1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác dụng hạ men gan của viên nang DR trên mô hình chuột gây tổn thương bằng ethanol

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, xu hướng điều trị bệnh gan do rượu trên thế giới là sử dụng các bài thuốc Đông y có thành phần tự nhiên an toàn và giảm tác dụng phụ. Bài viết trình bày đánh giá tác dụng bảo vệ của viên nang DR trên mô hình chuột nhắt gây tổn thương gan bằng ethanol.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG HẠ MEN GAN CỦA VIÊN NANG DR

TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT GÂY TỔN THƯỜNG BẰNG ETHANOL

Trần Thị Thanh Loan * , Nguyễn Phương Dung **

TÓM TẮT

Mở đầu: Hiện nay, xu hướng điều trị bệnh gan do rượu trên thế giới là sử dụng các bài thuốc Đông y có

thành phần tự nhiên an toàn và giảm tác dụng phụ

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng bảo vệ của viên nang DR trên mô hình chuột nhắt gây tổn thương gan bằng

ethanol

Đối tượng và phương pháp: Viên nang DR gồm Diệp hạ châu (Phyllanthus amarus Schumach & Thonn)

và Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth) Viên nang DR được sản xuất từ hai loại cao khô của loại dược liệu

trên Chuột uống ethanol liều 2,4 g/kg/ngày trong 4 tuần và ethanol liều 4 g/kg/ngày trong 4 tuần tiếp theo Tình

trạng tổn thương gan được khảo sát với nồng độ AST, ALT, GGT huyết thanh

Kết quả: Kết quả cho thấy viên nang DR liều 2 viên/kg và 4 viên/kg giúp cải thiện nồng độ AST, ALT, GGT

huyết thanh

Kết luận: Viên nang DR có khả năng bảo vệ gan dưới tác dụng của rượu

Từ khóa: Viên nang DR, men gan, ALT, AST.

ABSTRACT

EVALUATING THE LOWER SERUM LIVER ENZYMES LEVELS OF DR CAPSULES IN WHITE MICE

OF ALCOHOLIC LIVER INJURY

Tran Thi Thanh Loan, Nguyen Phuong Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 6 - 2021: 243 - 251

Background: Nowadays, the trend of treating alcoholic liver disease in the world is to use oriental medicine

with safe natural ingredients and reduce side effects

Objectives: Therefore, we study the protective effect of DR capsule on the ethanol-induced liver damage

mouse model

Materials and Methods: DR Capsule subjects include Phyllanthus amarus Schumach & Thonn and

Orthosiphon stamineus Benth DR capsules are produced from dried extracts of the above medicinal herbs Mouse were treated with ethanol dose of 2.4 g/kg/day for 4 weeks followed by an increase dose to 4 g/kg/day for the next 4 weeks To assess the damage to liver, we investigated the AST, ALT, GGT levels

Result: The results showed that DR capsules with doses of 2 tablets/kg and 4 capsules/kg improved serum

AST, ALT, and GGT levels

Conclusion: DR capsules have the ability to protect the liver under the effects of alcohol

Keywords: DR capsules, liver enzymes, ALT, AST

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Uống rượu quá mức hoặc mạn tính gây ra

các vấn đề về sức khỏe Bệnh gan do rượu là một

vấn đề sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân

chính gây xơ gan trên toàn cầu Bệnh gan do

rượu liên quan chủ yếu đến quá trình chuyển

hóa ethanol trong cơ thể Chuyển hóa ethanol

trong gan sinh ra các chất độc cho tế bào, tích lũy

các sản phẩm oxy hóa và peroxid hóa lipid Bệnh

gan do rượu bao gồm các tình trạng từ gan

nhiễm mỡ do rượu đến viêm gan nhiễm mỡ, xơ

hóa và xơ gan nhờ sử dụng các xét nghiệm men

gan như: Alanine Aminotransferase (ALT),

Aspartate Aminotransferase (AST),

Gamma-glutamyl transferase (GGT), Alkaline

Phosphatase (ALP) Xu hướng hiện nay là phát

triển, sử dụng thuốc từ dược liệu giúp bảo vệ

gan, kiểm soát và điều trị kịp thời nhờ ưu điểm

có thể sử dụng lâu dài, tính an toàn cao và giảm

tác dụng phụ (1)

