “Kỷ dục đạtnhi đạt nhân” (mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt) “Kỷ dụclập nhi, lập nhân” (mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân) Nhưng
tư tưởng này lại gắn liền với sự phân biệt trên, dưới, thân sơ, quý tiện
Nhân còn là sự tôn trọng các nguyên tắc kỷ cương xã hội một cách tự giác.Khi học trò Nhan Uyên hỏi về nhân, ông trả lời: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”(sửa mình trở lại theo lễ là nhân) Với mỗi người nhân là cái gốc để phân biệtphải trái, hay dở (phù hợp với đạo nhân là phải, là hay, trái với đạo nhân là xấu,
là dở)
Đạt đến điều nhân là đạt đến đạo người quân tử Chỉ có người quân tử mới
có nhân, còn kẻ tiểu nhân (nhân dân lao động) thì không có nhân Ông cho rằngngười quân tử phạm vào điều nhân thì có thể có, chứ chưa có kẻ tiểu nhân làmđược điều nhân
-Phạm trù “lễ” Ban đầu “Lễ” tức là tế lễ (lễ thần) Là điều cần thiết trong lúc
tế thần thánh, nó có từ thời nhà Hạ, Thương, Ân, Chu;
Trang 15Lễ là nguyên tắc tổ chức hoạt động của nhà nước và xã hội thể hiện “Viquốc dĩ lễ” (Làm việc nước lấy lễ làm căn bản), “tề chi dĩ lễ” (làm việc xã hộilấy lễ làm căn bản).
Lễ là trật tự kỷ cương, phép nước quy định hành vi của mỗi người Theo ôngnguyên nhân của xã hội loạn, vô đạo là không giữ được lễ Vì vậy muốn cho xãhội bình yên, thịnh trị phải khôi phục lễ Người có lễ “không nhìn, không nghe,không nói, không làm điều không hợp lễ”
Lễ còn là nếp sống có văn hoá Khổng Tử nói: “Chiếu trải không ngay ngắnkhông ngồi”, “Thịt thái không vuông không ăn”
Lễ được hiểu là những nghi lễ, những quy phạm đạo đức quy định quan hệgiữa người với người theo một trật tự danh vị xã hội chặt chẽ thời nhà Chu Lễcòn là quy định về quyền và nghĩa vụ tương xứng với danh phận Như vậy lễ là
lẽ phải, là bổn phận mà mọi người có nghĩa vụ phải tuân theo: Hiếu thảo vớicha mẹ, hoà thuận anh em, thuỷ chung vợ chồng, tín nghĩa bạn bè Khổng Tửnói: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Vua sai bề tôi bằng lễ, bề tôi
có nghĩa vụ trung với vua)
Lễ còn là nguyên tắc chỉ chế độ đẳng cấp tông pháp trong xã hội lúc bấy giờthể hiện trong tư tưởng “Chính danh”: “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận,ngôn bất thuận tắc sự bất thành”
Như vậy, lễ là chuẩn mực điều chỉnh bản tính tự nhiên thường thái quá củacon người Nhờ nó mà con người nhận rõ danh vị, bổn phận của mình Từ đóđiều tiết và phân biệt được các quan hệ cha con, anh em, bạn bè, vua tôi
Theo Khổng Tử xã hội loạn lạc do không chính danh Do vậy, để làm cho xãhội trật tự thì trên phải ra trên, dưới ra dưới, trật tự phân minh, vua có phận vua,tôi có phận tôi Danh phận đã định rõ, ai cũng có địa vị chính đáng của người
ấy Một nước trật tự là nước “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (vua ra vua,tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con)
Trang 16Như vậy, trong đường lối trị nước KT đề cao “đức trị” thể hiện trong họathuyết “Nhân, lễ, chính danh” Trong đó, nhân là nội dung, lễ là hình thức thểhiện nhân;chính danh là con đường thực hiện nhân
*Mạnh Tử phát triển đường lối đức trị của Khổng Tử và xây dựng đường lối
“Nhân chính” với nội dung cụ thể: Bảo đảm ruộng đất cho người dân; giảm nhẹ
tô thuế; bớt hình phạt; mở trường dạy lễ, nghĩa cho dân
Mạnh Tử bảo vệ quan điểm của Khổng Tử, tuyên truyền cho đường lối Đứctrị, ủng hộ Vương đạo, chống lại Bá đạo
Ông phát triển phạm trù nhân của Khổng Tử thành học thuyết nhân chính.Yêu cầu nhà cầm quyền (gctt) phải giảm thuế khóa cho dân, giảm hìnhphạt làm cho dân “hữu hẳng sản, hữu hằng tâm” không có hằng sản, không cóhằng tâm “người cầm quyền chế định sản nghiệp cho dân để họ trông lên thìphụng dưỡng được cha mẹ, nhìn xuống nuôi đủ vợ con, được mùa thì no ấmquanh năm, mất mùa thì không đến nỗi chết đói, có như vậy mới bảo dân làmđiều nhân nghĩa Hữu hằng sản, hữu hằng tâm”
Để thực hiện được điều đó, MT yêu cầu nhà cầm quyền phải thực hiện chínhsách “bảo dân” trong nội dung đường lối trị nước, cụ thể 3 chương trình lớn:dân sinh, kinh tế và giáo hóa (tôn trọng tình thần của KT: Thứ chi- phú chi-giáo chi) Giá trị của MT là đã diễn giải rõ rệt gốc của chính trị là điều hòa nềnkinh tế, sx dồi dào, quân bình bằng cách nhấn mạnh luận điểm thực tế “Dan dĩthực vi tiên” (Dân lấy ăn làm đầu) chư skhoong phải thuyết nhân nghĩa mộtcách không tưởng MT lấy đời sống kinh tế của dân làm cơ bản trong việc thihành chính sách “bảo dân”=> chia ruộng đất theo phép “Tỉnh Điền” (thời TâyChu)
Trong đường lối chính trị, Mạnh Tử đã mạnh dạn đề cao “chủ nghĩa nhândân bản”: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quý, thứ là đến
xã tắc, còn ngôi vua là thường)
