Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị của hàng hóa, bù lại giá cả củanhững tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng để sản phí sản xuất được t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊHCMUTE
MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
TIỂU LUẬN
LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ - CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
VỀ CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ
THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Trang 2DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2020-2021Nhóm số 11 (Lớp thứ 5, tiết 4-5)
STT Họ và tên MSSV
Tỉ lệ % hoàn thành SĐT
- Trưởng nhóm: Nguyễn Ngọc Hậu
Nhận xét của giáo viên:
Ngày tháng 12 năm 2020 Giáo viên chấm điểm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 3
1.1 Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản 3
1.2 Hàng hoá - sức lao động 4
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5
2.1 Lợi nhuận 5
2.2 Lợi tức 7
2.3 Địa tô 8
2.3.1 Sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp 8
2.3.2 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa 8
2.3.3 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa 9
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG THỰC TIỄN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 11
3.1 Lợi nhuận trong nền kinh tế Việt Nam 11
3.2 Lợi tức trong nền kinh tế Việt Nam 12
3.1 Địa tô trong nền kinh tế Việt Nam 14
3.3.1 Vận dụng trong luật đất đai 14
3.3.2 Vận dụng trong thuế đất nông nghiệp 15
3.3.3 Vận dụng trong việc cho thuê đất 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản xuất trong bất cứ xã hội nào Tư liệu sản xuất chỉtrở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của các nhà tư bản và được dùng để bót lột laođộng làm thuê Ta có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dưbằng cách bóc lột công nhân làm thuê Giá trị thặng dư, phần giá trị do lao động củacông nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao động và tư bản chiếm không Chính vì vậy
mà sản xuất giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật thặng
dư Nó quyết định đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng một xãhội khác cao hơn là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Việcnghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư có vai trò rất quan trọng, nó có ý nghĩa rất quan
trọng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy mà tôi đã chọn đề tài “Lý luận của kinh tế - chính trị mác - lênin về các hình thức biêu hiện của giá trị thặng
dư trong nền kinh tế thị trường liên hệ thực tiễn” cho bài tiểu luận của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu và làm sáng tỏ nội dung về Lý luận của kinh tế - chính trị Mác - Lênin
về các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường và liên hệthực tiễn với nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
Trang bị cho sinh viên hệ thống tri thức lý luận cốt lõi kinh tế chính trị Mác Lenin về giá trị thặng dư trong trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam và thế giớingày nay Đảm bảo tính hệ thống, cập nhật tri thức mới, gắn với thực tiễn, tính sáng tạo,
-kỹ năng, tư duy, phẩm chất người học, tính liên thông Trên cơ sở đó hình thành tư duy
lý luận, kỹ năng phân tích, đánh giá mối quan hệ giá trị thặng dư trong phát triển kinh
tế - xã hôi của đât nuớc
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với tra cứu tài liệu, tổng hợp và phântích thông tin, nghiên cứu và đưa ra những nhận xét, đánh giá Vận dụng quan điểm toàndiện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô tả, phân tích, tổng hợp
Trang 6CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1.1 Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định Nhưngbản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉ biến thành tư bản khi được sử dụng đểbóc lột lao động của người khác
Nếu tiền được dùng để mua bán hàng hoá thì chúng là phương tiện giản đơn củalưu thông hàng hoá và vận động theo công thức: Hàng- Tiền- Hàng(H-T-H), nghĩa là sựchuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệ lại chuyển hoá thành hàng Còn tiềnvới tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: Tiền - Hàng - Tiền (T-H-T), tức là sựchuyển hoá tiền thành hàng và sự chuyển hoá ngược lại của hàng thành tiền Bất cứ tiềnnào vận động theo công thức T-H-T đều được chuyển hoá thành tư bản
Do mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưuthông chấm dứt ở giai đoạn hai Khi những người trao đổi đã có được giá trị sử dụng màngười đó cần đến Còn mục đích lưu thông của tiền tệ với tư cách là tư bản không phải
là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy nếu số tiền thu bằng
số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Do đó, số tiền thu về phải lớn hơntiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là: T-H-T’, trong đó T’= T + AT
AT là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra, C Mác gọi là giá trị thặng dư Số tiền ứng
ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mụcđích của lưu thông T-H-T’ là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận độngT-H-T’ là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn
Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông theo công thức T’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản
T-H-Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ của nó thìthêm một lượng nhất định (AT) Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã làm cho tiềntăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không? Các nhà kinh tế học tưsản thường quả quyết rằng sự tăng thêm đó là do lưu thông hàng hoá sinh ra Sự quảquyết như thế là không có căn cứ
C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không có bất kì một nhà tư bản nào chỉ đóngvai trò là người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua các yếu tố sản xuất Vìvậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn có của nó, thì khi mua các yếu tố sản
Trang 7xuất ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn giá trị và như
bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn
AT Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị, thì số tiền mà người đó sẽ
người mua cũng chính là số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là người bán
sinh ra AT không thể là kết quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó
Đối với hàng hoá ngoài lưu thông: Tức là đem sản phẩm tiêu dùng hay sử dụng
và sau một thời gian tiêu dùng nhất định thì thấy cả giá trị sử dụng và giá trị của sảnphẩm đều biến mất theo thời gian
Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệ nằm im một chỗ Vìvậy không có khả năng lớn lên để sinh ra AT Vậy ngoài lưu thông khi xem xét cả haiyếu tố hàng hoá và tiền tệ đều không tìm thấy nguồn gốc sinh ra AT
“Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ởbên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải tronglưu thông” (C Mác: Tư bản NXB Sự thật, HN, 1987, Q1, tập 1, tr 216) Đó là mâuthuẫn của công thức chung của tư bản
1.2 Hàng hoá - sức lao động
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải thông quahàng hoá được mua vào (T-H) Hàng hoá đó phải là một thứ hàng hoá đặc biệt mà giátrị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức laođộng mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường
Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người,thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản xuất ra một giá trị sửdụng Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biếnthành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định
Trang 8CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1 Lợi nhuận
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải thông quahàng hoá được mua vào (T-H) Hàng hoá đó phải là một thứ hàng hoá đặc biệt mà giátrị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức laođộng mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường Như vậy, sức lao động là toàn bộ thểlực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vậndụng trong quá trình sản xuất ra một giá trị sử dụng Không phải bao giờ sức lao độngcũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch
sử nhất định Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cầnthiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta; những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôngiáo của người công nhân, những chi phí đào tạo người công nhân
Để làm rõ bản chất của lợi nhuận, C - Mác bắt đầu phân tích làm rõ chi phí sảnxuất Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị của hàng hóa, bù lại giá cả củanhững tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng để sản
