1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt tính chống oxy hóa và bảo vệ gan của viên nang DR trên mô hình thực nghiệm gây tổn thương gan bằng ethanol

10 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh gan do rượu có thể phòng ngừa và hồi phục bằng cách điều trị kịp thời. Vì vậy tình hình nghiên cứu dược liệu hỗ trợ điều trị bệnh gan do rượu hiện nay rất được quan tâm. Bài viết trình bày đánh giá tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ của viên nang DR trên mô hình chuột nhắt gây tổn thương gan bằng ethanol.

Trang 1

HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA VÀ BẢO VỆ GAN CỦA VIÊN NANG DR TRÊN MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM

GÂY TỔN THƯƠNG GAN BẰNG ETHANOL

Trần Thị Thanh Loan 1 , Nguyễn Thành Thượng 2 , Trần Nguyễn Quốc Vương 1 , Nguyễn Thị Vân Anh 3 ,

Nguyễn Lê Việt Hùng 4 , Đặng Hoàng Minh 1 , Nguyễn Thanh Trầm 1 , Nguyễn Phương Dung 4

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh gan do rượu có thể phòng ngừa và hồi phục bằng cách điều trị kịp thời Vì vậy tình hình

nghiên cứu dược liệu hỗ trợ điều trị bệnh gan do rượu hiện nay rất được quan tâm

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ của viên nang DR trên mô hình chuột nhắt gây tổn

thương gan bằng ethanol

Đối tượng Viên nang DR gồm Diệp hạ châu (Phyllanthus amarus Schumach & Thonn) và Râu mèo

(Orthosiphon stamineus Benth) Viên nang DR được sản xuất từ hai loại cao khô của loại dược liệu trên

Phương pháp: Hoạt động bảo vệ gan của viên nang DR được khảo sát trên mô hình chuột tổn thương bằng

ethanol với liều 2,4 g/kg/ngày trong 4 tuần và ethanol liều 4 g/kg/ngày trong 4 tuần

Kết quả: Kết quả cho thấy viên nang DR liều 2 viên/kg và 4 viên/kg cải thiện được trạng thái stress oxy hóa

trong gan qua hiệu quả làm giảm mức MDA và làm tăng GSH trong mô gan, giảm tình trạng viêm và giảm số lượng tế bào tổn thương trên mô học gan

Kết luận: Viên nang DR có tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ gan dưới tác dụng của rượu Do đó, viên nang

DR có tiềm năng ứng dụng trong điều trị các bệnh lý về gan

Từ khóa: Viên nang DR, MDA, GSH, mô học

ABSTRACT

STUDY ON ANTIOXIDANT EFFECTS OF DR CAPSULES IN WHITE MICE OF ALCOHOLIC LIVER

INJURY

Tran Thi Thanh Loan, Nguyen Thanh Thuong, Tran Nguyen Quoc Vuong, Nguyen Thi Van Anh,

Nguyen Le Viet Hung, Dang Hoang Minh, Nguyen Thanh Tram, Nguyen Phuong Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 6 - 2021: 233 - 242

Introduction: Alcoholic liver disease is preventable and reversible with prompt treatment Therefore, the

current situation of researching medicinal herbs to support the treatment of alcoholic liver disease is currently of interest

Objectives: To evaluate the antioxidant and protective effects of DR capsules in a mouse model of

ethanol-induced liver injury DR Capsule subjects include Diep Ha Chau (Phyllanthus amarus Schumach & Thonn) and Cat's Whiskers (Orthosiphon stamineus Benth) DR capsules are produced from dried extracts of the above

1 Khoa Y – Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

2 Khoa Y Dược - Trường Cao đẳng Vĩnh Long

3 Khoa Sinh - Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh

4 Khoa Y - Học Cổ Truyền – Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Trần Thị Thanh Loan ĐT: 0913625082 Email: ttthanhloan@ump.edu.vn

Trang 2

medicinal herbs

Methods: The hepatoprotective activity of DR capsules was investigated in a rat model of injury with

ethanol at a dose of 2.4 g/kg/day for 4 weeks and ethanol at a dose of 4 g/kg/day for 4 weeks

