Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu: “thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử, dựa trên việc Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Luật -
TIỂU LUẬN HẾT HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Chủ đề : Hãy nêu và phân tích nội dung cơ bản của luật thương mại điện tử
trong thương mại quốc tế Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Bá Diến
Sinh viên thực hiện: Vũ Tuấn Minh
Mssv: 18030378 Lớp: Kép 11 – Luật học
Hà Nội – 2022
Trang 2Mục lục
Mở đầu……… 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ……… 2
1.1 Quan niệm thương mại……… 2
1.2 Khái niệm thương mại điện tử………2
1.3 Pháp luật về thương mại điện tử……….4
1.4 Các đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử……….5
1.5 Định nghĩa thương mại quốc tế………6
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ……… 7
2.1 Pháp luật quốc tế về thương mại điện tử……….7
2.2 Giao kết hợp đồng điện tử……… 9
2.3 Văn bản viết, văn bản gốc……… 10
2.4 Chữ ký điện tử……….… 11
2.5 Vấn đề thuế……….… 12
2.6.Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ……….… 13
2.7 Vấn đề an toàn, bảo mật trong thương mại điện tử……….… 15
Chương 3: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ……….… 16
3.1.Thực trạng giải quyết tranh chấp về thương mại điện tử thế giới…… ……16
3.2 Thực trang tại Việt Nam……….…… 19
3.3 Giải pháp……….… 21
Kết luận………22
Tài liệu tham khảo………24
Trang 3Mở đầu
Hiện nay trên thế giới, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật nói chung và công nghệ thông tin nói riêng, thì thương mại điện tử đang nắm giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, chính nó đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng tỷ trọng GDP của những quốc gia có nền kinh tế phát triển Thương mại điện tử là sự phát triển của thương mại truyền thống, được cấu thành bởi nhiều thành tố, trong đó có sự áp dụng các thành quả của khoa học - kỹ thuật phục vụ đời sống con người cũng như việc thỏa mãn các nhu cầu khác Đây
là xu hướnng tất yếu của sự phát triển trên mọi phương diện về kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hóa Thực tế cũng cho thấy, các quan hệ thương mại điện tử đã và đang hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới và cũng đang phát triển ở Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới vận hành trên nền tảng của công nghệ điện tử và công nghệ viễn thông, đòi hỏi phải có cơ chế điều chỉnh pháp luật phù hợp, tương thích nhằm đảm bảo để các quan hệ về thương mại điện tử phát triển hiệu quả, khả thi, có tính định hướng đúng đắn, lành mạnh và bền vững Pháp luật về thương mại điện tử ở nhiều quốc gia tiên tiến đã và đang nắm giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại điện tử
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử hiện nay, thì việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý được coi là yếu tố rất quan trọng Do
đó em đã chọn đề tài: “Hãy nêu và phân tích nội dung cơ bản của luật thương mại điện tử trong thương mại quốc tế” làm bài tiểu luận kết thúc học phần
Trang 42
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ 1.1 Quan niệm thương mại
Thương mại là một phạm trù kinh tế, một lĩnh vực hoạt động của con người liên quan đến các hành vi mua bán các hàng hoá, dịch vụ Gắn liền với việc mua bán hàng hoá, dịch vụ là các hoạt động xúc tiến thương mại
Theo Luật thương mại , “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác“ (K1 Đ3 Luật thương mại)
Hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất
Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Mua bán hàng hoá (Thương mại hàng hóa) là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (K8 Đ3 Luật thương mại) Cung ứng dịch vụ (Thương mại dịch vụ) là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (K9 Đ3 Luật thương mại)
1.2 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử trong tiếng anh được gọi là e-commerce, e-comm hoặc được viết tắt là EC, nghĩa là Electronic Commerce
Trang 5Thương mại điện tử là một phương thức giao dịch buôn bán dựa trên nền tảng phát triển của internet và công nghệ phần mềm Việc mua bán sẽ được thực hiện dựa trên website trực tuyến của doanh nghiệp hoặc các trang thương mại điện