Viên nang DR có thành phần dược liệu bao

gồm Diệp Hạ Châu và Râu mèo Các nghiên cứu

trước đây đã chứng minh Diệp Hạ Châu – Râu

mèo chứng minh có tác dụng chống oxy hóa, hạ

acid uric và lợi tiểu trên mô hình động vật thực

nghiệm(2) Từ những cơ sở trên, nhóm nghiên

cứu tiến hành thực hiện nghiên cứu với mục tiêu

đánh giá tác dụng của viên nang DR trong điều

trị bệnh gan do rượu trên mô hình thực nghiệm

PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Phương tiện nghiên cứu

Viên nang DR được sản xuất bởi công ty BV

Pharma chứa: 180 mg cao khô Diệp hạ châu và

120 mg cao khô Râu mèo

Động vật thử nghiệm

Chuột nhắt trắng đực (chủng Swiss albino,

5-6 tuần tuổi, trọng lượng trung bình 24 g ± 2 g) được cung cấp bởi Viện Vắc - xin và sinh phẩm y

tế Nha Trang, nuôi trong điều kiện ổn định về chế độ dinh dưỡng Chuột được nuôi ổn định 1

tuần trước thử nghiệm

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế thực nghiệm

Nghiên cứu tác dụng hạ men gan trên chuột nhắt trắng gây độc bằng ethanol

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ thí nghiệm (Hình 1) theo 2 giai đoạn Liều viên nang

DR được chọn là 2 viên/kg và 4 viên/kg(3) Chuột được nuôi ổn định 1 tuần trước khi tiến hành thử nghiệm Chia ngẫu nhiên chuột thử nghiệm thành 5 lô (n=10)

Khảo sát sự thay đổi thể trọng chuột

Tiến hành ghi nhận trọng lượng từ ngày bắt đầu đến ngày kết thúc thử nghiệm Khảo sát được sự thay đổi trong lượng chuột trong quá trình thử nghiệm để biết đánh giá tình trang sức khỏe và tính ổn định của mô hình thực nghiệm Đơn vị tính theo gam (g)

Khảo sát sự thay đổi thể trọng chuột

Tiến hành cân và đo kích thước gan của các nhóm thử nghiệm sau khi giải phẫu Khảo sát sự thay đổi trọng lượng, kích thước gan giữa các lô để đánh giá tác động của ethanol cũng như thuốc điều trị lên chuột nhắt trắng sau 8 tuần thử nghiệm

Trang 3

Hình 1 Sơ đồ thí nghiệm

Phương pháp xác định hàm lượng AST, ALT,

GGT

Nguyên tắc

Để kiểm tra hiệu quả bảo vệ của viên nang

DR và độc tính của ethanol lên gan, hoạt động

của AST, ALT, GGT được xác định bằng bộ

dụng cụ đo quang phổ thương mại (Human,

Đức) Tất cả các bước đều được thực hiện theo

đúng hướng dẫn và sau đó độ hấp thụ được đo

bằng máy Humalyzer 2000 ở bước sóng 340nm

Kết quả được ghi nhận và phân tích

Tính liều thử nghiệm

Được tính toán dựa trên liều dự kiến sử

dụng trên người là mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi

lần uống 2 viên, trung bình là 5 viên cho 60 kg

thể trọng/ngày (tính theo thể trọng trung bình

- Liều bột viên tính theo kg thể trọng: 510

mg x 5 viên / 60 kg = 42,5 mg /kg thể trọng

- Liều có hiệu quả tương đương trên chuột nhắt trắng: 42,5 mg/kg x 11,76 (*hệ số ngoại suy quy đổi từ liều của người sang chuột nhắt trắng)

= 499,8 mg/kg Chúng tôi chọn liều 510 mg/kg, tương đương với 1 viên/kg

Phương pháp xử lý thống kê số liệu thực nghiệm

Các kết quả được định dạng số trung bình

± độ lệch chuẩn (Mean ± SD) Việc xử lý thống

kê trong đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics 20) So sánh kết quả thống kê được thực hiện bằng phân tích phương sai (One-Way ANOVA) để kiểm tra

sự thay đổi giữa các nhóm riêng lẻ Sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p <

