Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định trên cơ sở của ba dấu hiệu: Chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở thương mại ở cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -o0o -
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ NÊU VÀ PHÂN TÍCH HỆ THỐNG QUY PHẠM
LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Bích Giảng viên: GS.TS Nguyễn Bá Diến
Mã số sinh viên: 17031839 Lớp: K11 – Kép Luật học
Hà Nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
Chương 1: Cơ sở lý luận 1
1.1 Khái niệm Thương mại quốc tế 1
1.2 Khái niệm Luật Thương mại quốc tế 2
Chương 2: Hệ thống quy phạm luật thương mại quốc tế 2
2.1 Quy phạm pháp luật quốc gia 2
2.2 Quy phạm điều ước 3
2.2.1 Các điều ước quốc tế đa phương 5
2.2.2 Các điều ước quốc tế song phương 7
2.3 Tập quán quốc tế 8
2.4 Án lệ 10
Chương 3: Hệ thống quy phạm Luật Thương mại quốc tế Việt Nam 11
3.1 Quy phạm pháp luật quốc gia 11
3.2 Quy phạm điều ước 11
3.2.1 Các điều ước quốc tế đa phương 12
3.2.2 Các điều ước quốc tế song phương 12
3.3 Quy phạm tập quán quốc tế 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3MỞ ĐẦU Thương mại quốc tế được hình thành từ lâu đời và thực sự phát triển mạnh mẽ
từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 Cũng như các lĩnh vực khác, hoạt động thương mại quốc tế chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật và những nguyên tắc pháp lý nhất định Hiện nay, pháp luật thương mại quốc tế đã trở thành một hệ thống khá hoàn chỉnh, tạo lập hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - thương mại quốc tế, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
Luật thương mại quốc tế là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho thương mại quốc
tế, toàn cầu hóa và hội nhập Chính vì vậy, người viết lựa chọn phân tích hệ thống quy phạm luật thương mại quốc tế để làm đề tài tiểu luận cuối kì của mình
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm Thương mại quốc tế
Ở Việt Nam, hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại
và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Trong khi đó, việc mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu là việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa Như vậy, Thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có yếu
tố nước ngoài Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định trên
cơ sở của ba dấu hiệu: Chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau; sự kiện làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra ở nước ngoài và đối tượng của quan hệ thương mại như hàng hóa, dịch vụ hoặc các đối tượng khác ở nước ngoài
Trang 42
1.2 Khái niệm Luật Thương mại quốc tế
“Luật Thương mại quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, bao gồm quy phạm pháp luật quốc gia, quy phạm điều ước, tập quán quốc tế và các
án lệ nhằm điều chỉnh các quan hệ thương mại – quan hệ thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ - có yếu tố nước ngoài.”1
Có thể thấy, luật thương mại quốc tế bao gồm các quy phạm mang tính chất công pháp quốc tế và các quy phạm mang tính chất tư pháp quốc tế Các quy phạm mang tính chất công pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia và chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế Các quy phạm mang tính chất tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế
Chương 2: Hệ thống quy phạm luật thương mại quốc tế
2.1 Quy phạm pháp luật quốc gia
Cũng như mọi lĩnh vực khác, trong thương mại quốc tế, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể Pháp luật của mỗi quốc gia là tổng thể các quy tắc, quy định điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của quốc gia đó Các quy tắc và quy phạm này tùy theo hệ thống pháp luật của mỗi nước mà được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc không thành văn bản Quy phạm pháp luật quốc gia trong Luật Thương mại quốc tế là tổng hợp các quy định điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc
tế Với tư cách là nguồn của luật thương mại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc không được thể hiện dưới hình thức văn bản
1 PGS TS Nguyễn Bá Diến (Chủ biên), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội – 2005
Trang 5Nguồn luật này được thể hiện dưới hình thức nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào từng
hệ thống pháp luật nhất định
Ví dụ, trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, Đạo luật thuế quan 1930, Đạo luật thương mại 1974, Đạo luật về các hiệp định thương mại 1979, Bộ luật thương mại thống nhất (US UCC) …là những nguồn quan trọng của pháp luật thương mại quốc
tế Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực luật hợp đồng, luật dân sự, luật tố tụng dân sự…trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng là những nguồn luật thương mại quốc tế quan trọng