tử khác nhằm tăng khả năng tiếp cận tới khách hàng và đem lại doanh thu lớn cho doanh nghiệp
Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu: “thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử, dựa trên việc
Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới - WTO: “thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế của Liên hợp quốc (“OECD”) định nghĩa: “thương mại điện tử là các gao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua
Căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử, loại hình ứng dụng thương mại điện tử được phân loại thành: (i) giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B); (ii) giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C); (iii) giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G); (iv) giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau (C2C) và (v) giao dịch giữa cơ quan nhà nước với
cá nhân (G2C) Các loại hình ứng dụng của thương mại ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến, góp phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động của các doanh
Trang 64
nghiệp, của nhà nước và người tiêu dùng, đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng thương mại của mỗi quốc gia nói riêng và của toàn cầu nói chung
1.3 Pháp luật về thương mại điện tử
Về pháp luật quốc tế Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, từ năm 1996 UNCITRAL đã ban hành Luật mẫu về Thương mại điện tử - đây được coi là văn bản mang tính pháp lý quốc tế đầu tiên quy định điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử Tiếp sau Luật mẫu về Thương mại điện tử, năm 2001 UNCITRAL đã ban hành Luật mẫu về chữ ký điện tử Ngoài hai văn bản nói trên, hoạt động thương mại điện tử còn được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật quốc tế khác: Công ước của Liên hiệp quốc năm 2005 về việc sử dụng các phương tiện điện tử; Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế; Công ước Rome
1980 về luật áp dụng cho các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng; Những nguyên tắc pháp lý thống nhất về hợp đồng thương mại quốc tế, …
Về pháp luật quốc gia Các quốc gia trên thế giới đã ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử: Luật Thống nhất về Giao dịch điện tử của Hoa Kỳ; tại Hoa Kỳ các bang của quốc gia này cũng ban hành các quy định pháp luật về hoạt động thương mại điện tử của từng bang; Luật Chữ ký điện
tử trong thương mại quốc gia và quốc tế của Hoa Kỳ; Pháp lệnh giao dịch điện tử của Hồng Kông - Trung Quốc năm 2001; Luật Chữ ký điện tử của Trung Quốc; Luật Giao dịch điện tử Singapore năm 1998, …
Tại Việt Nam có Luật Giao dịch điện tử được thông qua ngày 29/11/2005
và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006 Phạm vi điều chỉnh của luật khá rộng: Giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và giao dịch điện tử trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại; Luật Thương mại (sửa đổi) được thông qua ngày 14.06.2005 và có hiệu lực từ ngày 01.01.2006 là cơ sở quan trọng đối với các hoạt động thương mại, bao gồm Thương mại điện tử; Bộ luật Dân sự 2015; Luật Hải quan 2014, Luật Sở hữu trí tuệ 2019,…
Trang 71.4 Các đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử
Thứ nhất, thương mại điện tử không thể hiện các văn bản giao dịch trên giấy Tất các thông tin, dữ liệu đều có thể lưu giữ, truyền gửi và thể hiện bằng các phương tiện điện tử Điều này giúp cho các chủ thể sử dụng thương mại điện tử
có thể tiết kiệm nhiều về thời gian và tiền bạc Tuy nhiên do được thực hiện qua các phương tiện điện tử cho nên thương mại điện tử đòi hỏi phải có những tiêu chí kỹ thuật chặt chẽ nhất định để đảm bảo an toàn, an ninh cho giao dịch thương mại điện tử
Thứ hai, thương mại điện tử phụ thuộc hạ tầng công nghệ và trình độ công nghệ thông tin của người sử dụng Thương mại điện tử được thực hiện qua các phương tiện điện tử, nó đòi hỏi tiêu chí kỹ thuật cao để đảm bảo an toàn, an ninh cho các giao dịch được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, điều đó đòi hỏi phải không ngừng phát triển, nâng cao hạ tầng công nghệ, cũng như có đội ngũ con người vận hành các phương tiện điện tử không chỉ thành thạo về công nghệ mà còn có kiến thức và kỹ năng về quản trị kinh doanh, về thương mại
