1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THƯƠNG mại điện tử TRONG THƯƠNG mại QUỐC tế

27 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 616,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về đặc điểm, thương mại điện tử có một số đặc điểm cơ bản sau: - Chi phí đầu tư thấp, phù hợp với mọi quy mô doanh nghiệp; - Sử dụng kỹ thuật số trong toàn bộ quá trình giao dịch; - Gia

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Hà Nội – Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 3

II NỘI DUNG 3

1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử trong thương mại quốc tế 3

1.1 Khái quát về thương mại điện tử 3

1.2 Vai trò của thương mại điện tử 5

1.3 Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử trong thương mại quốc tế 6

2 Nội dung cơ bản của luật thương mại điện tử trong thương mại quốc tế 11 2.1 Giao kết hợp đồng 11

2.2 Văn bản viết, văn bản gốc 14

2.3 Chữ ký điện tử 18

2.4 Thuế thương mại điện tử 21

2.5 Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 23

3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử 25 III KẾT LUẬN 27

IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

I MỞ ĐẦU

Với sự phát triển của xã hội và hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng cao thì thương mại điện tử là phương thức giao dịch phổ biến và hiệu quả Đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp như hiện nay thì thương mại điện tử đã trở thành sàn giao dịch lớn và là cứu cánh của nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng Không những vậy, mua bán trên sàn thương mại điện tử xuyên biên giới đang là xu hướng hiện nay Sự phát triển quá nhanh và mạnh mẽ của hoạt động thương mại điện tử đặt ra nhiều thách thức cho hành lang pháp lý về thương mại điện tử quốc tế ở Việt Nam Xuất phát từ lý do đó, em lựa chọn đề tài

“Thương mại điện tử trong thương mại quốc tế” nhằm tìm hiểu các quy định

pháp luật và đưa ra giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật

II NỘI DUNG

1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử trong thương mại quốc

tế

1.1 Khái quát về thương mại điện tử

Về định nghĩa, theo định nghĩa của Ủy ban châu Âu, thương mại điện tử là

việc thực hiện kinh doanh qua các phương tiện điện tử, trong đó có các hoạt động, như mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung

kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện

tử, đấu giá thương mại 1

Theo định nghĩa của Việt Nam: Khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP

quy định: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ

1 Trung Thành, Bài viết (09/03/2015) “Tăng cường quản lý thuế kinh doanh thương mại điện tử”, Báo điện tử Đại

biểu Nhân dân

Trang 4

quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.” Khoản 10 Điều 4 Luật giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.”

Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu thương mại điện tử không chỉ là việc bán hàng trên mạng mà hoạt động kinh doanh này còn bao gồm cả các giao dịch, trao đổi, mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và cả giao hàng Phương tiện điện tử ở đây bao gồm việc sử dụng các phương tiện công nghệ điện tử như truyền hình, mạng điện thoại, mạng di động,

Về đặc điểm, thương mại điện tử có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Chi phí đầu tư thấp, phù hợp với mọi quy mô doanh nghiệp;

- Sử dụng kỹ thuật số trong toàn bộ quá trình giao dịch;

- Giao dịch diễn ra liên tục, không có thời gian trễ;

- Thông tin luôn được cập nhật;

- Tự động hóa trong các giao dịch người với máy;

- Quá trình thanh toán thực hiện bằng điện tử thông qua các ứng dụng của thương mại điện tử;

- Quá trình giao hàng thực hiện bằng điện tử với các mặt hàng được số hóa.2

Về mô hình, có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi phân loại các mô hình kinh

doanh thương mại điện tử, trong đó có 3 mô hình kinh doanh cơ bản:

- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B-to-C): Các

doanh nghiệp bán các hàng hóa vật thể trực tiếp đến từng cá nhân người tiêu dùng cuối cùng

2 Đào Thị Thu Hiền (2008) Luận văn Thạc sĩ Kinh tế - Đại học Kinh tế ĐHQGHN “Hoạt động thương mại điện tử

Trang 5

- Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B-to-B): Các doanh nghiệp bán

buôn thông qua các catalog3 bán hàng trực tuyến cho các doanh nghiệp khác

- Thương mại thông tin (Information commerce): Đây là một lĩnh vực rộng,

bao gồm các doanh nghiệp phân phối trực tuyến các hàng hóa số (sản phẩm và dịch

vụ thông tin) qua mạng; các nhà xuất bản tạp chí trực tuyến, các nhà phân phối trực tuyến các phần mềm máy tính.4