Trang 4

KẾT QUẢ

Khảo sát trọng lƣợng cơ thể chuột

Trọng lượng chuột nhắt trước khi tiến hành

thử nghiệm khác nhau không đáng kể vì vậy

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau 4 tuần, trọng lượng chuột trong lô chứng sinh lý tăng cao hơn so với chuột các lô còn lại được sử dụng ethanol liều 2,4 g/kg/ngày

Bảng 1 Sự thay đổi trọng lượng cơ thể trong quá trình thử nghiệm

ml/10g)

Trọng lượng cơ thể (g)

3 Silymarin 50 mg/kg 27,35 ± 1,29 33,11 ± 3,77 43,83 ± 4,38#@

Ghi chú: *: p < 0,05 so với lô Nước cất, # : p < 0,05 so với lô Ethanol @ : p < 0,01 so với Trước thử nghiệm

Tuy nhiên, khác biệt về cân nặng sau 4 tuần

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Sau 8 tuần

thử nghiệm, trọng lượng chuột ở tất cả các lô

tăng có ý nghĩa thống kê so với trọng lượng

trước khi thử nghiệm (p < 0,01) Trong đó, chuột

trong nhóm chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất) và

nhóm điều trị thuốc (Lô 3: Silymarin, lô 4: DR 2

viên/kg, lô 5: DR 4 viên/kg) có trọng lượng tăng

liên tục trong khi đó chuột tiếp xúc với ethanol

kéo dài (Lô 2: Ethanol) có trọng lượng cơ thể

thấp hơn Trọng lượng chuột ở lô 2 (Ethanol)

giảm có ý nghĩa thống kê so với các lô còn lại (p <

0,05) Kết quả khảo sát trọng lượng cho thấy việc

bổ sung thuốc điều trị Silymarin và viên nang

DR có khả năng cải thiện cân nặng so với lô chứng gây bệnh chỉ uống ethanol trong 8 tuần thử nghiệm

Phân suất tử vong

Sau 8 tuần thử nghiệm, lô 1 chuột đối chứng (Nước cất, n = 10) không ghi nhận chuột chết Phân suất tử vong ở lô 2 (Ethanol) chỉ uống ethanol liên tục có phân suất tử vong cao nhất (40% so với số chuột ban đầu) Các lô có sự bổ sung thuốc điều trị (Silymarin và viên nang DR) giúp cải thiện khả năng sống của chuột trong quá trình thử nghiệm

Bảng 2 Phân suất tử vong của chuột sau 8 tuần thử nghiệm

(V = 0,1 ml/10g)

Ban đầu

n

4 tuần

n

8 tuần

n

Phân suất tử vong (%)

Trọng lƣợng mô gan

Trong lượng gan sau 8 tuần thử nghiệm, ở

lô 2 (Ethanol) thấp hơn 0,94 g so với lô chứng

sinh lý và có ý nghĩa thống (p < 0,01) Ở các lô

được điều trị thuốc cho thấy cải thiện trọng

lượng gan và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <

0,01) Trọng lượng gan tương đối được tính bằng

trọng lượng gan trên trọng lượng cơ thể, ở lô gây bệnh trọng lượng gan tương đối giảm 5,78 % so với lô chứng sinh lý, cũng thấp hơn so với các lô còn lại, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết quả cho thấy viên nang

DR với liều 2 viên/kg, 4 viên/kg làm tăng trọng lượng gan tương ứng với lô Silymarin và khác biệt có ý nghĩa với lô gây bệnh Đặc biệt, viên

Trang 5

nang DR 4 viên/kg làm tăng đáng kể trọng lượng gan tương đối so với lô chứng gây bệnh