Thứ ba, thương mại điện tử có tốc độ nhanh Sở dĩ khẳng định như vậy vì các bước giao dịch được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, do vậy góp phần rút ngắn thời gian, cũng như chi phí trong quá trình thực hiện 15 giao dịch – điều này đã góp phần tạo nên những biến chuyển quan trọng trong giao dịch thương mại
Thứ tư, về mặt chủ thế Trong thương mại điện tử ngoài sự xuất hiện của bên bán và bên mua, còn có sự tham gia của một bên thứ ba khác – có thể là nhà cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan chứng thực, … những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử
Thứ năm, thương mại điện tử mang tính không biên giới Khác với thương mại truyền thống thương mại điện tử được thực hiện trong môi trường chung toàn cầu Các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử không cần trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với nhau, không cần phải biết nhau từ trước, các bước cần thiết của một
Trang 86
giao dịch thương mại đều có thể được thực hiện thông qua các phương tiện điện
tử
Thứ sáu, mạng lưới thông tin là thị trường và nền tảng để thương mại điện
tử phát triển Trong thương mại truyền thống mạng lưới thông tin là phương tiện
để trao đổi dữ liệu thì trong thương mại điện tử đó chính là thị trường để thương mại phát triển Tại đó, các bên có nhu cầu trao đổi với nhau về các loại hàng hóa, dịch vụ mình cần bán/mua, về giá cả, phương thức thanh toán, phương thức cung cấp dịch vụ, … Bản thân thị trường truyền thống cũng có những khác biệt cơ bản
1.5 Định nghĩa thương mại quốc tế
Lý thuyết kinh tế cho rằng lợi thế so sánh chính là động cơ của thương mại quốc tế Lợi thế so sánh chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác, là cơ sở để các nước buôn bán với nhau
và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế Lợi thế so sánh của một quốc gia về sản xuất một sản phẩm nếu như việc sản xuất ra sản phẩm đó có năng suất
thể hiểu phạm trù tạo nên lợi thế so sánh chính là giá trị mà giá trị đó được xác định bằng nhu cầu đối với loại một loại hàng hóa của quốc gia
Vậy có thể nói rằng thương mại quốc tế hình thành khi các quốc gia dư thừa một loại hàng hóa khi nó là thứ mà các quốc gia khác đang cần hay thiếu Xét về mặt ngữ nghĩa, “Quốc tế” được định nghĩa là: bao gồm các giao dịch hoặc các mối quan hệ giữa các quốc gia Còn “Thương mại” là: trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ, tài sản, v.v… giữa các cá nhân hoặc tổ chức với cá nhân hoặc tổ chức khác; là xuất khẩu và/hoặc nhập khẩu; là khối lượng hoặc giá trị của hoạt động xuất khẩu/nhập khẩu 10 Từ đó ta có thể hiểu thương mại quốc tế là việc các
4 Hà Lan Anh, Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2008, tr 14
5 Bài tham luận “Lý thuyết lợi thế so sánh và gợi ý đối với Việt Nam trong bối cảnh phát triển hiện
nay” của PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên tại Hội thảo quốc gia Các lý thuyết kinh tế trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thực tiễn ở Việt Nam
Trang 9cá nhân, tổ chức tại một quốc gia thực hiện trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ, v.v với một cá nhân, tổ chức của một quốc gia khác
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2.1 Pháp luật quốc tế về thương mại điện tử
Càng ngày nhu cầu về TMĐT và thương mại quốc tế càng tăng cao, đồng nghĩa với việc số lượng các giao dịch, yêu cầu về kĩ thuật, sự đa dạng và chất lượng dịch vụ cũng tăng cao, và đặc biệt là một yếu tố cuối cùng để đảm bảo cho các giao dịch này được hình thành, diễn ra và kết thúc một cách tốt đẹp đó chính
là có một hành lang pháp lý, cơ sở pháp lý vững chắc Trong những năm qua các
tổ chức như WTO, OECD, ITC, UNCITRAL luôn nỗ lưc để hoàn thiện các quy định và văn bản pháp lý Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc có một văn bản pháp luật mẫu có tính thống nhất chung cho các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử trong môi trường thương mại quốc tế, UNCITRAL đã tiến hành soạn thảo và sau đó ban hành văn bản Luật mẫu về Thương mại điện tử năm 1996 (có giá trị thi hành ngày 12 tháng 6 năm 1996)