Results: The results showed that DR capsules at doses of 2 capsules/kg and 4 capsules/kg improved oxidative

stress in the liver by effectively reducing MDA levels and increasing GSH in liver tissue, reducing inflammation and reduce the number of damaged cells on liver histology

Conclusion: DR capsules have shown an antioxidant activity and the ability to protect the liver under the

effects of alcohol Therefore, DR capsules have potential applications in the treatment of liver diseases

Keywords: DR capsule, MDA, GSH, histology

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gan l| cơ quan lớn nhất và quan trọng trong

cơ thể đảm nhiệm nhiều chức năng như chuyển

hóa, dự trữ, tổng hợp, giải độc cho cơ thể Để

thực hiện được các nhiệm vụ trên, gan cần tiết ra

một hệ thống các enzyme, được gọi men gan

Khi tế bào gan bị tổn thương, c{c enzyme được

giải phóng ra sẽ đi trực tiếp vào trong máu,

khiến men gan tăng cao Men gan được phân bố

trong dịch mô kẽ và huyết tương, có thời gian

bán hủy riêng cho từng men hiện diện trong

huyết thanh với nồng độ rất thấp, các men này

không có chức năng trong huyết thanh và hoạt

động giống như c{c protein Chỉ số men gan

tăng cao hay nhẹ chính là biểu hiện tình trạng

sức khỏe của gan

Bệnh gan do rượu nguyên nhân chủ yếu là

do uống quá nhiều rượu trong thời gian dài dẫn

đến các tổn thương gan từ gan nhiễm mỡ, viêm

gan, xơ hóa gan v| xơ gan Đối với người lạm

dụng rượu thì gan nhiễm mỡ là phản ứng đầu

tiên v| được phát hiện ở 90% người nghiện rượu

nặng Đặc trưng bởi sự tích tụ chất béo (gồm

triglyceride, phospholipid và cholesterol) trong

tế bào gan Mô học cho thấy có nhiều giọt lipid

kích thước nhỏ và lớn trong tế bào gan Có nhiều

cơ chế giải thích sự phát triển của gan nhiễm mỡ

sau khi uống rượu lâu dài(1)

Bệnh gan do rượu có thể phòng ngừa và hồi

phục bằng c{ch điều trị kịp thời(2) Kiêng uống

rượu l| điều trị quan trọng đối với các bệnh gan

do rượu, đ}y là một điều khó tuân thủ đối với nhiều bệnh nhân(3) Đặc biệt, ở những bệnh nhân

bị viêm gan do rượu nặng là chỉ định điều trị corticoid hoặc pentoxifylline – thuốc điều trị này đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi về tác dụng phụ(4) Vì vậy tình hình nghiên cứu thuốc điều trị bệnh gan do rượu hiện nay rất mạnh mẽ, đặc biệt phát triển xu hướng điều trị thuốc có tác dụng chống oxy hóa do phù hợp với cơ chế bệnh sinh Hiện nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của c{c dược liệu, Diệp

hạ châu (DHC, Phyllanthus amarus Schumach & Thonn) giúp bảo vệ gan gan nhờ tác dụng chống oxy hóa, chống viêm; Râu mèo (RM, Orthosiphon stamineus Benth) bảo vệ gan nhờ các hợp chất

chống oxy hóa và dọn dẹp gốc tự do(5) Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu đ{nh gi{ tác dụng hạ men gan và bảo vệ gan của bài thuốc DHC – RM

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Viên nang DR được sản xuất bởi công ty BV Pharma chứa: 180 mg cao khô Diệp hạ châu và

120 mg cao khô Râu mèo

Động vật thử nghiệm

Chuột nhắt trắng đực chủng Swiss albino, 5-6

tuần tuổi, trọng lượng trung bình 24 g ± 2 g) được cung cấp bởi Viện Vắc - xin và sinh phẩm y

tế Nha Trang, nuôi trong điều kiện ổn định về

Trang 3

chế độ dinh dưỡng Chuột được nuôi ổn định 1

tuần trước thử nghiệm

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm

Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ thí

nghiệm (Hình 1) theo 2 giai đoạn Liều viên nang

DR được chọn là 2 viên/kg và 4 viên/kg(1,6) Chuột được nuôi ổn định 1 tuần trước khi tiến hành thử nghiệm Chia ngẫu nhiên chuột thử nghiệm thành 5 lô (n=10)