Ngoài 3 mô hình kinh doanh thương mại điện tử cơ bản nêu trên, những loại hình thương mại điện tử khác cũng rất phổ biến như: Giao dịch thương mại giữa người tiêu dùng và người tiêu dùng (C-to-C); Giao dịch doanh nghiệp-doanh

nghiệp- người tiêu dùng (B-to-B-to-C); Giao dịch giữa doanh nghiệp và chính phủ (B-to-G)

1.2 Vai trò của thương mại điện tử

Thương mại điện tử là cầu nối thông minh giúp trao đổi thông tin, sản phẩm

dễ dàng giữa người mua và người bán mọi lúc mọi nơi Nhờ có thương mại điện tử

mà nhu cầu mua sắm và trao đổi hàng hóa tăng trưởng nhanh và rất nhanh Thông qua các kênh điện tử người tiêu dùng có thể tham khảo và đặt hàng ngay tại nhà, phù hợp với những người bận rộn không có thời gian đi mua sắm trực tiếp

Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đã có sự tác động mạnh mẽ tới toàn bộ các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Bất kì ở lĩnh vực nào cũng cần có sự trao đổi, giao dịch và hợp tác, thương mại điện tử rút ngắn khoảng cách, tiết kiệm chi phí, sức lực và nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực Bối cảnh dịch covid 19 diễn ra càng thể hiện vai trò không thể thiếu của

thương mại điện tử đối với đời sống xã hội Thế giới phải buộc phải chấp nhận

3 Catalog là một ấn phẩm quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của công ty đến khách hàng

4 Nguyễn Văn Minh, Trần Hoài Nam (2002), Giao dịch thương mại điện tử: một số vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Tr.90

Trang 6

trạng thái “bình thường mới”, áp dụng triệt để những tiến bộ của thương mại điện

tử vào quy trình hoạt động và quản trị tổ chức

1.3 Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử trong thương mại quốc tế

1.3.1 Pháp luật quốc tế

Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996

Việc nghiên cứu về những vấn đề pháp lí liên quan đến thương mại quốc tế và thương mại điện tử sẽ là không hoàn chỉnh, nếu không biết đến những công trình của UNCITRAL Một Luật mẫu đã được UNCITRAL soạn thảo vào năm 1996, trong bối cảnh chưa có những quy định thống nhất của pháp luật các nước trên toàn thế giới, trong đó một phần lớn liên quan đến vấn đề sử dụng kĩ thuật liên lạc hiện đại Cùng với Luật mẫu này, một văn bản hướng dẫn đi kèm cũng được ban hành trong cùng năm Mục đích của Luật mẫu này, bao gồm cả việc cho phép và tạo thuận lợi cho việc sử dụng thương mại điện tử, đồng thời đối xử bình đẳng giữa người sử dụng tài liệu bằng giấy tờ và người sử dụng dữ liệu qua máy tính, nhằm thúc đẩy nền kinh tế và tính hiệu quả trong thương mại quốc tế Luật mẫu này áp dụng với tất cả các loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu được sử dụng trong hoạt động thương mại Các nước có thể giới hạn phạm vi của thông điệp dữ liệu liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, trong văn bản hướng dẫn nêu khuyến nghị rằng Luật mẫu có thể được áp dụng càng rộng rãi càng tốt, khi mà mục đích của nó là thúc đẩy tính chắc chắn của pháp luật Ví dụ, rất nhiều thủ tục, được điều chỉnh bởi Luật mẫu (từ Điều 6 đến Điều 8), có thể cho phép giới hạn việc sử dụng thông điệp dữ liệu, nếu cần thiết

Dựa vào Luật mẫu, nhiều nước thành viên của Liên hợp quốc đã ban hành văn bản pháp luật nước mình, với ý nghĩa là luật ‘khung’ về thương mại điện tử

Trang 7

Kết cấu của Luật mẫu được chia làm hai phần với 17 điều khoản, phần thứ nhất đề cập đến thương mại điện tử nói chung, và phần còn lại đề cập đến thương mại điện tử trong một số hoạt động cụ thể, bao gồm:

- Phần I với ba chương: Chương I đề cập các nguyên tắc chung với 4 điều khoản về phạm vi áp dụng, giải thích từ ngữ có liên quan, giải thích luật và các trường hợp ngoại lệ theo thoả thuận của các bên Chương II quy định các điều kiện luật định đối với thông điệp dữ liệu, với 6 điều khoản (từ Điều 5 đến Điều 10) công nhận giá trị pháp lí của thông điệp dữ liệu; về văn bản; chữ kí; bản gốc của thông điệp dữ liệu; tính xác thực và khả năng được chấp nhận của thông điệp dữ liệu Chương III (từ Điều 11 đến Điều 15) đề cập đến thông tin liên lạc bằng thông điệp

dữ liệu, ví dụ: giá trị pháp lí của thông điệp

- Phần II bao gồm một chương với Điều 16 và Điều 17 liên quan đến một số hoạt động cụ thể, bao gồm vấn đề hợp đồng vận tải hàng hoá và chứng từ vận tải Cần lưu ý một số nội dung quan trọng sau đây của Luật mẫu:

- Khẳng định giá trị pháp lí của thông điệp dữ liệu, vì vậy nó đã loại bỏ và giải quyết được những rào cản từ những quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật của các nước, về yêu cầu thông tin phải được thể hiện hoặc lưu giữ dưới dạng bản gốc của nó: là văn bản - Khẳng định rằng thông điệp dữ liệu thoả mãn những yêu cầu của một văn bản

- Về chữ kí điện tử (Điều 7), Luật đã khẳng định là nó có giá trị tương đương với chữ kí truyền thống, nếu nó đáp ứng những yêu cầu tại các khoản 1(a) và 1(b) Điều 7.110 Hơn nữa, chữ kí điện tử không chỉ sử dụng nhằm mục đích nhận dạng

mà còn để mã hoá một tài liệu Ngoài ra, để hỗ trợ cho giá trị pháp lí của thông điệp dữ liệu, Điều 8 và Điều 9 quy định không được từ chối bản gốc; chấp nhận và bằng chứng của thông điệp dữ liệu

Trang 8

- Điều 11 quy định công nhận việc giao kết và giá trị của hợp đồng điện tử: Trong bối cảnh giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, chào hàng và chấp nhận chào hàng được phép thể hiện bằng phương tiện thông điệp dữ liệu Khi một thông diệp dữ liệu được sử dụng trong việc giao kết hợp đồng, thì giá trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với lí do rằng đã sử dụng một thông điệp dữ liệu vào mục đích ấy

Mặc dù không thể bao quát hết tất cả khía cạnh của hợp đồng, nhưng Điều 11 này là nền tảng pháp lí cho những giao dịch kinh doanh quốc tế được thiết lập bởi thương mại điện tử, và không phải lo ngại rằng hiệu lực pháp lí và giá trị của giao dịch này sẽ bị phủ nhận, chỉ bởi vì nó được sử dụng hoàn toàn trong môi trường thông điệp (Điều 12)

- Sự điều chỉnh về thời gian và địa điểm của việc gửi/nhận thông điệp có thể làm chấm dứt sự xung đột giữa nguyên tắc ‘tống phát’ trong hệ thống luật common law với các hệ thống pháp luật khác Gửi một thông điệp dữ liệu, nghĩa là khi thông điệp ấy bước vào một hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo, và thời điểm nhận được thông điệp dữ liệu được xác định khi thông điệp

dữ liệu đó vào hệ thống thông tin của người nhận

- Trong Phần II, Luật mẫu cung cấp khuôn khổ pháp lí cho giao dịch vận tải hàng hoá sử dụng chứng từ vận tải điện tử, như vận đơn hàng không, vận đơn đường biển, chứng từ vận tải đa phương thức và thuê tàu chuyến, vì vậy nó không chỉ áp dụng trong lĩnh vực hàng hải mà còn các lĩnh vực vận tải khác

Tất cả các nội dung nói trên đã khẳng định giá trị pháp lí của thông điệp dữ liệu, hợp đồng điện tử và chữ kí điện tử Đó là khẳng định mang tính chất nền tảng cho việc công nhận và sử dụng thương mại điện tử Mặc dù Luật mẫu không có giá trị pháp lí như điều ước, và có lẽ nó không dẫn tới sự thống nhất luật, nhưng nó là

Trang 9

tài liệu có giá trị để UNCITRAL và các nước tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và ban hành các văn bản pháp lí khác về thương mại điện tử

1.3.2 Pháp luật Việt Nam

1 Luật giao dịch điện tử

Luật Giao dịch điện tử được thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006 Phạm vi điều chỉnh của luật khá rộng: Giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và giao dịch điện tử trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại

Luật này bao gồm nhiều các quy định về:

- Thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử

- Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử

- An ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử

- Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử

Luật Giao dịch điện tử ghi nhận nguyên tắc giao dịch điện tử: Tự nguyện, được tự thoả thuận về việc lựa chọn công nghệ để thực hiện giao dịch, trung lập về công nghệ, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn

Điều đáng lưu ý là chữ ký điện tử là một nội dung được đề cập đến trong Luật Giao dịch điện tử Luật công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, quy định nghĩa vụ của bên ký, bên chấp nhận chữ ký và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử

2 Luật thương mại

Luật Thương mại năm 2005 là cơ sở quan trọng đối với các hoạt động thương mại, bao gồm Thương mại điện tử