Công ước Liên Hợp Quốc về Sử dụng Chứng từ điện tử trong Hợp đồng thương mại quốc tế (UN Convention on the Use of Electronic Communications
in International Contracts) đã được phiên họp lần thứ 60 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết số A/RES/60/21 ngày 9/11/2005 Về nội dung chuyên môn, Công ước này do Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc
tế (UNCITRAL) xây dựng, nhằm đưa ra một khung quy định chung cho những vấn đề cơ bản nhất của giao kết và thực hiện hợp đồng thông qua phương tiện điện
tử Công ước khẳng định các tiêu chuẩn để đảm bảo giá trị pháp lý ngang nhau giữa văn bản giấy và văn bản điện tử trong các giao dịch quốc tế, sao cho các hợp đồng được thương lượng và ký kết thông qua thông tin điện tử đều có giá trị và hiệu lực thi hành tương đương với các hợp đồng thương lượng truyền thống Dựa trên nền tảng đó, công ước được đánh giá là một công cụ pháp lý quan trọng nhằm
Trang 108
tăng cường buôn bán quốc tế trên cơ sở tận dụng ưu thế mạng Internet toàn cầu Việc áp dụng rộng rãi và đồng nhất những quy định này giữa các quốc gia sẽ góp phần xóa bỏ trở ngại đối với việc sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại quốc tế, nâng cao tính chắc chắn về phương diện pháp lý cũng như tính ổn định về phương diện thương mại của hợp đồng điện tử, và giúp doanh nghiệp tiếp cận được những phương thức tiến hành thương mại hiện đại, hiệu quả nhất
Ngày 06/07/2006, tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, Hoa Kỳ đã diễn
ra lễ ký kết chính thức Công ước này với sự tham gia của 60 quốc gia thành viên LHQ, hơn 10 nước quan sát viên, trong đó Việt Nam tham gia với tư cách quan sát viên
Theo UNCITRAL, mục đích của đạo luật này là nhằm để tạo điều kiện và đơn giản hóa hoạt động thương mại tiến hành qua phương tiện điện tử (thương mại điện tử) bằng cách đưa ra hệ thống các quy tắc hợp lý để các nhà làm luật ở các quốc gia tham khảo để từ đó loại bỏ bớt những rào cản pháp lý có thể phát sinh và hạn chế những khác biệt trong lập pháp có thể xảy ra trong tương lai, tạo
tiên, có vai trò cực kì quan trọng đối với các văn bản luật thương mại điện tử về sau Luật mẫu này là một nhóm các quy định cân đối và riêng biệt và các quốc gia khi dựa vào đó để xây dựng văn bản luật của mình thì được khuyến nghị là nên ban hành thành một quy định độc lập và duy nhất trong hệ thống luật nội địa của mình, nhưng cũng có thể tùy theo đặc điểm của quốc gia mình không nhất thiết phải là một văn bản mà có thể chia các quy định vào nhiều văn bản khác nhau Đạo luật mẫu được chia thành hai phần, phần đầu tiên để giải quyết các vấn đề chung của thương mại điện tử và phần còn lại để xem xét trong một số lĩnh vực
Trang 11Ngoài ra có rất nhiều văn bản quan trọng khác như Luật mẫu về Chữ ký điện tử và văn bản hướng dẫn thi hành của UNCITRAL năm 2001; Chỉ thị 1999/93/EC về Chữ ký điện tử của Hội đồng châu Âu; Chỉ thị 2000/31/EC về Thương mại điện tử của Hội đồng châu Âu EC
Ở Việt Nam, Luật Giao dịch điện tử 2005 ra đời, dựa trên Luật mẫu về Thương mại điện tử 1996 của UNCITRAL, trở thành cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam Văn bản áp dụng cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan lựa chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử trong các lĩnh vực thương mại Luật quy định cụ thể và chi tiết về nguyên tắc thực hiện giao dịch, giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử, hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra, v.v…
Tuy nhiên có một thực tế là vẫn có nhiều kẽ hở và thiếu trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi và xuất hiện liên tục của các hình thức giao dịch, thương mại điện tử, giống như việc kinh doanh qua các trang mạng xã hội như Facebook xuất hiện trong thời gian gần đây và ngày càng nhiều hơn, tràn lan, rất khó để quản lý hết hay xử lí các vụ lừa đảo, mà cũng không thể bắt buộc những đối tượng này tuân thủ vì chưa có một văn bản luật quy định cụ thể về vấn đề này Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm kể trên cũng chưa đưa ra những quy định định hướng cho hoạt động thương mại điện tử trong môi trường thương mại quốc