Hình 1 Sơ đồ thí nghiệm

Khảo sát trọng lượng, kích thước gan

Tiến h|nh c}n v| đo kích thước gan của các

nhóm thử nghiệm sau khi giải phẫu Khảo sát sự

thay đổi trọng lượng, kích thước gan giữa các lô

để đ{nh gi{ t{c động của ethanol cũng như

thuốc điều trị lên chuột nhắt trắng sau 8 tuần thử

nghiệm

Khảo sát tác dụng chống oxy hóa trong gan

chuột của viên nang DR bằng phương ph{p định

lượng malondialdehyd (MDA) và glutathione

(GSH) sau 8 tuần thực nghiệm

Tách gan chuột và nghiền đồng thể trong

dung dịch đệm KCL 1,15% theo tỷ lệ 1:10 ở nhiệt

độ 0-50C Lấy 2ml dịch đồng thể thêm vào 1ml dung dịch đệm Tris 0 HCL, ủ ở 370C trong 1 giờ Kết thúc phản ứng bằng 1ml acid tricloacetic 10%, ly tâm 10.000 vòng/phút và lấy dịch trong Tiến h|nh định lượng h|m lượng MDA và GSH trong gan chuột như sau:

Xác định hàm lượng MDA

Lấy 2ml dung dịch trong cho phản ứng với

1 acid thiobarbituric 0,8% ở 1000C trong 15 phút v| đo quang ở λ = 532 nm H|m lượng MDA (nM/ml) được tính theo phương trình hồi quy

Trang 4

chất chuẩn MDA

Xác định hàm lượng GSH

Lấy 1ml dịch trong cho phản ứng với 0,2

ml thuốc thử Ellman là 5,5 – dithio bis –

(2-nitrobenzoic acid) v| thêm đệm EDTA

phosphat vừa đủ 3ml Để 3 phút ở nhiệt độ

phòng sau đó tiến h|nh đo quang ở bước sóng

λ = 412nm H|m lượng GSH (nM/g protid)

được tính theo phương trình hồi quy tuyến

tính của chất chuẩn GSH

Đánh giá sự thay đổi mô học của gan trên chuột

nhắt trắng sau 8 tuần thực nghiệm

Nguyên tắc: Khảo sát mô học dựa trên hình

thái và số lượng tế bào gan phản ánh được mức

độ tổn thương gan g}y ra do rượu, phản ảnh tác

dụng của viên nang DR lên lên gan chuột sau 4

tuần điều trị bằng phương ph{p nhuộm bằng

Hematoxylin và Eosin (HE) So sánh hình ảnh

mô học gan của các nhóm chuột thí nghiệm

Quan sát hình ảnh mô học ở nhóm chuột uống

ethanol không được điều trị và các nhóm chuột

được điều trị bằng Sylimarin và viên nang DR

Xử lý số liệu thực nghiệm

Các kết quả được định dạng số trung bình ±

độ lệch chuẩn (Mean ± SD) Việc xử lý thống kê trong đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics 20) So sánh kết quả thống

kê được thực hiện bằng ph}n tích phương sai (One-Way ANOVA) để kiểm tra sự thay đổi giữa các nhóm riêng lẻ Sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, p < 0,01

KẾT QUẢ

Quan sát đại thể và sự thay đổi trọng lượng

mô gan chuột sau 8 tuần thực nghiệm Sau khi giải phẫu, mô gan được bóc tách toàn bộ để quan s{t đại thể và khảo sát trọng lượng mô gan Về đại thể, gan chuột ở lô 1 (lô sinh lý) có m|u n}u đỏ nhạt, bề mặt mịn và bóng, nhu mô gan đồng nhất Tuy nhiên ở lô 2 (lô bệnh lý) gan chuột có m|u đỏ sẫm, bề mặt không mịn, nhu mô cứng không đồng đều Ở lô 3-5, mô gan tương đối đồng nhất v| trơn mịn