Bảng 3 Trọng lượng gan sau 8 tuần thử nghiệm

Ghi chú: **: p < 0,01 so với lô Nước cất , ## : p < 0,01 so với lô Ethanol

Kích thước mô gan

Bảng 4 Kích thước gan chuột sau 8 tuần thử nghiệm

Dù không có ý nghĩa thống kê sau 8 tuần

thử nghiệm, chiều dài và chiều rộng gan chuột ở

lô gây bệnh giảm khoảng 0,3 cm so với lô chứng

sinh lý Đồng thời các lô được điều trị thuốc đều cải thiện kích thước gan nhưng khác biệt không

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Kết quả khảo sát hàm lượng GGT, AST, ALT huyết thanh

Kết quả hàm lượng GGT

Trước khi tiến hành thử nghiệm chuột có nồng độ GGT không có sự khác biệt nhau (p > 0,05)

Bảng 5 Kết quả khảo sát hàm lượng GGT (U/L) trong quá trình thử nghiệm

(thể tích 0,1 ml/10g)

Trước thử

Ghi chú: *: p < 0,05 so với lô Nước cất

Tuần 4

Chuột lô chuột được uống ethanol liều 2,4

g/kg/ngày có nồng độ GGT tăng cao đáng kể so

với chứng sinh lý (p < 0,05) Điều này chứng tỏ

việc gây độc bằng ethanol liều 2,4 g/kg/ngày làm

tổn thương tế bào gan làm cho nồng độ GGT

tăng lên sau 4 tuần thử nghiệm

Tuần 6, 8

Nồng độ GGT ở chuột trong lô 3 (Silymarin)

và lô 5 (DR 4 viên/kg) giảm dần sau 6 và 8 tuần

Trong đó, lô 4 (DR 2 viên/kg) sau 6 tuần có nồng

độ GGT giảm và tăng nhẹ sau 2 tuần tiếp theo Tuy nhiên, khác biệt về nồng độ GGT ở cả 6 và 8 tuần không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Kết quả men GGT sau 6 và 8 tuần cho thấy men GGT của lô gây bệnh (Ethanol) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất)

Kết quả hàm lượng AST

Trước thử nghiệm, men AST ở các lô không

có sự khác biệt đáng kể và không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trang 6

(V = 0,1 ml/10g)

2 Ethanol 48,75 ± 4,8 75,37 ± 6,73** 85,87 ± 32,92** 98,17 ± 32,38**

3 Silymarin 50 mg/kg 46,27 ± 7,64 78,01 ± 9,81** 54,2 ± 5,02# 52,01 ± 6,56##

4 DR 2 viên/kg 51,02 ± 5,82 73,16 ± 17,09** 58,6 ± 15,01# 55,2 ± 18,34 ##

5 DR 4 viên/kg 53,17 ± 5,34 76,46 ± 16,91** 59,24 ± 9,73# 59,94 ± 11,36##

*: p < 0,05 so với lô Nước cất, **: p < 0,01 so với lô Nước cất

# : p < 0,05 so với lô Ethanol , ## : p < 0,01 so với lô Ethanol

Tuần 4

Chuột lô được uống ethanol liều 2,4

g/kg/ngày có nồng độ AST tăng cao đáng kể so

với chứng sinh lý Cho thấy với việc sử dụng

ethanol liều 2,4 g/kg/ngày làm men AST tăng cao

và có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)

Tuần 6

Ở tuần 6, sau 2 tuần uống liều ethanol 4

g/kg/ngày thì lô 2 (Ethanol) có nồng độ AST

huyết thanh trung bình tăng so với tuần 4 nhưng

không có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, lô

chứng gây bệnh (Lô 2: Ethanol) có men AST cao

gấp 1,74 lần so với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước

cất) (p < 0,01) và tăng 14% so với tuần 4

Chuột trong lô 3 (Silymarin) và lô 5 (DR 4

viên/kg) sau 2 tuần bổ sung thuốc điều trị có

nồng độ AST giảm lần lượt là 30,5% và 22,5% so

với tại thời điểm điều trị tuần 4 (p < 0,05) Lô 4

(DR 2 viên/kg) giúp làm giảm 19,9% nồng độ

AST nhưng không có ý nghĩa thống kê so với

tuần 4 Đồng thời, các lô trên cũng làm hạ men

AST so với lô chứng gây bênh (Lô 2: Ethanol) (p

< 0,05) và đưa nồng độ AST về gần mức tương

đương với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất) khác

biệt không có ý nghĩa thống kê

Lô 3 (Silymarin) có xu hướng làm hạ men

AST tốt hơn so với lô 4 (DR 2 viên/kg) và lô 5

(DR 4 viên/kg) nhưng sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê

Tuần 8

Ở tuần 8, sau 4 tuần uống liều ethanol 4 g/kg/ngày thì lô 2 (Ethanol) có men AST tăng 14,32% so với tuần 6 nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, lô 2 (Ethanol) cũng