Trang 17Đồng thời, Mạnh Tử có tinh thần cách mệnh Theo ông, Dân có quyền lật đổnhà cầm quyền: (cách mệnh:thay một ông vua độc ác nằng một ông vua đứcđộ);ông cho rằng nhân dân có quyền nổi lên phế truất ông vua không có hiềnđức xứng đáng làm một ông vua “Quân bất quân” thì thần(bề tôi) có quyềngiết “vua không ra vua”
*Tuân Tử là người đầu tiên chủ trương kết hợp Nho gia với Pháp gia, kếthợp Vương đạo với Bá đạo Ông cho rằng con người khác con vật ở chỗ sốngtập thể, có tổ chức, có trật tự, có lễ nghĩa trên dưới, nhưng đó cũng chính là cănnguyên dẫn đến xã hội loạn vì trong xã hội, mọi người sống hợp quần, không
có sự phân công lao động xã hội mà sản vật tự nhiên và của cải làm ra thì ítnhưng nhu cầu lại nhiều vì vậy muốn giữ được trật tự xã hội phải: Tăng cườngsản xuất, thực hành tiết kiệm, phân công rõ ràng ngành nghề theo thứ bậc: sĩ,nông, công, thương Trong đó nông nghiệp là cơ bản; Hạn chế nhu cầu, dụcvọng lấy lễ nghĩa làm cơ sở, làm chuẩn mực đạo đức
Ông chủ trương lễ trị và chính danh nhưng khác nhiều so với lễ trị củaKhổng Tử Nếu Khổng Tử yêu cầu lễ được thực hiện một cách tự giác, từ tâmthì lễ của Tuân Tử mang tính pháp trị nhiều hơn là lễ trị
Tuân Tử quan niệm luật pháp là cái gốc của thiên hạ để ngăn cấm nhữngđiều bạo ngược, để răn đe những điều chưa xảy ra Vì bản tính con người là ác:
“nhân chi sơ, tính bản ác”, là ham muốn dục vọng, là ích kỷ và phải dùng luậtpháp thì cái ác mới có thể thay đổi được
* Đổng Trọng Thư: đường lối trị nước mang tính thần quyền Ông cho rằngvua(thiên tử) là con trời do vậy sẽ là người thay trời thi hành đạo trời.Vua phảitheo ý trời, thuận mệnh trời để cai trị muôn dân
Vua chỉ được thay đổi thể thức chứ không được thay đổi đạo trời Bởi lẽ:
“thiên bất biến đạo diệc bất biến” Nếu vua làm trái mệnh trời thì trời sẽ mangtai ương đến trách bảo Đã trách bảo mà không biết thì trời sẽ mang bại vong
Trang 18đến Ông viết “thịnh suy trị loạn là do người chứ không do trời, tuân theo mệnh
trời thì thịnh trị, không tuân theo mẹnh trời thì hỗn loạn suy sụp”
Từ đây, ông nêu ra tư tưởng ‘thiên nhân tương cảm” (trời và người có thểcảm thông nhau, hiểu nhau): trời có 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông, người có
4 cách cai trị là: khoan dung - thưởng - phạt -hình
NG coi trọng và đề cao vị trí con người, coi: “con người là quyết định nhất”.Bởi lẽ,
NG minh chứng rằng con người có những phẩm chất ưu việt hơn muôn vật
Do vậy các nhà kinh điển NG đẫ đặt con người sánh ngang với trời, đất, cùngvới trời đất, con người là têu biểu cho tất cả mọi cái trong vũ trụ.Kinh Dịch viết
“trời đất, người là tam tài” Thiên thời, địa lợi, nhân hòa là ba yếu tố căn bảnquyết định sự thành bại của mọi việc trong xã hội MT viết “muôn vật đều cósẵn ở ta rồi” (coi con người là chúa tể muôn loài, là anh minh của mọi vật
Nguồn gốc con người Mặc dù đề cao con người nhưng các nhà kinh điển
NG lại hầu như không nói gì đến quá trình vận động làm xuất hiện con ngườitrong trời đất Nghĩa là họ không tìm hiểu nguồn gốc con người mà coi sự tồntại của con nguười là tất yếu
Khổng Tử: không nói về Nguồn gốc con người
Mạnh Tử: trời sinh ra con người
Tuân Tử: con người sinh ra từ khí
Đổng Trọng Thư: trời sinh ra
Tính người: là một vấn đề lớn trong lịch sử triết học Phương Đông Trongkhi các triết gia phương tây mải mê đi tìm hiểu BTL, NTL, MQH con ngườivới thế giới xung quanh thì PĐ lại chú trọng đến một vấn đề hết sức then chốt
là tìm hiểu bản thể của tính người XP từ quan niệm: bất kỳ một sự cải cách cơbản nào trong xh cũng đều bắt nguồn từ sự thay đổi cơ bản trong bản tính connguời
Trang 19Khổng Tử: người đầu tiên bàn đến tính người, ít nói cho học trò Chỉ có haichỗ trong LN bàn đến tính người
“Thiên mệnh chi vị tính”; “tính tương cận dã; Tập tương viễn dã”(Người tathảy đều gần giống nhau, vì ai nấy đều có bản tính lành Nhưng bơi nhiễm thóiquen nên họ thành ra xa nhau)
Ông không nói rõ thiện hay ác nhưng khẳng định là “gần nhau” - Có điểmchung nào đó - điểm chung đó là cái bản tính lành, ngay thật của con người(mộc mạc,nguyên thủy, tự nhiên như khi trời sinh ra vậy) Nếu không bị ảnhhưởng của tập tục làm cho thay đổi thậm chí là đối lập nhau đi thì bản tính banđầu của con người là gần nhau.(tính không bị hoen ố bởi vật dục và ngoạicảnh)
KT coi tính người(bản chất) là do trời phú, lúc đầu thì gần nhau, không khácnhau Về sau chịu sự tác động của hoàn cảnh xh làm cho tính người bị phânhóa theo những thái cực khác nhau, thậm chí đối lập nhau Hạn chế của KT,ông nghiên cứu tính người trong phạm vi đạo đức, chính trị Vì vậy quan niệmcủa ông không có cơ sở thực tế, mang màu sắc duy tâm
4.2 Mạnh Tử: Tính con người vốn “thiện”
Tuy nhiên khi nói tính “thiện” của MT, chúng ta phải nói đến quan niệm