Hình 2 Hình ảnh đại thể gan chuột sau quá trình 8 tuần thử nghiệm Ghi chú: A: Lô 1 (Nước cất), B: Lô 2

(Ethanol), C: Lô 3 (Silymarin 50 mg/kg), D: Lô 4 (DR 2 viên/kg), E: Lô 5 (DR 4 viên/kg)

Xét về trọng lượng mô gan sau 8 tuần thử

nghiệm, trọng lượng gan ở các lô dùng viên

nang DR có sự thay đổi so với lô gây bệnh

Trọng lượng gan tương đối được tính bằng trọng

lượng gan trên trọng lượng cơ thể Kết quả cho

thấy viên nang DR với liều 2 viên/kg, 4 viên/kg

l|m tăng trọng lượng gan tương ứng với lô Silymarin và khác biệt có ý nghĩa với lô gây bệnh Đặc biệt, viên nang DR 4 viên/kg làm tăng đ{ng kể trọng lượng gan tương đối so với lô chứng gây bệnh

Trọng lượng gan sau 8 tuần thử nghiệm, trọng lượng gan ở các lô dùng viên nang DR có

Trang 5

sự thay đổi so với lô gây bệnh Trọng lượng gan

tương đối được tính bằng trọng lượng gan trên

trọng lượng cơ thể Ở lô 2 (Ethanol) thấp hơn

0,94 g so với lô chứng sinh lý v| có ý nghĩa thống

(p < 0,01)

Ở c{c lô được điều trị thuốc cho thấy cải

thiện trọng lượng gan và khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p < 0,01) Trọng lượng gan tương đối

được tính bằng trọng lượng gan trên trọng

lượng cơ thể, ở lô gây bệnh trọng lượng gan

tương đối giảm 5,78 % so với lô chứng sinh lý, cũng thấp hơn so với các lô còn lại, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết quả cho thấy viên nang DR với liều 2 viên/kg, 4 viên/kg l|m tăng trọng lượng gan tương ứng với lô Silymarin và khác biệt có ý nghĩa với lô gây bệnh Đặc biệt, viên nang DR 4 viên/kg l|m tăng đ{ng kể trọng lượng gan tương đối so với lô chứng gây bệnh

Biểu đồ 1 Trọng lượng gan (g) và trọng lượng gan tương đối (%) sau 8 tuần thử nghiệm One-Way

ANOVA_Turkey Post Hoc

*: p < 0,05 so với lô Nước cất; **: p < 0,01 so với lô Nước cất #: p < 0,05 so với lô Ethanol; ##: p < 0,01 so với lô Ethanol

Khảo sát tác dụng bảo vệ gan theo hướng chống

oxy hóa qua việc định lượng Malondialdehyd

(MDA) và Glutathione (GSH) sau 8 tuần thực

nghiệm

Kết quả định lượng malondialdehyd (MDA)

trong gan chuột sau 8 tuần

Thực nghiệm kéo dài trong 8 tuần trong

đó có 4 tuần điều trị bằng viên nang DR cho

thấy nồng độ MDA gan ở lô chứng bệnh lý

sau 8 tuần tăng có ý nghĩa thống kê so với lô

sinh lý (p=0,0224) chứng tỏ lô uống rượu có

xảy ra quá trình peroxid hóa lipid ở gan do các gốc oxy hóa, phù hợp với cơ chế bệnh sinh của bệnh gan do rượu nồng độ MDA gan sau 4 tuần điều trị ở lô 3 giảm có ý nghĩa thống kê

so với lô chứng bệnh lý (p= 0,0032) va không khác biệt so với lô sinh lý (p= 0,8065)

Bên cạnh đó, nồng độ MDA gan sau 4 tuần điều trị ở lô 4 giảm có ý nghĩa thống kê

so với lô chứng bệnh lý (p=0,0170), không khác biệt so với lô 5 (p= 0,2530), lô Sily (p=0,1208) và

lô sinh lý (p= 0,0696) Nồng độ MDA gan sau 4 tuần điều trị ở lô 5 giảm có ý nghĩa thống kê

Trang 6

so với lô chứng bệnh lý (p=0,0015), không khác

biệt so với lô 3 (p =0,4529) và lô sinh lý (p=

0,3911)