có men AST cao hơn 2,04 lần so với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất) (p < 0,01)

Ở lô 3 (Silymarin), lô 4 (DR 2 viên/kg) có nồng độ AST giảm đáng kể so với tuần 4 (p < 0,05) và thấp hơn không có ý nghĩa thống kê

so với tuần 6 Đồng thời, lô 3 (Silymarin) và

lô 4 (DR 2 viên/kg) có AST thấp hơn 47,02%

và 43,77% so với lô gây bệnh (Lô 2: Ethanol) (p < 0,01) Đối với lô 5 (DR 4 viên/kg) so với tuần 6, men AST có xu hướng tăng nhẹ không đáng kể (p > 0,05) nhưng vẫn thấp hơn

so với tại tuần 4 và so với lô chứng gây bệnh (Lô 2: Ethanol) (p < 0,05)

Như vậy, chuột được sử dụng ethanol liên tục cho thấy sự gia tăng đáng kể hoạt động AST huyết thanh so với chuột đối chứng Kết quả nồng độ men AST tuần 4, tuần 6 và tuần 8

ở lô 2 (Ethanol) chứng minh tạo thành công

mô hình gan bị tổn thương bởi ethanol làm cho nồng độ AST tăng kéo dài Kết quả cũng cho thấy viên nang DR có khả năng cải thiện

sự tăng men gan AST sau 4 tuần điều trị bổ sung dù cùng lúc sử dụng ethanol liều 4 g/kg/ngày Tác dụng này tương đương với tác dụng của Silymarin liều 50 mg/kg

Trang 7

Kết quả hàm lƣợng ALT

Bảng 7 Kết quả khảo sát hàm lượng ALT (U/L) trong quá trình thử nghiệm

3 Silymarin 50 mg/kg 28 ± 4,37 48,17 ± 16,22* 38,56 ± 4,26 34,74 ± 7,13 ##

4 DR 2 viên/kg 33,4 ± 1,99 45,74 ± 11,27* 41,86 ± 7,17* 37,71 ± 10,59 ##

5 DR 4 viên/kg 30,8 ± 6,47 46,93 ± 12,63* 42,96 ± 7,02* 33,37 ± 5,09 ##

Ghi chú: *: p < 0,05 so với lô Nước cất, **: p < 0,01 so với lô Nước cất ## : p < 0,01 so với lô Ethanol

Trước thử nghiệm, men ALT ở các lô không

có sự khác biệt đáng kể và không có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05)

Tuần 4

Chuột lô được uống ethanol liều 2,4

g/kg/ngày có nồng độ ALT tăng cao đáng kể so

với chứng sinh lý (p <0,05) Cho thấy với việc sử

dụng ethanol liều 2,4 g/kg/ngày làm men ALT

tăng cao

Tuần 6

Ở tuần 6, sau 2 tuần uống liều ethanol 4

g/kg/ngày thì lô chứng gây bệnh (Lô 2:

Ethanol) có nồng độ ALT huyết thanh tăng

9,62% so với tuần 4 nhưng không có ý nghĩa

thống kê Bên cạnh đó, lô 2 (Ethanol) có men

ALT cao gấp 1,69 lần so với lô chứng sinh lý

(Lô 1: Nước cất) (p < 0,01)

Chuột trong lô 3 (Silymarin), lô 4 (DR 2

viên/kg) và lô 5 (DR 4 viên/kg) sau 2 tuần bổ

sung thuốc điều trị có nồng độ ALT giảm lần

lượt là 19,95%, 8,48% và 8,46% so với tại thời

điểm điều trị tuần 4 (p > 0,05)

Lô 4 (DR 2 viên/kg) và lô 5 (DR 4 viên/kg) có

nồng độ ALT giảm so với lô chứng gây bệnh (Lô

2: Ethanol) nhưng không có ý nghĩa thống kê và

men ALT so với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất)

có sự khác biệt (p < 0,05)

Lô 3 (Silymarin) có xu hướng làm hạ men

ALT tốt hơn so với lô 4 (DR 2 viên/kg) và lô 5

Tuần 8

Ở tuần 8, sau 4 tuần uống liều ethanol 4 g/kg/ngày thì lô 2 (Ethanol) có men ALT tăng 3,57 % so với tuần 6 nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, lô 2 (Ethanol) cũng

có men ALT cao hơn 1,77 lần so với lô chứng sinh lý (Lô 1: Nước cất) (p < 0,01)

Ở lô 3 (Silymarin), lô 4 (DR 2 viên/kg) có nồng độ ALT giảm không đáng kể và thấp hơn không có ý nghĩa thống kê so với tuần 6 Riêng lô 5 (DR 4 viên/kg) có men ALT giảm đáng kể so với tuần 6 (p < 0,05) Tuy nhiên, lô

3 (Silymarin), lô 4 (DR 2 viên/kg) và lô 5 (DR 4 viên/kg) đều có men ALT giảm lần lượt 34,57%, 28,98% và 37,16% so với lô gây bệnh (Lô 2: Ethanol) (p < 0,01)

Như vậy, kết quả nồng độ ALT sau 8 tuần

sử dụng liên tục ethanol cho thấy sự gia tăng hoạt động ALT huyết thanh đáng kể so với chuột đối chứng sinh lý uống nước cất Điều này chứng minh tạo thành công mô hình gan bị tổn thương bởi ethanol làm cho nồng độ ALT tăng kéo dài Kết quả cũng cho thấy viên nang DR có khả năng cải thiện sự tăng men gan ALT sau 4 tuần điều trị bổ sung dù cùng lúc sử dụng ethanol liều 4 g/kg/ngày Tác dụng này tương đương với tác dụng của Silymarin liều 50 mg/kg

BÀN LUẬN Tác dụng lên thể trọng, phân suất tử vong,

Trang 8

đáng kể về trọng lượng cơ thể ở các nhóm thí

nghiệm, ngoại trừ lô chuột gây bệnh cho thấy

trọng lượng cơ thể giảm mạnh (p < 0,05) Kết quả

này cho thấy chuột được tiêu thụ rượu mạn tính

có trọng lượng cơ thể giảm sau 8 tuần điều trị

Trọng lượng gan tương đối được ghi nhận

để cung cấp một cách chính xác hơn chứng minh

sự thay đổi kích thước gan so với chỉ đo trọng

lượng gan đơn thuần, vì trọng lượng gan phụ

thuộc chủ yếu vào trọng lượng cơ thể của

chuột(3) Trọng lượng gan tương đối của chuột lô

gây bệnh giảm đáng kể so với các lô thí nghiệm

còn lại

Trên mô hình nghiên cứu tác dụng bảo vệ

gan của viên nang DR trên chuột nhắt trắng tổn

thương gan bằng ethanol sau 8 tuần cho thấy

trọng lượng cơ thể, trọng lượng gan và phân

suất tử vong của chuột được điều trị thuốc cải

thiện hơn so với chuột gây bệnh Trong đó, viên

nang DR ở liều 2 viên/kg và 4 viên/kg cho kết

quả cải thiện trọng lượng cơ thể và trọng lượng

mô gan

Tác dụng hạ men gan của viên nang DR

Mô hình sử dụng ethanol mạn tính làm tác

nhân gây tổn thương gan trên chuột Gan là cơ

quan chuyển hóa rượu chính trong cơ thể, tuy

nhiên khi sử dụng rượu nhiều và lâu dài dẫn

đến lượng acetadehyde không được chuyển hóa

hết là tác nhân gây độc trực tiếp cho gan do gắn

vào màng tế bào và kích thích các yếu tố gây

viêm Sử dụng rượu kéo dai dẫn đến các tổn

thương gan như gan nhiễm mỡ, viêm gan do

rượu và xơ gan Khi tế bào gan bị tổn thương

dẫn đến các men AST, ALT, GGT đi vào máu

làm nồng độ của chúng trong huyết thanh tăng

lên, vì vậy kiểm tra sinh hóa máu là cần thiết để

nhận diện sự tổn thương gan

Trong các dấu ấn sinh học thì AST, ALT

được coi là chỉ số về tác dụng gây độc cho gan

Trong nghiên cứu, chuột được gây tổn thương

gan bằng ethanol làm tăng men gan AST, ALT

Nhóm chuột đối chứng sinh lý sau 8 tuần có

men gan AST, ALT lần lượt là 48,09 ± 11,66 U/L, 30,05 ± 4,77 U/L So sánh với tác giả Rong và cs(4)

cũng sử dụng mô hình tương tự nhưng thời gian

là 6 tuần (4 tuần đầu: ethanol liều 2 g/kg/ngày, 2 tuần tiếp theo: ethanol liều 4 g/kg/ngày) cho kết qua men gan 56,97 ± 5,05 U/L (AST), 31,85 ± 3,78 U/L (ALT) So sánh với nghiên cứu trước đây của tác giả Vũ Thị Ly Na (2014)(3) có men AST, ALT lần lượt 49,89 ± 13,8 U/L, 52 ± 4,8 U/L Nhóm chuột đối chứng bệnh lý sau 8 tuần uống ethanol làm tăng nồng độ ALT, AST huyết thanh kéo dài So sánh với nghiên cứu trước đây của tác giả Vũ Thị Ly Na (2014)(3) gây tăng men AST, ALT lần lượt là 141,13%, 23,35% so với lô chứng sinh lý Mô hình chúng tôi gây tăng men gan AST, ALT so với lô chứng sinh lý lần lượt là 104,14%, 76,71% Tuy nhiên, so sánh với mô hình tác giả Rong và cs(4) làm tăng men gan AST, ALT lần lượt là 98,35%, 156,01% Mô hình làm tăng men AST cao hơn của tác giả Rong nhưng cũng thấp hơn của tác giả Vũ Thị Ly Na và với nồng

độ ALT thì cho kết quả ngược lại

Sự khác biệt về nồng độ AST, ALT có thể giải thích vì sự khác nhau về giống chuột (đề

tài nghiên cứu sử dụng chủng chuột Swiss albino còn đề tài của Rong và cs nghiên cứu

trên chuột Balb/c) Sự khác biệt về thời gian giải phẫu sau liều uống cuối cùng cũng dẫn đến sự chênh lệch nồng độ AST, ALT Thời điểm lấy máu rất quan trọng vì nồng độ AST, ALT huyết thanh đạt mức cao nhất trong vòng

9 tiếng sau liều ethanol cuối cùng và giảm dần sau đó(5) Bên cạnh đó, AST, ALT, GGT có thời gian bán hủy khác nhau Ngoài ra sự khác biệt

về ống lấy máu, thời gian đông máu, tan máu,

sử dụng phương pháp đo lường và máy phân tích sinh hóa cũng ảnh hưởng đến giá trị AST, ALT, GGT huyết thanh(6) Riêng với kết quả GGT, mô hình chưa tạo được sự tăng liên tục trong 8 tuần điều trị bằng ethanol

Về thuốc đối chiếu được sử dụng là Silymarin Đây là một hợp chất phổ biến được sử

Trang 9

dụng điều trị các tổn thương gan như viêm gan,

xơ gan, bệnh gan do rượu Silymarin có tác dụng

làm hạ men gan AST, ALT được công bố trong

các nghiên cứu trước đây nhờ hoạt tính thấm

qua màng tế bào, ức chế con đường

5-lipoxygenase, hạn chế các gốc tự do(3,7) Trong

thử nghiệm này chuột được uống Silymarin liều

50 mg/kg trong 4 tuần, kết quả cho thấy

Silymarin làm giảm nồng độ AST, ALT có ý

nghĩa thống kê so với chuột gây bệnh (p < 0,05)

So sánh với nghiên cứu trước đây của tác giả Vũ

Thị Ly Na và cs (2014)(3) sử dụng Silymarin liều

100 mg/kg giảm 61,55 % (AST), 37,06 % (ALT);

mô hình chúng tôi làm giảm 47,02 % (AST) và

34,58% (ALT) Chuột được điều trị Silymarin có

nồng độ men GGT giảm dần sau 4 tuần điều trị

nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Bên

cạnh đó, kết quả mô học cũng cho thấy

Silymarin 50 mg/kg làm giảm tình trạng viêm,

giảm số lượng tế bào gan tổn thương Do đó,

Silymarin có khả năng cải thiện tình trạng tổn

thương do rượu gây ra

KẾT LUẬN

Từ những kết quả trên thực nghiệm, đề tài

rút ra được các kết luận sau:

- Mô hình sử dụng 2 liều ethanol là 2,4

g/kg/ngày trong 4 tuần đầu và 4 g/kg/ ngày trong

4 tuần tiếp theo ghi nhận nồng độ AST, ALT sau

8 tuần cho thấy sự gia tăng hoạt động AST, ALT

huyết thanh đáng kể

- Viên nang DR liều 2 viên/kg/ngày có tác

dụng làm hạ men gan AST (43,77%) và ALT

(28,98%); cải thiện tình trạng viêm và giảm số

lượng tế bào gan tổn thương so với lô chứng gây

bệnh sau 4 tuần điều trị

- Viên nang DR liều 4 viên/kg/ngày có tác

dụng làm hạ men gan AST (38,94%) và ALT

(37,16%) so với lô chứng gây bệnh sau 4 tuần

điều trị Mô học cho thấy cải thiện tổn thương

gan, tuy nhiên vẫn ghi nhận tình trạng nhiễm

mỡ

Cả viên nang DR liều 2 viên/kg và 4 viên/kg đều không có tác dụng làm giảm nồng độ GGT sau 4 tuần điều trị so với lô chứng gây bệnh Tuy nhiên, mô hình chưa tạo được nồng độ GGT tăng kéo dài

Lời cảm tạ: Bài báo được hỗ trợ từ kinh phí đề tài nghiên

cứu khoa học cấp cơ sở của Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh đã cấp kinh phí thực hiện đề tài mã số 2020.3.1.66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ali M., Khan T., Fatima K., Ali Q U A., Ovais M., Khalil A T., Ullah I., Raza A., Shinwari Z K and Idrees M (2018),

"Selected hepatoprotective herbal medicines: Evidence from ethnomedicinal applications, animal models, and possible

mechanism of actions", Phytother Res, 32(2), pp.199-215

2 Nguyễn Phương Dung, Bùi Tiến Thành và Hà Đức Thắng (2018), "Nghiên cứu tác dụng hạ acid uric của viên nang DR

trên chuột nhắt trắng", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(5),

pp.129

men gan của cao chiết Dừa cạn - Cam Thảo trên mô hình tổn thương gan bằng Ethanol, Luận văn Thạc sĩ Y học cổ truyền, pp

69-70

4 Rong S., Zhao Y., Bao W., Xiao X., Wang D., Nussler A K., Yan H., Yao P and Liu L (2012), "Curcumin prevents chronic alcohol-induced liver disease involving decreasing ROS

Phytomedicine, 19(6), pp.545-50

5 Kwo P Y., Cohen S M and Lim J K (2017), "ACG Clinical

Guideline: Evaluation of Abnormal Liver Chemistries", Am J

Gastroenterol, 112(1), pp.18-35

6 Bertola A., Mathews S., Ki S H., Wang H and Gao B (2013),

"Mouse model of chronic and binge ethanol feeding (the

NIAAA model)", Nat Protoc, 8(3), pp.627-37

7 Jung Y C and Namkoong K (2014), "Alcohol: intoxication

and poisoning - diagnosis and treatment", Handb Clin Neurol,

125(pp.115-21)

Ngày nhận bài báo: 19/11/2021 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/11/2021 Ngày bài báo được đăng: 08/12/2021

Ngày đăng: 23/01/2022, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w