“tính người” của Cáo Tử Bởi lẽ quan niệm tính người của MT đưa ra trongcuộc tranh luận với Cáo Tử
+ Theo Cáo Tử tính của con người không thiện, không ác, giống như dòngnước chẳng nhất định chảy về đâu, hễ phía nào thông thì chảy về phía đó”
+ Bác lại điều này, MT nói tính người ta vốn “thiện” giống như tính củanước nhất định là chảy xuống chỗ thấp MT viết: “cái bản tính của người ta vốnthiện, ấy cũng như cái bản tính của nước là dồn xuống phía dưới thấp vậy.Không một người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện, cũng như thế, không mộtthứ nước nào mà chẳng chảy xuống thấp”
Trang 20MT khẳng định, tính thiện là cái bản chất cố hữu, vốn có của con người,những nó không phải là bất biến, không thay đổi Tác động của ngoại cảnh cóthể làm cho con người đánh mất tính thiện của mình, và đó chính là mầm mốngnảy sinh điều bất thiện Nhưng xu hướng của con người là luôn vươn tới điềuthiện, từ bỏ điều bất thiện, cũng giống như dòng nước bị chặn lại phải dâng lêncao, nhưng xu hướng là vẫn chảy xuống thấp Trong xã hội cũng vậy, nếu nhàcầm quyền thi hành một đường lối chính trị bạo ngươc, hà khắc, dồn người dânđến cảnh cùng quẫn thì ở họ có thể nảy sinh tính bất thiện Để tìm lại tính thiệncủa mình họ phải đấu tranh lật đổ sự thống trị ấy
+ Cáo Tử khẳng định tiếp: tính người như cây mây, cây liễu
+ MT phản bác lại:
+ MT cho rằng tính thiện của con người xuất phát từ 4 đầu mối của thiệnđoan: nhân, nghĩa, lễ, trí, 4 đức này như 4 đầu mối của tâm, do trời phú cho,con người sinh ra đã có giống như mầm cây trong hạt giống, như tứ chi của cơthể:
Trắc ẩn chi tâm (nhân)
Tu ố chi tâm (nghĩa)
Từ nhượng chi tâm (lễ)
Thị phi chi tâm(trí)
Nhân, nghĩa, lễ, trí không phải từ bên ngoài nung đúc vào ta mà có sẵn cả ởtrong tâm, nếu cầu thì được mà bỏ thì mất, điều đó thể hiện ở việc làm thiệnhay bất thiện ở việc có biết tồn tâm dưỡng tính hay không
4.3 Tuân Tử: đối lập MT, CT khẳng định bản tính người là Ác
4.4 Đổng Trọng Thư
*Mối quan hệ con người: trong xh, con người có muôn vàn các mối quan hệ
xh giữa người với người, rất đa dạng, phong phú và phức tạp Song NG chỉ chú
ý tới các mqh về chính trị và đạo đức, trong đó có các mqh cơ bản như “ngũluân”=> các mqh này tồn tại khách quan trong xh, nó được các nhà nho coi là
Trang 21giềng mối, những nút buộc gắn bó con người lại với nhau bằng những yêu cầu
“Quân thần hữu nghĩa - vua và bề tôi phải sống theo nghĩa
Phụ tử hữu thân - cha và con phải có tình thân ái ruột thịt
Phu phụ hữu biệt đề cao vai trò nguời chống, hạ thấp vai trò của nguời vợ địa vị phụ thuộc (dù qh này là trung tâm các qh khác)
-Trưởng ấu hữu tự- anh em phải có thứ tự trên dưới
Bằng hữu hữu tín - bạn bè phải có tín”
Đến Đổng Trọng Thư đã hệ thống hóa các phạm trù đạo đức của NGtruwocs đó, xay dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức cho nền giáo dục đạo đức
PK “Tam cương, ngũ thường” Theo ông đây là những tri thức có tính “tiênthiên” trời sinh ra, vốn có sẵn trong con người Cương nghĩa đen là dây, dâychính của lưới, từ đó mọi dây khác kết vào
“Quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương”=> Vua, cha, chồng
có quyền uy tuyệt đối với bề tôi, con và vợ Đó là ý trời quy đinh, con ngườituân theo
Bề tôi phụ thuộc hoàn toàn vào vua, con phụ thuộc vào cha, dựa vào cha, chabảo gì con cũng phải nghe theo, làm theo, không theo là bất hiếu Và người takhen: “kẻ thờ cha mẹ ở địa vị cao không kiêu căng, ở địa vị thấp không làmloạn, ở chỗ xấu xa không tranh giành”
Trang 22Ba giềng mối đó không thể thay đổi: Vua là dương, tôi là âm, cha là dương,con là âm Học thuyết NG của ông đã khẳng định 4 loại quyền lực để duy trìtrong xhpk là: thần quyền, chính quyền, tộc quyền, phu quyền
Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là năm đức cơ bản của con người.Thường - bất biến, vĩnh hằng=> tc+nt => đạo cương thường,bất biến, vĩnhhằng của NG
“Cương Thường” là nguyên tắc chi phối suy nghĩ à hành động của con ngườitrong XHPK Nó đã tở thành khuân vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnhcủa con người Đạo “cương - thường” có tính hai mặt Một mặt, nó góp phầnđiều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuân phép của lễ phápđược đặt ra trong xã hội (từ nhà Chu đến của nó, đó là nó trở thành sợi dây tróibuộc con người, làm mất tính sáng tạo trong suy nghĩ, hành động của conngười, làm cho con người trở nên thụ động, thậm chí bắt con người chấp hành
vô điều kiện những chuẩn mực đạo đức nghiệt ngã đó