Bảng 1: Kết quả khảo sát hàm lượng MDA trong gan chuột nhắt sau khi dùng viên nang DR 4 tuần

∆: so sánh với lô chứng bệnh lý

Kết quả định lƣợng glutathion (GSH) trong mô

gan chuột

Thực nghiệm kéo dài trong 8 tuần trong đó

có 4 tuần điều trị bằng viên nang DR cho thấy

nồng độ GSH gan ở lô chứng bệnh lý sau 8 tuần

giảm có ý nghĩa thống kê so với lô sinh lý

(p=0,0011) chứng tỏ thực nghiệm đạt mô hình

tổn thương gan Nồng độ GSH gan sau 4 tuần

điều trị ở lô Sily tăng có ý nghĩa thống kê so với

lô chứng bệnh lý (p= 0,0032), không khác biệt so

với lô sinh lý (p=0, 1416) Nồng độ GSH gan sau

4 tuần điều trị ở lô 4 tăng có ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý (p=0,0011), khác biệt không

có ý nghĩa thống kê so với lô 3 (p=0,8065) và lô 5 (p=0,8065), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với

lô sinh lý (p=0,0284)

Nồng độ GSH gan sau 4 tuần điều trị ở lô 5 tăng có ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý (p=0,0015), khác biệt không có ý nghĩa thống kê

so với lô 3 (p=0,3538) và lô sinh lý (p=0,3272)

Bảng 2: Hàm lượng GSH trong gan chuột nhắt sau khi dùng viên nang DR 4 tuần

(V=0,1 ml/10g)

(nM/gmprotein)

∆: so sánh với lô chứng bệnh lý

Khảo sát vi thể mô gan

Khảo sát vi thể mô gan ở từng lô cho thấy có

sự khát biệt về cấu trúc mô học cũng như tế bào

trong từng lô thí nghiệm (Hình 2-3)

Lô 1 (Hình 2-A), tại vị trí khoảng cửa cho

thấy rất ít sự hiện diện của tế bào viêm và

lympho bào, một số tế bào gan quanh khoảng

cửa có dấu hiệu tổn thương (b|o tương ưa acid,

nhân mất hình ảnh sáng màu, chất nhiễm sắc cô

đặc) Tại vị trí tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy cho

thấy hình ảnh mô học các các bè gan, mao mạch

nan hoa rõ, quan sát không thấy thấy nhiều tế

bào viêm trong lòng mao mạch nan hoa Số

lượng tế bào gan bị tổn thương ít, < 10% tế bào/quang trường (X20), một vài tế bào gan có hiện tượng tho{i ho{ nước (tế bào mất nhân, bào tương nhạt màu) Hình ảnh mô học tại lô 1 cho thấy số lượng tế bào tổn thương ít, phù hợp với chức năng sinh lý của gan l| cơ quan thải độc

Lô 2, tại vị trí khoảng cửa khoảng cửa hiện diện nhiều tế b|o viêm trong động mạch gan hoặc tĩnh mạch cửa, tập trung nhiều quanh khoảng cửa, xuất hiện nhiều ổ viêm rải rác trong tiểu thùy, số lượng tế bào gan bị tổn thương chiếm tỷ lệ từ 20 - 50% tế b|o/quang trường (X20), xuất hiện chất béo ở trong tế b|o gan, chưa ghi nhận hiện tượng ứ mật v| xơ hóa Tại vị trí

Trang 7

trung tâm tiêu thùy, tế bào viêm hiện diện trong

lòng mao mạch nan hoa, số lượng tế bào gan

tăng lên đ{ng kể chiếm trên 30% tế bào/ quang

trường (X20), hiện diện tế bào gan thoái hóa

nước Vì vậy, ở lô này, xuất hiện hiện tượng

viêm gan do rượu với hình ảnh thấm nhập tế

bào viêm và các tế bào gan bị tổn thương Tuy

nhiên do thời gian ngắn nên có thể chưa ghi

nhận các hình ảnh tổn thương nặng như ứ mật

v| xơ hoá của gan

Lô 3, tại vị trí khoảng cửa, các tế bào lymphô

và bạch cầu tập trung ít nhưng không hiện diện

trong động mạch gan hoặc tĩnh mạch cửa, số

lượng tế bào gan bị tổn thương giảm so với lô 2 Tại vị trí tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy xuất hiện