Trang 10

Luật này quy định: Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản Ngoài ra, việc trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ trên Internet cũng được coi là một hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

3 Bộ luật dân sự

Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Hình thức giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản Đối với các trường hợp giao kết hợp đồng, sửa đổi hợp đồng, thực hiện hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng: Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Địa điểm giao kết hợp

đồng dân sự do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng Những khái niệm quan trọng này được tính đến khi giao kết và thực hiện hợp đồng qua mạng internet

4 Luật Hải quan

Luật Hải quan năm 2014 bổ sung một số quy định như trình tự khai hải quan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hải quan điện tử, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử

5 Luật sở hữu trí tuệ

Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2019 đánh dấu mốc quan trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Trong luật này có một số điều khoản liên quan đến thương mại điện tử, như các quy định về; Hành vi xâm phạm quyền tác giả, xâm phạm quyền liên quan trong môi trường điện tử (cố ý huỷ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình

Trang 11

thức điện tử có trong tác phẩm hoặc dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan) Tuy không có quy định cụ thể nào liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng các nguyên tắc trong Luật Sở hữu trí tuệ vẫn có thể được áp dụng đối với lĩnh vực thương mại điện tử

6 Một số văn bản pháp luật khác

Ngoài các Luật Thương mại, Luật Giao dịch điện tử và Bộ luật Dân sự, còn

có một số văn bản quan trọng khác cũng cần nhắc đến thương mại điện tử như :

- Luật Công nghệ thông tin năm 2006

- Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

- Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định hướng dẫn về giá trị pháp lý của chữ

Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” Như vậy , trong giao kết

hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua các phương tiện điện

tử thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu

Trang 12

Các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng điện tử hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử Điều 11 Luật

mẫu về Thương mại điện tử quy định : “Trong giai đoạn hình thành hợp đồng , các bên có thể sử dụng hình thức thông tin số để gửi và nhận đề nghị giao kết hợp đồng , trừ trường hợp có thoả thuận khác Khi sử dụng hình thức thông tin số trong giai đoạn hình thành hợp đồng , thì không thể bác bỏ giá trị pháp lý hay hiệu lực thi hành của bản tin số đó chỉ với lý do duy nhất đó là một bản tin số" Điều 34 Luật Giao dịch điện tử cũng quy định: “Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử

không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.”

Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định và thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử , tuy không để cập trực tiếp tới các

trường hợp không được sử dụng hình thức hợp đồng điện tử nhưng ngay tại Điều 1

Luật Giao dịch điện tử đã khẳng định: “Các quy định của Luật này không áp dụng đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà và các bất động sản khác, văn bản về thừa kế , giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai sinh, giấy khai tử, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác”

Theo quy định tại Luật Thống nhất về Giao dịch điện tử của Hoa Kỳ, hợp đồng điện tử không được áp dụng đối với các loại hình giao dịch: di chúc, các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thống nhất về giao dịch thông tin trên máy tính và các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật thương mại thống nhất Như vậy, có thể thấy rằng theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, giao dịch điện tử không được áp dụng đối với việc lập di chúc

Về việc giao kết hợp đồng điện tử Điều 36 Luật giao dịch điện tử năm 2005 quy định:

Trang 13

“1 Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng

2 Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu.”

Về thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng Điều 399 Bộ luật Dân sự năm

2015 quy định về địa điểm giao kết hợp đồng: “Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.”

Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng:

“1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết

2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó

3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.”

Công ước của Liên hợp quốc về việc sử dụng phương tiện điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005 cũng không quy định cụ thể về thời điểm nào được coi là thời điểm giao kết hợp đồng điện tử Trong Pháp luật Việt Nam, Luật giao dịch điện tử 2005 cũng không có quy định cụ thể về thời điểm và địa điểm giao kết hợp

Ngày đăng: 23/01/2022, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trung Thành, Bài viết (09/03/2015) “Tăng cường quản lý thuế kinh doanh thương mại điện tử”, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tăng cường quản lý thuế kinh doanh thương mại điện tử”
2. Đào Thị Thu Hiền (2008), “Hoạt động thương mại điện tử của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế - Đại học Kinh tế ĐHQGHN, Tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoạt động thương mại điện tử của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập”
Tác giả: Đào Thị Thu Hiền
Năm: 2008
3. Nguyễn Văn Minh, Trần Hoài Nam (2002), Giao dịch thương mại điện tử: một số vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Tr.90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch thương mại điện tử: "một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Minh, Trần Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, 2005, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
5. Ths.LS Lê Văn Sua, Bài viết “Pháp luật về thương mại điện tử, một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về thương mại điện tử, một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
6. Hà Lan Anh (2008), “Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế”
Tác giả: Hà Lan Anh
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w