phí sản xuất được tính theo công thức: k = c + v Như vậy, về bản chất của lợi nhuận,trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất có mộtkhoảng chênh lệch Cho nên sau khi bán hàng hóa (bán ngang giá), nhà tư bản khôngnhững bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng
dư Số chênh lệch này Các Mác gọi là lợi nhuận
Nhưng trong thực tiễn, trước khi các nhà tư bản quyết định ứng vốn cho quá trìnhsản xuất kinh doanh thì cái mà các nhà tư bản quan tâm trước hết chưa phải là lợi nhuận
mà là tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo % giữa giá trị thặng dư mànhà tư bản bóc lột được, so với tư bản hay vốn đầu tư của nhà tư bản (ký hiệu là p’) Tỷsuất lợi nhuận phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh và được tính theo công thức:
Trang 9Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết đầu tư vào đâu thì có lợi hơn Do đó,việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩy các nhà tư bản, làmục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản Mức tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà tư bản, mà phụ thuộc vào những nhân tố kháchquan sau đây:
dư nên tỷ suất lợi nhuận cũng là sự biểu hiện của tỷ suất giá trị thặng dư Vì vậy, chúng
có mối quan hệ với nhau
lợi nhuận: Trong kinh doanh giá trị thặng dư cũng là lợi nhuận nên tỉ suất giá trị thặng
dư càng cao thì ta sẽ thu được lợi nhuận càng lớn Tức là trình độ bóc lột của nhà tư bảnđối với công nhân làm thuê càng nhiều thì chi phí sản xuất tư bản càng nhỏ, nhà tư bản
sẽ thu được mức lợi nhuận càng lớn do lao động không công của công nhân tạo ra.Ngược lại nếu trình độ bóc lột của tư bản càng ít thì người công nhân sẽ được trả lươngvới mức gần tương xứng với sức lao động bỏ ra, thì nhà tư bản sẽ thu được ít lợi nhuậnhơn
do đó tác động tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Nếu tốc độ chu chuyển của tư bảncàng lớn thì tỷ lệ giá trị thặng dư hàng năm tăng lên, do đó tỷ suất lợi nhuận tăng
trị thặng dư giữ nguyên, tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận
Trong chủ nghĩa tư bản, do những đặc điểm, điều kiện khác nhau, nên cùng mộtlượng tư bản như nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau, thì tỷ suất lợi nhuậnđạt được lại khác nhau Vì vậy, các nhà tư bản ra sức cạnh tranh kịch liệt với nhau vàdẫn tới việc hình thành lợi nhuận bình quân Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận thu được
Nếu kí hiệu giá trị tư bản ứng trước là k thì lợi nhuận bình quân được tính như sau:
P = p.k
Trang 10Khi lợi nhuận bình quân trở thành quy luật phổ biến chi phối các hoạt động kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường thì giá trị hàng hóa trở thành giá cả sản xuất Giá cả
sản xuất là giá cả mang lại lợi nhuận bình quân và được tính như sau: GCSX = k + p
Những điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân, giá
cả sản xuất bao gồm: tư bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển Trong nềnkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận bình quân đã trở thành căn cứ cho cácdoanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, phương án kinh doanh sao cho hiệu quả nhất
Lợi nhuận thương nghiệp là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa.Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bảnsản xuất trả cho nhà tư bản thương nghiệp do nhà tư bản thương nghiệp đã giúp cho việctiêu thụ hàng hóa
2.2 Lợi tức
Trong kinh doanh, lợi tức có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính là minh chứngthể hiện cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đó trong cả năm, trong đó lợi tức củadoanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thu đạt được được sau các hoạt động kinh doanh trên,hàng hoá, dịch vụ trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ vàthuế theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức)
Các biểu hiện của lợi tức ở Việt Nam hiện nay:
Cơ sở chiết khấu ngân hàng: Trong lĩnh vực ngân hàng, trái phiếu đơn thuần sẽđược niêm yết dựa trên cơ sở chiết khấu, hiểu theo một cách đơn giản thì nó có nghĩa làlợi tức sẽ được ngân hàng báo cáo rõ trên tổng số tiền mà khách hàng sẽ được ngân hàngchi trả khi hợp đồng đáo hạn và tìm được nhà đầu tư trả giá thấp hơn để mua nó Ởtrường hợp này thì lợi nhuận của nhà đầu tư ở đây chính là giá trị chiết khấu Tuy nhiên
để có thể tính được khoản lợi tức được nhận thì nó cong phải căn cứ vào khoản chênhlệch đã được chuyển đổi hóa sang tỷ lệ phần trăm hàng năm
Lợi tức theo thời gian nắm giữ: Theo một định nghĩa cụ thể thì giá trị lợi tức trongkhoảng thời gian mà nhà đầu tư nắm giữ chỉ được tính trên cơ sở thời gian nắm giữ
Lợi tức hiệu dụng năm: So với những phương thức thông thường khác thì lợi tứchiệu dụng năm được xem là cách có thể giúp các doanh nghiệp xác định lợi tức một cách
Trang 11chính xác hơn, đặc biệt là trong trường hợp khi doanh nghiệp đã có
tư thay thế cho việc phải áp dụng việc tính lãi kép Trong đó lãi kép chính
mà doanh nghiệp thu được từ nguồn lãi trước đó
Lợi tức thị trường tiền tệ (lợi tức tương đương chứng chỉ tiền gửi): Lợi tức thịtrường tiền tệ là chỉ số có thể giúp doanh nghiệp so sánh được các khoản lãi thông quamột công cụ thị trường tiền tệ với lợi tức được viết trên trái phiếu kho bạc với lãi từ mộtcông cụ thị trường tiền tệ Đây thường sẽ là những khoản đầu tư có thời hạn ngắn hạn
và được phân loại như các khoản tương đương tiền
Thứ nhất, dần dần chuyên nền nông nghiệp địa chủ phong kiến sang kinh doanhtheo phương thức sản xub tư bản chủ nghĩa sử dụng lao động làm thuê Ví dụ như ởĐức, Italia, Nga Sa hoàng,
Thứ hai, thông qua cuộc cách mạng dn chủ tư sản, xóa bổ chế độ canh tác ruộngđất theo kiểu phong kiến, phát triển chủ nghĩa tư bản trong nống nghiệp Ví dụ như ởPháp, Anh,
Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp là sựtồn tại của ba giai cấp chủ yếu: địa chủ (sở hữu ruộng đất), nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp (các nhà tư bản thuê ruộng của địa chủ để kinh doanh) và công nhân nông nghiệplàm thuê
2.3.2 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa
Giống như tư bản kinh doanh trong công nghiệp, tư bản kinh doanh trong nôngnghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân Nhưng vì phải thuê ruộng của địa chủnên ngoài lợi nhuận bình quân, tư bản kinh doanh nông nghiệp còn phải thu thêm đượcmột phần giá trị thặng dư dôi ra nửa, tức là lợi nhuận siêu ngạch Lợi nhuận siêu ngạch
Trang 12này tương đối ổn định, lâu dài và tư bản kinh doanh nông nghiệp
dưới hình thái địa tô tư bản chủ nghĩa Vậy, địa tô tư bản chủ nghĩa là phẩn
chuyển hóa của giá trị thặng dư siêu ngạch hay lợi nhuận siêu ngạch
Phân biệt địa tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến
đất cả hai loại địa tô đều là kết quả của sự bóc lột đối với người lao động nông nghiệp
giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân, trong đó địa chủ trực tiếp bóc lột nông dn; cònđịa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh quan hệ sản xuất giữa ba giai cấp: địa chủ, tư bản kinhdoanh nông nghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê, trong đó địa chủ gián tiếp bóclột công nhân nông nghiệp làm thuê thông qua tư bản kinh doanh nông nghiệp, về mặtlượng địa tô phong kiến bao gồm toàn bộ phần sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra,
có khi còn lấn sang cả phần sản phẩm cần thiết; còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là mộtphần của sản phẩm thặng dư, đó là phần sản phẩm tương ứng với phần giá trị thặng dưdôi ra ngoài lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp
2.3.3 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
đất có lợi thế về điều kiện sản xuất (độ màu mỡ của đất đai tốt hơn, vị trí gần thị trường,gần đường hơn, hoặc ruộng đất được đầu tư để thm canh) Nó là số chênh lệch giữa giá
cả sản xuất chung (được quy định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xu nht) và giá
cả sản xuất cá biệt Hay có thể định lượng: Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung Giá cả sản xuất cá biệt
-Chúng ta biết trong công nghiệp, giá cả sản xuất được quy định bởi điều kiện sảnxuất trung bình, còn trong nông nghiệp nếu giá cả sản xuất cũng được quy định trênruộng đất có điều kiện sản xuất trung bình thì trên ruộng đất xu sẽ không có người canhtác và như vậy sẽ không đủ nông phẩm để thỏa mãn nhu cầu của xã hội Vì vậy, trongnông nghiệp giá cả sản xuất sẽ do điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất quy định.Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch Tuy nhiên, nếu như trong công