ít tế bào viêm trong lòng mao mạch nan hoa, số lượng tế bào gan bị tổn thương giảm so với lô 2 nhưng vẫn quan s{t được đ{ng kể, khoảng > 20% tế b|o/quang trường (X20), vẫn còn hiện diện số ít tế bào gan có hiện tượng thoái hoá nước Do vậy, ở lô này, chuột sau 4 tuần điều trị bằng Silymarin 50 mg/kg cho thấy giảm tình trạng viêm, giảm số lượng tế bào gan tổn thương cho thấy Silymarin có khả năng cải thiện tình trạng tổn thương do rượu gây ra

Hình 2 Hình ảnh vi thể mô học gan vùng khoảng cửa (HE x20) Ghi chú: Mũi tên đen: Ổ viêm, A: Lô 1 (Nước

cất), B: Lô 2 (Ethanol), C: Lô (Silymarin 50 mg/kg), D: Lô 4 (DR 2 viên/kg), E: Lô 5 (DR 4 viên/kg)

Trang 8

Hình 3 Hình ảnh vi thể gan (HE x40) Ghi chú: A: Lô 2 (Ethanol), B: Lô 3 (Silymarin 50 mg/kg), C: Lô 4 (2

viên/kg), D: Lô 5 (DR 4 viên/kg)

Lô 4, ở vị trí khoảng cửa có hiện diện số it

b|o viêm trong tĩnh mạch cửa, số lượng tế bào

gan bị tổn thương giảm đ{ng kể so với lô bịnh lý

(<20% tế bào/quang trường X20) Chứng tỏ chuột

được điều trị bằng viên nang DR liều 2 viên/kg

cho thấy cải thiên tình trạng tổn thương gan do

rượu so với lô chứng gây bệnh Thể hiện thông

qua việc giảm các hiện tượng viêm, giảm số

lượng tế bào tổn thương

Lô 5, ở vị trí khoảng cửa có cải thiện tình

trạng viêm trên mô học, số lượng tế bào gan bị

tổn thương giảm đáng kể (< 20% tế bào/quang

trường X20), tuy nhiên, vẫn còn xuất hiện tế bào

gan bị tổn thương v| nhiễm mỡ Tại vị trí tĩnh

mạch trung tâm tiểu thùy, tế bào gan chiếm tỉ lệ

cao hơn so với vị trí khoảng cửa (> 30% tế

b|o/quang trường X20), vài tế bào gan có hiện

tương tho{i hóa nước Vì vậy, ở lô điều trị này

cho thấy mẫu có ghi nhận cải thiện tình trạng

viêm nhưng vẫn còn các dấu hiệu tổn thương tế

bào và nhiễm mỡ

BÀN LUẬN

Về tác dụng chống oxy hóa thông qua cải thiện các chỉ số MDA và GSH ở mô gan

Gan là một cơ quan quan trọng trong cơ thể có vai trò chuyển hóa các chất tham gia vào quá trình giải độc cho cơ thể Khi gan bị tổn thương c{c tế bào trong gan bị huỷ hoại dần, có thể hình thành các tổn thương không hồi phục như xơ gan v| l|m mất chức năng giải độc của gan Bệnh gan là một trong những bệnh thường gặp có nguyên nhân chủ yếu là

do virus và nhiễm độc Phần lớn các chất gây độc cho gan có liên quan tới sự peroxid hóa lipid màng tế bào gan và các stress oxy hóa Trong đề tài này, chúng tôi đã chọn ethanol làm tác nhân gây tổn tương gan do sinh ra gốc

tự do gây peroxy hóa màng tế bào gan

Trong nghiên cứu này, ở các lô chứng bệnh

lý, h|m lượng MDA trong gan tăng (77,1%) và h|m lượng GSH trong gan giảm (35,80%) so với