Pháp luật của mỗi quốc gia dược áp dụng trong thương mại quốc tế trong hai trường hợp, đó là: Khi các bên chủ thể thoả thuận áp dụng và khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật của quốc gia Do đặc thù của quan hệ pháp luật trong hoạt động thương mại quốc tế mà các hệ thuộc luật sau đây thường được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến: Luật quốc tịch của các bên chủ thể; Luật nơi cư trú cùa các bên chủ thể; Luật nơi có vật, Luật nơi kí kết hợp đồng, Luật nơi thực hiên hợp đồng
2.2 Quy phạm điều ƣớc
Điều ước quốc tế được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi các điều ước này điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực thương mại quốc tế Bất cứ điều ước nào được kí kết nhằm điều chỉnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư có yếu tố nước ngoài đều được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế
Căn cứ vào số lượng chủ thể của điều ước quốc tế, có thể chia thành hai loại: Điều ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tế song phương
Căn cứ vào tính chất điều chỉnh của điều ước quốc tế mà chúng được chia thành hai loại: điều ước quy định những nguyên tắc chung và điều ước quy định một cách
Trang 64
cụ thể quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế
Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước này có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế Như vậy, khi các nước kí kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại thì các quy phạm ghi nhận trong các điều ước về thương mại này sẽ đương nhiên áp dụng để điều chỉnh các hành vi của quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế
Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng trên các nguyên tắc sau:
- Điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có quốc tịch hoặc hoặc có nơi cư trú ở các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế đó
- Trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế về thương mại và luật trong nước của nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng
- Trong trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không mang quốc tịch hoặc không có nơi cư trú ở các nước thành viên của một điều ước quốc tế về thương mại thì các quy định trong điều ước này vẫn điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên thỏa thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế đó
Ví dụ: Các hiệp định của WTO; Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 1980 (CISG); Công ước của Liên hợp quốc về công nhận và
Trang 7thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài 1958 (Công ước New York); Quy tắc
La Haye – Visby và Quy tắc Hambourg
2.2.1 Các điều ước quốc tế đa phương
Điều ước quốc tế đa phương là loại điều ước do ba chủ thể trong quan hệ quốc tế trở lên kí kết hoặc tham gia Các điều ước này đề cập từng lĩnh vực nhất định trong thương mại quốc tế Ví dụ như: Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) được kí kết năm 1947; Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được
kí kết năm 1980; Công ước Vacsava kí kết năm 1929 về thống nhất một số nguyên tắc về vận tải hàng không quốc tế; Công ước Bruxen được kí kết năm 1924 về thống nhất một số quy tắc pháp lý về vận đơn đường biển…Các quy định điều ước quốc tế
đa phương có giá trị bắt buộc đối với các thành viên của điều ước
Công ước Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế là một hiệp ước hay bản hợp đồng có tính chất ràng buộc giữa các nước Nó thiết lập một loạt những quy tắc điều chỉnh những mặt cụ thể trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại giữa người bán và người mua mà trụ sở thương mại của họ ở các nước khác nhau Bằng việc thừa nhận nó, một nước sẽ cam kết với các nước khác cũng thừa nhận Công ước này sẽ thừa nhận các quy tắc của Công ước như một phần của pháp luật nước đó
Một số vấn đề pháp lý về Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Công ước này ký kết ngày 11/4/1980 tại Viên (Áo) Ban đầu ký kết chỉ có 6 quốc gia thành viên Số lượng các quốc gia phê chuẩn Công ước này ngày càng tăng lên
và đến nay đã có 85 quốc gia là thành viên Công ước Viên là nguồn luật chủ yếu để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay
Công ước Viên 1980 bao gồm 101 điều, được chia làm 4 phần:
Trang 86
a Phạm vi áp dụng của Công ước:
Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1 – 13), quy định trường hợp nào Công ước viên được áp dụng và trường hợp nào không được áp dụng, đồng thời nêu
rõ nguyên tắc trong việc áp dụng Công ước, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành
vi xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng
Công ước Viên được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên
có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau Công ước này áp dụng khi các bên tham gia hợp đồng có trụ sở ở các quốc gia là thành viên của Công ước
b Về xác lập hợp đồng trong Công ước
Việc xác lập hợp đồng, trình tự, thủ tục ký hợp đồng được quy định trong 11 điều khoản (Điều 14 – 24), quy định chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
c Về mua bán hàng hóa
Các Điều 25 – 88 quy định các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 chương:
- Những quy định chung (Điều 25 – 29)
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bán
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của người mua
- Quy định về chuyển rủi ro (Điều 66 – 70)
- Quy định về các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua
d Các quy định cuối cùng (Điều 89 – 101)
Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này
Trang 9 Nhìn chung, CISG tạo thuận lợi và hiệu quả cho việc mua bán hàng hóa quốc
tế, tạo nền tảng pháp lý chắc chắn CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quá trình tạo lập và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nó cũng cung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục của các bên trong các giao dịch thương mại quốc tế CISG không hạn chế sự tự do của người bán và người mua trong việc soạn thảo hợp đồng cho phù hợp với điều kiện của họ
Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất Trong phạm vi hạn hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa, CISG là công ước quốc tế có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức độ được
áp dụng Trong số các quốc gia thành viên của CISG có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa, các quóc gia xã hội chủ nghĩa… CISG còn là nguồn tham khảo quan trọng của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và các nguyên tắc của Luật Hợp đồng châu Âu Trên cơ sở nền tảng của CISG, các nguyên tắc này trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về hợp đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế
2.2.2 Các điều ước quốc tế song phương
Điều ước quốc tế song phương là loại điều ước quốc tế do hai bên chủ thể trong quan hệ quốc tế kí kết với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lý giữa hai bên trong hoạt động thương mại quốc tế Thông thường, nội dung của loại điều ước này đề cập từng lĩnh vực cụ thể như: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư hoặc các vấn đề có liên quan như hàng hải, hải quan, thanh toán quốc tế…Những quy định trong các điều ước quốc tế song phương chỉ điều chỉnh các
Trang 108
quan hệ pháp lý giữa hai bên ký kết Ví dụ như Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
2.3 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế với tư cách là nguồn luật Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến Không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng có thể được coi là nguồn luật thương mại quốc tế Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý nhất định
Các cơ sở pháp lý để xác định tập quán thương mại quốc tế là quy phạm của luật thương mại quốc tế bao gồm:
Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời
và phải được áp dụng liên tục
Tập quán thương mại phải có nội dung cụ thể rõ ràng
Tập quán thương mại phải là thói quen duy nhất trong giao dịch thương mại quốc tế
Tập quán thương mại phải được đại đa số các chủ thể trong thương mại quốc tế hiểu biết và chấp nhận
Tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý trong thương mại quốc tế ở các trường hợp sau:
Tập quán thương mại được các bên thỏa thuận áp dụng ghi trong hợp đồng Tập quán thương mại được các điều ước quốc tế liên qaun quy định áp dụng
Trang 11Tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng
Những tập quán quốc tế là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế chủ yếu gồm các tập quán về thương mại và hàng hải quốc tế Ví dụ: Các điều kiện thương mại quốc tế (INTERCORM) đã được Phòng Thương mại quốc tế Paris tập hợp và ban hành từ năm 1963
Một số vấn đề pháp lý về INCOTERMS
INCOTERMS được viết tắt từ tiếng Anh là “International Commercial Terms” (các điều kiện thương mại quốc tế) Là một tập hợp các tập quán thương mại do Phòng Thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo và ban hành, INCOTERMS quy định những điều kiện thương mại quốc tế thống nhất
Vai trò của INCOTERMS:
INCOTERMS có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế Vai trò đó được thể hiện cụ thể như sau:
- INCOTERMS là một tập hợp các quy tắc hệ thống hóa và giải thích thống nhất các tập quán thương mại phổ biến trên thế giới, với mục đích giúp cho thương nhân có thể hiểu và áp dụng dễ dàng và thống nhất trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại, đặc biệt là với các đối tác nước ngoài
- INCOTERMS là cơ sở quan trọng, nếu trong hợp đồng có dẫn chiếu việc sử dụng một bản INCOTERMS nhát định để xác định các nội dung của điều khoản về giá cả, giao nhận hàng hóa, phân chia các chi phí và rủi ro đối với hàng hóa, vận tải hành hóa, các nghĩa vụ về bảo hiểm hàng hóa, thủ tục thông quan hàng hóa, thực hiện khiếu nại và giải quyết tranh chấp
- INCOTERMS với sự tập hợp sẵn những điều kiện thương mại chuẩn mực và thống nhất trong đó xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, được coi là phương tiện quan trọng để