Tiếp theo, cũng là một trong hai tư tưởng lớn của Trung Hoa bên cạnh Nhochính là Đạo Giáo, vốn đã luôn tồn tại, hình thành qua một quá trình dài, thâunhập nhiều trào lưu thượng cổ khác Đạo giáo thâu nhập nhiều tư tưởng đã phổbiến từ thời Nhà Chu (1040-256 trước CN) Thuộc về những tư tưởng này là vũtrụ luận về thiên địa, ngũ hành, bát quái, tứ tượng, thuyết về năng lượng, chânkhí), thuyết âm dương và Kinh Dịch Nhưng, ngoài chúng ra, những truyềnthống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiềnđịnh, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng đượchấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử Việc tu luyện đạt trường sinh cóbắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Nam Hoa chânkinh của Trang Tử, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CNthì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ
Trang 23chính là Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà
Thương, thiên niên kỉ 2 trước CN.
Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng LãoQuân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần Nếu mục đíchcủa việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo
là sống lâu Đạo giáo có hai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tàtrị bệnh, chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo thần tiên dạy tuluyện, luyện đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử Kinh điển củaĐạo giáo gọi là Đạo tạng kinh; ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn baogồm cả các sách thuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, coi đất, thơ văn, bútký tổng cộng lên đến trên 50 vạn quyển
Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử
Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng Ngoại dưỡng là dùng thuốc trườngsinh, gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một sốkhoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng) Nội tu là rèn luyện thânthể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công lấy thân mìnhlàm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư
vô (Đạo) Con người cũng như vạn vật là từ "Đạo" mà sinh ra; cho nên tu luyện
là trở về với "Đạo"
Trong tín ngưỡng Đạo Giáo cũng thường hay nhắc tới các vị Tiên và việcthờ cúng các vị Tiên là thể hiện sự kính trọng với họ Tuy nhiên, ở trong lýluận triết học Đạo giáo thì lại không quan trọng về vấn đề này
Tác phẩm đầu tiên có giá trị đúc kết các tư tưởng của Đạo giáo ra đờivàothế kỉ thứ 4 trước CN, tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện Từ đó,các tên gọi khác của Đạo giáo còn được biết đến với cái tên là Lão giáo, ĐạoLão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên Giáo
Trang 24Đạo trong sự trình bày của Lão Tử (609 trước CN) là một khái niệm trừutượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: "Người thuận Đất, Đấtthuận Trời, Trời thuận Đạo, Đạo thuận Tự nhiên" Nó là nguồn gốc của vạn vật.Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật Đạo sinh ra vạn vật, nhưnglàm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức.Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo Nếu Đạo
là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ
Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Lão Tử thấm nhuần sâu sắctinh thần biện chứng âm dương Được chi phối bởi luật quân bình âm dương,vạn vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lý, công bằng, chu đáo, và dovậy mà mầu nhiệm Hợp lý, vì theo Lão Tử, lẽ tự nhiên giống như việc giươngcung, cao thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên Công bằng, vì nó luôn bớt chỗthừa mà bù vào chỗ thiếu Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa
mà khó lọt Bởi vậy mà nó mầu nhiệm tới mức không cần tranh mà chiến thẳng,không cần nói mà ứng nghiệm Mọi sự bất cập hay thái quá đều trái với lẽ tựnhiên, và do vậy sẽ tự điều chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: "vật hễ bớtthì nó thêm, thêm thì nó bớt"
Từ đây, Lão Tử suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từđiểm đối lập, phải vô vi (không làm) Vô vi không có nghĩa là hoàn toàn khônglàm gì, mà là hòa nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá Vì làm thái quá thìtheo luật âm dương "vật cực tắc phản", kết quả thu được còn tệ hại hơn là hoàntoàn không làm gì Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là "chỉ vì khôngtranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình" Áp dụng vào đời sống xã hội,Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ông nói muốndân yên ổn thì cai trị một nước phải "giống như kho một nồi cá nhỏ": cá nhỏnên để yên, không cạo vẩy, không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo - cạo,
Trang 25cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá nát Đạo chẳng phải cái gì khác ngoài sự phạm
trù hóa triết lý tôn trọng tự nhiên; còn Đức chính là sự phạm trù hóa luật âm
dương biến đổi Khổng thì "nhập thế", "hữu vi", còn Lão thì "xuất thế", "vô vi".
Hegel từng nhận xét rằng tư tưởng của đạo Khổng thì nghèo nàn, còn Lão Tử
mới xứng đáng là người đại diện cho tinh thần phương Đông cổ đại.[1]
Trong khi đạo của Khổng Tử hết sức thực tế vẫn không được dùng thì dễhiểu là triết lý của Lão Tử càng không thể được sử dụng Lão Tử phàn nàn:
"Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai hiểu, không ailàm"
Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 - 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lạiđược người đời chú ý
Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang
Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người vớithiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tớimức cực đoan thành một thứ tương đối luận
Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thànhcách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông khôngchỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻtrộm lớn)
Nhưng Trang Tử đẩy phép vô vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiêncủa Lão Tử tới mức cực đoan thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyênthủy: "Núi không đường đi, đầm không cầu thuyền, muôn vật sống chung, làngxóm liên tiếp cùng ở với cầm thú"
Trang 26Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của Lão Tửcộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần
bí hóa đạo gia thành Đạo giáo Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng củaLão - Trang đối với chính sách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị khiến choĐạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nông dân khởi nghĩa.Sau này, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học,văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địalý
Tiếp đến, ta nói về một tư Tưởng lớn đến từ Ân Độ, mặc dù không đượcphát triển ở nơi tư tưởng ấy khởi sinh, nhưng lại phát triển vô cùng mạnh tạiTrung Hoa, Phật Giáo
Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đãảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc Mặc dù có rất nhiều quanđiểm khác biệt nhưng cả ba giáo lý này đã hoà hợp thành một truyền thống.Ảnh hưởng của Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biêngiới Trung Quốc, được truyền đến các nước lân cận như Việt Nam, Triều Tiên,Đài Loan và Nhật Bản
Những tư tưởng của Đức Phật về sự giải thoát khi đó được số đông dânchúng Trung hoa tiếp nhận Trong hoàn cảnh binh đao liên miên, tinh thần từ bicủa Phật đà thực sự là những gì bá tánh cần, rất nhanh chóng, Phật giáo chiếmđược tình yêu của nhân dân Trung Hoa Hơn nữa, sự giải thoát của Đức Phậtkhác sự giải thoát xuất thế gian của giáo lý Vệ Đà của người Ân Độ mà chúng
ta sẽ bàn ở phần sau Đức Phật chủ trương nhập thế, Bồ Tát giáo hóa chúngsinh ngay trong cảnh đời nghiệt ngã, người tu tại gia cũng tu được mà tu xuấtthế gian cũng được Nói chung, Đạo Phật dung hòa được các tư tưởng TrungHoa, chủ trương giải quyết các vấn đề rất thật của sự sống Đức Phật cũng
Trang 27thuyết về pháp Duyên Khởi, vạn pháp từ duyên sinh, vạn pháp từ duyên
Có lẽ vì họ đều chủ trương tìm ra câu trả lời chung cho vấn đề chung của nhân
dân.Sự dung hợp và kéo dài từ thế kỷ I đến thế kỷ XIII, khi Tam giáo đã làm xong quá trình thấm quyện vào nhau, tự điều chỉnh, hình thành các xu hướng
mới - và ba phái đều xác định được vai trò xã hội của mình, phân công phân
vùng với nhau trong đời sống văn hóa xã hội Nho giáo chi phối cách tổ chức
nhà nước và xã hội, giáo dục thi cử, có tác dụng quyết định đến luân lý Phật
giáo và Đạo giáo chi phối trong đời sống hàng ngày và sinh hoạt kinh tế nông
nghiệp của người dân Người dân tin ở Trời, bái Thần linh và thờ cúng tổ tiên,
Đức Phật cùng với những bậc thánh hiền của Nho giáo.
Trong một cuốn sách của Nho giáo thời Chiến Quốc tên Đại học, có mộtđoạn cũng rất giống pháp môn tu hành sử dụng Giới Định Tuệ của Đức Phật.Đại Học nguyên là một chương trong Lễ Ký được viết thành sách trong khoảngthời gian từ thời chiến quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong nhữngsách chủ yếu của Nho gia Tác giả của Đại Học là ai hiện nay vẫn chưa xácđịnh rõ, có người cho là của Tử Tư viết, nhưng Chu Hy đời Tống lại cho là củaTăng Tử viết Bởi Chu Hy cho rằng Tăng Tử là học trò của Khổng Tử nênTăng Tử ghi chép lại lời của Khổng Tử là hợp đạo lý Và đa số người ta tin vàogiả thiết này hơn
“Đạo học lớn cốt để phát huy đức sáng, đức tốt đẹp của con người, đổi mớikhiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác theo thiện, khiến mọi người đạt đến mức
độ đạo đức hoàn thiện nhất Có hiểu được phải đạt đến mức độ đạo đức hoànthiện nhất thì mới kiên định chí hướng Chí hướng kiên định rồi, tâm mới yên
Trang 28mới có thể chu toàn Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết
công việc được thỏa đáng Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn Vạn sự
đều có bắt đầu và kết thúc Biết làm cái gì trước cái gì sau, tức là đã tiếp cận
nguyên tắc của đạo rồi.”
Đức Phật dạy rằng Giới chính là những nguyên tắc đạo đức, cốt cách làmnên con người Con người phải có chí hướng hoàn thiện bản thân Giới thểhòan thiện trong sáng thì sẽ sinh ra Định: Chính là Tâm yên tĩnh, lòng ổn định.Tâm yên định rồi thì mới ra Trí Tuệ
Cả Phật giáo và Đạo giáo đều khuyến thiện, mà “thiện” của 2 tôn giáo nàyđều là hiếu với cha mẹ, tôn kính bề trên và trung với vua với nước, yêu thương,cứu giúp, tránh không làm điều tham lam độc ác với người khác Nói cách khác,làm điều thiện cũng có nghĩa là tôn trọng thể chế và quy phạm đạo lý của Nhogiáo Do vậy, Phật giáo và Đạo giáo, Nho giáo cùng tồn tại, bổ sung cho nhauchứ không tạo nên xung đột tôn giáo Quả thật, Triết học Trung quốc vô cùng
đa dạng phong phú, nhưng sau này đạt được sự thống nhất!
Đa dạng ở chỗ nó có rất nhiều khuynh hướng đa dạng phong phú về tư tưởng,trường phái
Đồng thời, đều nhằm mục đích hoàn thiện cá nhân một con người, hướngđến mục tiêu cao hơn là ổn định xã hội ( đây cũng là lí do mà sau này TrungQuốc cũng chọn chủ nghĩa Mác để thực hiện cách mạng ) Đồng thời họ mongmuốn chấm dứt chiến tranh, kiến tạo hòa bình, mở mang bờ cõi (họ lấy cớ phổ
độ giáo hóa chúng sinh, nhưng họ không phát triển lên hình thái Đế Quốc, màphát triển lên Chủ nghĩa Xã Hội Cộng Sản)
Trang 29Con người là xuất phát điểm của triết học, nhưng không phải trung tâm, màchú trọng vào phát triển đạo đức, tư duy xã hội cho con người, con người phảihòa vào thiên nhiên,phải hòa bình cùng vạn vật tồn tại trong Nhất Thể, trongĐạo, Đạo là trung tâm.
Tư tưởng về con người
Vấn đề xác định vị trí và vai trò của con người trong mối liên hệ với Trời,Đất, Người, Vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn
là Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn Khổng Tử và Mặc Tử đều coicon người do Trời sinh ra nhưng sau đó cùng với Trời và Đất tạo nên ba ngôitiêu biểu cho mọi sự vật, hiện tượng vật chất và tinh thần
Vấn đề quan hệ giữa Trời với Người được thể hiện trong các quan điểm 1)quan điểm cho rằng Mệnh Trời chi phối cuộc sống của con người và xã hội loàingười, Trời an bài địa vị xã hội của con người 2) Thuyết Thiên Nhân cảm ứngcho rằng Trời là chủ tể của việc người Ngược lại, quan điểm Thiên Nhân hợpnhất lại cho rằng Trời với Người là một, trong đó con người phải theo Trời, lấyphép tắc của Trời làm mẫu mực, coi Thiên Đạo là Nhân Đạo, người đời phải ăn
ở phù hợp với Đạo Trời 3) Lão Tử cho rằng con người phải sống và hành độngtheo lẽ tự nhiên, không can thiệp và không làm trái với bản tính tự nhiên KinhDịch đưa ra quan niệm Trời, Đất, Muôn Vật là nhất thể để có thể từ bản thân
mà suy ra tìm hiểu được Trời, Đất và Muôn Vật 4) Đối lập với các quan điểmtrên là quan điểm Thiên Nhân bất tương quan của Tuân Tử, ông cho rằng ĐạoTrời không quan hệ gì với Đạo Người; trị, loạn không phải tại Trời, Đất, nếubiết chăm lo sản xuất, chi dùng điều độ thì Trời không thể làm hại Người
Vấn đề bản tính con người cũng được chú trọng Khổng Tử coi tính người làgần nhau, do tập tành và thói quen nên mới xa nhau Mạnh Tử coi bản tính
Trang 30chỗ trong mỗi con người đều có phần cao quý và phần thấp hèn, phần cao quý
làm nên sự khác biệt giữa người với cầm thú Tuân Tử lại cho rằng ác (thuyết
tính ác), con người sinh ra vốn ham lợi, dẫn đến tranh giành lẫn nhau, sinh ra
đố kỵ, không có lòng trung tín thành dâm loạn, không có lễ nghĩa Cáo Tử lại
coi là không thiện, không ác Vương Sung còn cho rằng thiện có thể biến thành
ác và ác có thể biến thành thiện Về sau, thuyết tính ác bị Hàn Phi cực đoan hoá,
Lý Tư đã thực hành triệt để chính sách pháp trị, chuyên chế cực độ để giúp Tần
Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc.
Tư tưởng về xây dựng con người
Với tư tưởng xây dựng con người coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quantâm của giai đình và xã hội trong việc xây dựng con người
Mục tiêu xây dựng con người của Nho gia hết sức thiết thực, giúp con ngườixây dựng mình thông qua năm mối quan hệ cơ bản (Vua - tôi, cha - con, anh -
em, chồng - vợ, bạn hữu) và làm tròn trách nhiệm của mình trong năm mốiquan hệ ấy (Vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng cónghĩa, vợ vâng lời, bạn hữu phải có tín) Muốn vậy, phải tu thân, tề gia, trị quốc,bình thiên hạ, trong đó tu dưỡng bản thân là hàng đầu Tu thân trước hết thểhiện trong mối quan hệ của mình với gia đình, tiếp đó là trách nhiệm với nước,trung với Vua và mục tiêu cuối cùng của tu thân là bình thiên hạ Phải thườngxuyên trau dồi năm đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Sáu đức Hiếu, Đễ, Trung,Tín, Lễ, Nghĩa dành cho các đệ tử của Nho gia Ba đức Nhân, Trí, Dũng dànhcho những người có trọng trách, vị trí trong xã hội Trong tất cả những đức đó,nổi bật và quan trọng nhất là Nhân, Lễ Tóm lại, theo Nho gia, con người phảixác định và làm tròn quan hệ của mình là Ngũ Luân (Vua - tôi, cha - con, anh -
em, chồng - vợ, bạn hữu), trong đó Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (Tamcương) là các quan hệ chính Trong Tam cương lại có hai quan hệ cơ bản là
Trang 31Vua - tôi, biểu hiện bằng đức Trung, cha - con biểu hiện bằng đức Hiếu Conngười phải thường xuyên trau dồi Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín),đứng đầu Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, trong đó Nhân là chủ.
Đạo gia coi bản tính của con người có khuynh hướng trở về cuộc sống với tựnhiên, do vậy phải trừ khử cái thái quá, nâng đỡ cái bất cập, sống thanh cao,gần giũ tự nhiên và tránh chạy theo cuộc sống vật chất Đạo Phật khuyên conngười sống hiền lành, không sát sinh, không làm hại người khác
Và từ xây dựng cá nhân, Nho và Lão đều hướng đến xây dựng xã hội lýtưởng.Điển hình của tư tưởng về xã hội lý tưởng và con đường trị quốc là xãhội đại đồng của Khổng Tử với đặc trưng cơ bản là xã hội thái bình, ổn định;
có trật tự, kỷ cương; mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là củachung; được đảm bảo đầy đủ về vật chất; quan hệ tốt đẹp giữa người với người;
xã hội có giáo dục, mọi người đều được giáo hoá Muốn vậy, phải có Vua đứngđầu, hiểu Đạo và hành Đạo là trên dưới thuận hoà; Hiếu, Đễ làm gốc là mọinhà nhân hậu, thiên hạ được yên
Đường lối trị nước theo Thuyết Nhân trị và Thuyết Pháp trị:
Nội dung cơ bản của Thuyết Nhân trị : Thuyết Nhân trị chủ trương lấy đạođức làm căn bản trong việc cai trị Những người cầm quyền quy định sự hưngthịnh, suy vong của đất nước; do vậy những người cầm quyền phải có khả năng
và đức hạnh Theo Thuyết Nhân trị, những người cầm quyền phải lấy đạo đức
để giáo hoá, dẫn dắt dân chúng mà không dùng cách cai trị cưỡng chế, trừngphạt Biện pháp cơ bản để thực hiện Nhân trị là Chính danh, Lễ, vai trò củanhững người cầm quyền và vai trò của dân chúng với tư cách là gốc, là nềntảng của chính trị
Trang 32Tư tưởng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức được biểu hiện qua mốiliên hệ giữa hình - thần ( Thời Chiến Quốc ), Tâm - Vật ( Phật giáo ), Lý vàKhí ( Thời Tống ) Yếu tố Duy Vật và Duy Tâm, Hữu Thần và Vô Thầnthường đan xen nhau
Thần - Hình xuất hiện thời Hán với quan điểm Thần là bản nguyên của Hình,Hình là phái sinh từ Thần của Đổng Trọng Thư Ngược lại, Vương Sung phêphán quan điểm trên của Đổng Trọng Thư và khẳng định rằng không thể tồn tạitinh thần vô hình; Trọng Thường Thông coi thần học, mê tín là do những kẻthống trị đề xướng
Tâm - Vật xuất hiện thời Tuỳ - Đường, khi Đạo Phật làm chủ nền triết họcTrung Quốc Đạo Phật coi Tâm là bản nguyên của thế giới, nghĩa là mọi sự vật,hiện tượng trong thế giới đều do thanh tịnh tâm tuỳ duyên mà sinh ra Ngượclại, một số nhà tư tưởng khác cho rằng có Vật thì mới có Tâm, Tâm có dựa vàoVật thì mới tồn tại được; thậm chí Trương Tải lại coi Tâm của Đạo Phật chỉ là
sự chủ quan, bịa đặt
Lý - Khí xuất hiện thời Tống Lý học là hình thái ý thức giữ vai trò chủ đạotrong xã hội phong kiến thời Tống Theo Trình Hạo và Trình Di, Lý là cái cótrước, sinh ra tất cả Ngược lại Vương Phu Chi phủ định Lý học và chỉ rõ mốiquan hệ giữa đạo và khí là quy luật chung của sự vật, hiện tượng vật chất
Hướng Tư duy của Triết học Trung Quốc là lối tư duy trực giác, thông quakinh nghiệm và trải nghiệm trong một thời gian dài để đúc kết, đi đến giác ngộ(nhấn mạnh cái Tâm là gốc của nhận thức)
Trong quá trình tìm hiểu thế giới bên ngoài đẻ phục vụ cho lợi ích của conngười, các nhà triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã có những tư tưởng khácnhau về nhận thức
Trang 33Khổng Tử tập trung vào thực tiễn giáo dục và phương pháp học hỏi; thuyếtchính danh của ông lấy Danh để định Thực, Danh có trước Thực Ngược lại,Tuân Tử cho rằng Thực khác nhau bằng Danh Mặc Tử với thuyết Tam biểu(lập luận phải có căn cứ, lập luận phải có chứng minh, lập luận phải có hiệuquả) lấy Thực đặt Tên Huệ Thi coi Thực to đến mức không có cái bên ngoàigọi là đại nhất, nhỏ đến mức không có cái bên trong gọi là tiểu nhất Ngược lại,Công Tôn Long bắt đầu từ Danh, nhấn mạnh sự khác nhau giữa từ và kháiniệm.
Triết học Trung Quốc tất cả được xây dựng lên nhờ tư duy duy vật biệnchứng, ít có nhà Triết Học nào sử dụng tư duy siêu hình Tư duy biện chứngcủa người Trung Hoa có đặc tính vòng tròn, phản phục, tuần hoàn Triết lý duyvật biện chứng của triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã có những ảnh hưởngsâu sắc đến thế giới quan triết học không những của người Trung Quốc, màcòn của những người chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc.Biến dịch làquan niệm chung của triết học Trung Quốc cổ, trung đại, theo đó, Trời Đất, vạnvật luôn vận động và biến đổi với nguyên nhân là giữa Trời Đất với vạn vậtvừa đồng nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động, biếnđổi theo luật bình quân và luật phản phục, trong đó luật bình quân giữ cho vạnvật được thăng bằng theo lẽ tự nhiên; luật phản phục dùng để chỉ sự quay trởlại phương hướng cũ sau khi sự vật, hiện tượng đã phát triển đến cực điểm.Trong Kinh Dịch, sự biến hoá của vạn vật tuân theo quy trình từ không rõ ràng-> rõ ràng -> sâu sắc -> kịch liệt -> cao điểm -> mặt trái Vương An Thạch chorằng mâu thuẫn nội, ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng của
sự biến hoá của vạn vật Vương Đình Tương cho rằng động lực của vận động,biến hoá của vạn vật là do khí ân dương không đồng đều nhau v.v
Trang 34Chốt lại đặc trưng cơ bản của Triết học Trung Quốc là tư tưởng hướng đến
sự hài hoà giữa tự nhiên với con người, với xã hội Thống nhất các vấn đềchính trị đạo đức.Các quan điểm, tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đạithường dùng châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ để diễn đạt tư tưởng của mình.Cách diễn đạt đạt ý quên lời, ý ở ngoài lời mở ra sự suy ngẫm Châm ngôn, ngụngôn, ẩn ngữ không thể khúc chiết, mạch lạc nhưng bù lại, sức mạnh và tínhchất sâu xa của tư tưởng triết học ẩn náu trong đó là sự gợi ý thâm trầm, sâurộng dường như vô biên của chúng
B Tương đồng giữa Triết học Trung Quốc và Ân Độ
Triết học Trung Quốc và Ân Độ đều có tính đa dạng, phong phú, nhưng xét
về số lượng tư tưởng thì thật sự là Ân Độ họ có dày đặc các giáo lý, tư tưởnghơn và liên tục biện chứng lẫn nhau Cũng có lẽ do yếu tố thiên nhiên khácnghiệt của Ân Độ đã là những thế lực đè nén lên cuộc sống của người Ân Độkhiến họ phát sinh ra nhiều đạo lý, giáo lý về sự giải thoát địa hình có nhiềunúi (Hymalaya ở phía Bắc quanh năm tuyết phủ), nhiều sông (sông Hằng chảy
về phía Đông, sông Ân chảy về phía Tây) với những đồng bằng trù phú; cóvùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có vùng sa mạc khô cằn, nóng nực Nhưngđồng thời với khí hậu phức tạp như vậy, cảnh quang thực vật, động vật, đờisống của nhân dân Ân Độ hẳn là rất phong phú Đặc biệt thời Phật tại thế, ở Ân
Độ có nhiều tôn giáo nhất, mà sau này cũng trong thời Phật Tại thế, ngài đãthống nhất, giáo hóa được rất nhiều tôn giáo đi theo mình Thời đó là khi mà xãhội Ân Độ phát triển thịnh vượng nhất và trào lưu xuất gia tìm con đường giảithoát có thể nói là bủng nổ thời đó, duy chỉ có Phật là người đã tìm ra chân lýdung hòa tất cả, vượt trên tất cả Theo tôi, nhánh Tư tưởng Phật Giáo là cónhiều tư tưởng tương đồng với Lão và Nho, với tổng thể nền triết học TrungQuốc nhất, còn với hướng chính thống của Ân Độ ta khó có thể tìm được điểmchung Nhưng đó là xét trên phương diện tích môn, xét ở phương diện bản môn,