Trang 9

lô chứng sinh lý Do trong quá trình oxy hóa

ethanol bởi CYP2E1 đã hình th|nh c{c gốc tự do

Reactive Oxygen Species (ROS) ROS tấn công

vào các phospholipid màng tế bào gây ra quá

malondialdehyd (MDA) ROS làm giảm

glutathion (GSH) là một chất thu nhận chất tự do

trong cơ thể Vì vậy h|m lượng MDA c|ng tăng

GSH càng giảm chứng tỏ mức độ tổn thương

gan ngày càng nặng(7) Qua nghiên cứu trên

chứng tỏ mô hình gây tổn thương do rượu mãn

tính đã tạo ra sang thương có ý nghĩa điển hình

cho bệnh gan do rượu

Theo các nghiên cứu riêng biệt trước đ}y

cho thấy DHC có tác dụng bảo vệ gan trước

ethanol, tác dụng chống oxy hóa của DHC bằng

cách giảm tạo ra ROS nội bào cùng quá trình

giảm peroxy đồng thời cũng phục hồi các enzym

chống oxy hóa chính(8) Bên cạnh đó DHC giúp

hạ men gan nhờ ức chế enzym cytochrome P450

CYP2E1 và tác dụng chống oxy hóa nhờ các hợp

chất tự nhiên phyllanthin, phyltetralin,

trimethyl-3,4-dehydrochebulate Khả năng

chống oxy hóa từ các hợp chất phenolic,

flavonoid rất quan trọng để tiêu diệt các gốc tự

do tồn tại trong cơ thể Các nghiên cứu trước đ}y

cho thấy RM cũng có t{c dụng chống oxy hóa, ức

chế peroxid hóa lipid và các hoạt động dọn dẹp

gốc tự do(9) Do đó RM có tác dụng bảo vệ gan

nhờ vào khả năng chống oxy hóa hiệu quả của

các hợp chất tự nhiên

Như vậy thành phần có trong việc nang DR

gồm DHC và RM sẽ giúp tăng cường khả năng

chống oxy hóa thông qua cơ chế khử các gốc tự

do và khả năng ức chế peroxy hóa lipid và chống

lại tác dụng g}y độc giúp bảo vệ gan nhờ đó l|m

ổn định men gan sau qu{ trình điều trị

Về thay đổi hình ảnh mô học gan sau khi

điều trị 4 tuần

Trong nghiên cứu này, chuột được gây tổn

thương gan bằng ethanol l|m thay đổi về hình

ảnh mô học ở các lô nghiên cứu, hình ảnh các bè

gan, mao mạch nan hoa rõ, không thấy nhiều tế bào viêm trong lòng mao mạch nan hoa Kết quả

mô học cho thấy tình trạng gan phù hợp với chức năng sinh lý của chuột Riêng đối với nhóm chuột uống ethanol hình ảnh cho thấy có hiện tượng viêm gan do rượu và hình ảnh thấm nhập

tế bào viêm và các tế bào gan bị tổn thương trong mô học gan Mô học gan sau 8 tuần điều trị tương đương với các nghiên cứu trước đ}y(1,10). Sau 4 tuần điều trị bằng viên nang DR hình ảnh

mô học vi thể gan ở vùng tiểu thùy v| tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy cho thấy tác dụng tình trạng cải thiện viêm, giảm thiểu số lượng tế bào gan bị tổn thương ở cả 2 liều 2 viên/kg và 4 viên/kg Tuy nhiên với viên nang DR liều 4 viên/kg vẫn ghi nhận sự tổn thương gan v| nhiễm mỡ

KẾT LUẬN Tác dụng chống oxy hóa thông qua cải thiện các chỉ số MDA, GSH gan

Viên nang DR liều 2 viên/kg làm giảm nồng

độ MDA 25,52 nM/g protein (38,36%) v| tăng trữ lượng GSH 5603,109 nM/g protein (77,77%) so với lô chứng bệnh lý

Viên nang DR liều 4 viên/kg làm giảm nồng

độ MDA 24,5 nM/g protein (38,83 %) v| tăng trữ lượng GSH 5030,609 nM/g protein (69,83%) so với lô chứng bệnh lý