tế, mà chỉ nêu chung chung về việc hợp tác quốc tế về thương mại điện tử trong chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia, điều này sẽ gây lúng túng và mất thời gian tìm hiểu hay e dè khi các cá nhân tổ chức ở Việt Nam muốn thực hiện các hoạt động thương mại điện tử, giao dịch điện tử với các cá nhân, công ty
ở nước ngoài
2.2 Giao kết hợp đồng điện tử
Các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng điện tử hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử Điều 11
Trang 1210
Luật mẫu về Thương mại điện tử quy định: “Trong giai đoạn hình thành hợp đồng, các bên có thể sử dụng hình thức thông tin số để gửi và nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận khác Khi sử dụng hình thức thông tin số trong giai đoạn hình thành hợp đồng, thì không thể bác bỏ giá trị pháp lý hay hiệu lực thi hành của bản tin số đó chỉ với lý do duy nhất đó là một bản tin số” Điều 34 Luật Giao dịch điện tử cũng quy định: “Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định và thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, tuy không đề cập trực tiếp tới các trường hợp không được sử dụng hình thức hợp đồng điện tử nhưng ngay tại Điều 1 Luật Giao dịch điện tử đã khẳng định: “Các quy định của Luật này không áp dụng đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các bất động sản khác, văn bản về thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai sinh, giấy khai tử, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác”
Thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử cũng được các quốc gia thể hiện cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp lý của mình, ví dụ: Luật Thương mại điện tử thống nhất của Canada; Luật Giao dịch điện tử Singapore, … Những thừa nhận đó, như đã đề cập ở trên, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của thương mại điện tử, khuyến khích các chủ thể chủ động hơn và sử dụng nhiều hơn loại hình hợp đồng này Về việc giao kết hợp đồng điện tử Điều 36 Luật Giao dịch điện tử quy định “Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để 32 tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng; Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” Thông điệp dữ liệu theo quy định được hiểu là
“thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (Điều 4 Khoản 12 Luật Giao dịch điện tử)
2.3 Văn bản viết, văn bản gốc
Trang 13Văn bản viết bản thân nó là một khái niệm được tạo ra từ rất lâu trước khi
có sự xuất hiện của thương mại điện tử và trong một môi trường không có Internet Điều 12 Luật Giao dịch điện tử quy định: “Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết” Điều này được khẳng định lại tại Điều 8 Nghị định 57: “Chứng từ điện tử có giá trị pháp lý như văn bản nếu thông tin chứa trong chứng từ điện tử đó có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết” Các quy định nói trên hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật mẫu về Thương mại điện
tử về cùng vấn đề Theo đó, Điều 6 Luật mẫu về Thương mại điện tử quy định:
“trong trường hợp pháp luật đòi hỏi thông tin phải thể hiện bằng văn bản viết, thì một thông điệp dữ liệu được coi là thỏa mãn đòi hỏi ấy nếu thông tin hàm chứa trong đó có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này” Điều này một lần nữa được khẳng định lại tại Điều 9 Công ước của Liên Hiệp quốc về việc sử dụng phương tiện điện tử trong Hợp đồng quốc tế
Các quy định này một lần nữa khẳng định sự thừa nhận của pháp luật đối với các giao dịch thực hiện qua các phương tiện điện tử, nâng cáo giá trị pháp lý của các thông tin được trao đổi, lưu giữ qua phương tiện điện tử ngang tầm với thông tin được trao đổi, lưu giữ bằng văn bản viết truyền thống
2.4 Chữ ký điện tử
Trong giao kết hợp đồng điện tử chữ ký điện tử trở thành một nhân tố quan trọng xác nhận sự chấp thuận nội dung của hợp đồng Điều 21 Luật Giao dịch điện tử quy định: “chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lôgíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp
dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Chữ ký được tạo ra bởi các phương tiện điện tử bởi vậy đòi hỏi chữ
ký điện tử phải thỏa mãn các yêu cầu về mặt pháp lý và công nghệ, đáp ứng được