Như vậy viên nang DR cho tác dụng chống oxy hóa thông qua cải thiện các chỉ số MDA và GSH gan

Hình ảnh mô học sau khi dùng viên nang DR 4 tuần

Viên nang DR 2 viên: Chuột được điều trị bằng viên nang DR 2 viên/kg sau 4 tuần cho thấy cải thiện tình trạng tổn thương gan mạn do rượu, thể hiện thông qua giảm hiện tượng viêm, giảm số lượng tế bào gan bị tổn thương

Viên nang DR 4 viên: Chuột được điều trị bằng viên nang DR 4 viên/kg sau 4 tuần cho thấy cải thiện tình trạng tổn thương gan mạn do

Trang 10

rượu, thể hiện thông qua giảm hiện tượng viêm,

nhưng còn có dấu hiện tổn thương tế bào và

nhiễm mỡ

KIẾN NGHỊ

Để có đủ điều kiện cần thiết cho đề nghị thử

nghiệm tác dụng bảo vệ gan của viên nang DR

trên lâm sàng, chúng tôi có một số kiến nghị sau:

1 Nghiên cứu tác dụng dự phòng bệnh gan

do rượu của viên nang DR để có thể ứng dụng

rộng rãi và sớm hơn trên l}m s|ng

2 Khảo sát thêm các chỉ số đ{nh gi{ gan:

+ Định lượng tỷ lệ prothrombin huyết

thanh

+ Định lượng bilirubin huyết thanh

+ Định lượng albumin, gamma globulin

huyết thanh

Lời cảm tạ: Bài báo được hỗ trợ từ kinh phí đề tài nghiên

cứu khoa học cấp cơ sở của Đại học Y Dược TP Hồ Chí

Minh Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh đã cấp kinh phí thực hiện đề tài mã số

2020.3.1.66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ohashi K., Pimienta M and Seki E (2018), "Alcoholic liver

disease: A current molecular and clinical perspective", Liver

Res, 2(4), pp.161-172

2 Seitz HK., Bataller R., Cortez-Pinto H., et al (2018), "Alcoholic liver disease", Nat Rev Dis Primers, 4(1), pp.16

3 Nguyễn Hữu Chí (2016), Các bệnh gan thường gặp trong thực hành lâm sàng, Nhà xuất bản tổng hợp TP Hồ Chí Minh, pp

22

4 Runyon B A, (2013), "Introduction to the revised American Association for the Study of Liver Diseases Practice Guideline management of adult patients with ascites due to cirrhosis

2012", Hepatology, 57 (4), pp 1651-1653

5 Bùi Tiến Thành, Nguyễn Phương Dung, (2018), Đ{nh gi{ tác dụng hạ acid uric máu của viên nang Diệp hạ châu - Râu mèo trên chuột nhắt trắng, Luận văn Thạc sĩ Y học, pp 54

6 Vũ Thị Ly Na, (2014), Đ{nh gi{ t{c dụng hạ men gan của cao chiết Dừa cạn - Cam Thảo trên mô hình tổn thương gan bằng Ethanol, Luận văn Thạc sĩ Y học cổ truyền, pp 69-70

7 Shaw S, Jayatilleke E, (1990), "The role of aldehyde oxidase in ethanol-induced hepatic lipid peroxidation in the rat", Biochem J, 268 (3), pp 579-583

8 Chirdchupunseree H, Pramyothin P, (2010), "Protective activity of phyllanthin in ethanol-treated primary culture of rat hepatocytes", J Ethnopharmacol, 128 (1), pp 172-176

9 Chudapongse N, Kamkhunthod M, Poompachee K, (2010),

"Effects of Phyllanthus urinaria extract on HepG2 cell viability and oxidative phosphorylation by isolated rat liver mitochondria", J Ethnopharmacol, 130 (2), pp 315-319

10 Liu Y, Meyer C, Xu C, Weng H, et al, (2013), "Animal models

of chronic liver diseases", Am J Physiol Gastrointest Liver Physiol, 304 (5), pp G449-468

Ngày nhận bài báo: 19/11/2021 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/11/2021 Ngày bài báo được đăng: 08/12/2021

Ngày đăng: 23/01/2022, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm