1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đọc hai tài liệu tham khảo (tổng kết về hình ảnh bạn thù trên báo chí chính thống) và so sánh tư duy về tập hợp lực lượng của việt nam trong hai giai đoạn 1975 1986 và 1986 1991

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 39,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Trong chính trị quốc tế, tập hợp lực lượng là hình thức phối hợp hoạt động, xác lập mối quan hệ hợp tác, liên minh, liên kết trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia nhằm đạt được

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

-HỌC PHẦN: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TỪ 1975 - NAY

ĐỀ TÀI: Đọc hai tài liệu tham khảo (tổng kết về hình ảnh bạn - thù trên báo chí chính thống) và

so sánh tư duy về tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn 1975 1986 và 1986 -1991

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Tuấn Việt

Nhóm thực hiện: Nông Cẩm Tú (nhóm trưởng) TT47A1-0581

Hà Nội, tháng 5 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1975-1986 và 1986-1991

giai đoạn

hai giai đoạn

Việt Nam trong hai giai đoạn 1975-1986 và 1986-1991

Trang 3

I LỜI MỞ ĐẦU

Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, thống nhất đất nước, giai đoạn 1975-1986, Việt Nam

đã tận dụng tốt vị thế của mình để bắt đầu thiết lập mối quan hệ với các quốc gia trên thế giới Thế nhưng, do tư duy tập hợp lực lượng còn hạn hẹp, nước ta bị rơi vào thế cô lập, phải đối mặt với việc bị bao vây, cấm vận bởi các nước lớn Từ năm 1986, Việt Nam đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, có thể coi đây là bước ngoặt trong những thay đổi về

tư duy của các nhà lãnh đạo và tư duy tập hợp lực lượng của nước ta

Có thể thấy rằng, tư duy tập hợp lực lượng luôn là yếu tố vô cùng cùng quan trọng trong việc bảo vệ, gìn giữ và phát triển đất nước, nhất là trong những giai đoạn chuyển mình then chốt Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh trong nước, thế giới và khu vực lúc bấy

giờ, bài tiểu luận sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về sự khác biệt trong “Tư duy tập hợp

lực lượng của Việt Nam giai đoạn 1975-1986 và 1986-1991”

II NỘI DUNG 1 Khái niệm

Trong chính trị quốc tế, tập hợp lực lượng là hình thức phối hợp hoạt động, xác lập mối quan hệ hợp tác, liên minh, liên kết trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia nhằm đạt được những mục đích chung (như giải quyết mâu thuẫn, bảo vệ lợi ích quốc gia, ) Tư duy tập hợp lực lượng được biểu hiện rõ nhất trong thực tiễn ở những chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước

2 Biểu hiện và thực tiễn triển khai của tư duy tập hợp lực lượng

2.1 Giai đoạn 1975-1986

Trong giai đoạn 1975-1978, mục đích chính được đề ra trong chính sách của Việt Nam

là mở rộng quan hệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) xác định nhiệm

vụ đối ngoại là: “Ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Các biện pháp triển khai tập hợp lực lượng được tiến hành, có thể kể đến là việc thiết lập và bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng

và cùng có lợi Thời điểm đó, do vẫn cho rằng ASEAN là khối SEATO trá hình, làm tay sai cho

Mỹ nên Việt Nam vẫn có phần dè dặt trong quyết định bình thường hóa mối quan hệ với ASEAN Chỉ với chính sách bốn điểm, Việt Nam cũng không thể làm cho các nước

1

Trang 4

ASEAN tin tưởng vào ý đồ lâu dài của ta1 Trong quan hệ với Trung Quốc, Campuchia, có thể thấy rằng Việt Nam còn chưa khéo léo, do đó đã tự đưa mình vào thế bị cô lập về mọi mặt Việt Nam vẫn coi Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và có những phát ngôn đả kích công khai Dưới sức ép của liên minh Trung Quốc-Khơme Đỏ, ta không thể thành công trong các nỗ lực đàm phán dù đã đưa ra chính sách ba điểm để giải quyết mâu thuẫn trong vấn đề Campuchia Đối với “kẻ thù lâu dài” của nước ta – Mỹ, Việt Nam đã có những nỗ lực đầu tiên trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, tuy nhiên đã thất bại vì không thể đi đến một sự thống nhất nào giữa những điều kiện của hai bên Từ giữa những năm 1978, chính sách đối ngoại của Việt Nam chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác toàn diện với Liên Xô, chủ trương bảo vệ và phát triển mối quan hệ Việt – Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức tạp

Sang đến giai đoạn 1979-1986, ý thức được tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, Việt Nam bắt đầu công cuộc đấu tranh chống bao vây, cô lập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) xác định công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta thất bại Đảng nhấn mạnh coi Liên Xô là “hòn đá tảng của chính sách đối ngoại”, “là nguyên tắc, là chiến lược”2 Trong phạm vi khu vực, có thể thấy rằng mối quan hệ Việt Nam

– Lào – Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của cả ba dân tộc Vì vậy, bên cạnh kêu gọi đối thoại, thương lượng từ các nước ASEAN, trong giai đoạn này, cả ba quốc gia đều hoạt động tích cực thúc đẩy tiếp xúc giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á nhưng quan điểm của hai bên vẫn còn khác nhau Việt Nam đã bắt đầu chủ trương khôi phục quan

hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở cùng tồn tại hoà bình, đồng thời thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước, kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật với các nước khác, không phân biệt chế độ chính trị

2.2 Giai đoạn 1986-1991

1 TS Nguyễn Vũ Tùng biên soạn, Chính sách đối ngoại Việt Nam (1975-2006), Học viện Quan hệ quốc tế, NXB

Thế giới.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tr144-145, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,

1982, t.I,

2

Trang 5

Giai đoạn 1986-1991 là thời kỳ đầu Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước chuyển mình trong sự thay đổi về tư duy, mà nổi bật trong đó là những điều chỉnh trong tư duy tập hợp lực lượng

Đầu tiên, về mục đích tập hợp lực lượng, thời kỳ này Đảng ta chủ trương hướng đến việc duy trì hòa bình, ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thoát khỏi thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (1986) đã xác định nhiệm vụ hàng đầu là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng vẫn giữ vững quan điểm, đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ

sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” 3

Cũng tại đại hội lần VI, Đảng ta đã đề ra các phương hướng, biện pháp triển khai cụ thể trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kì đổi mới: Thứ nhất, phát triển và củng

cố quan hệ Việt Nam, Lào, Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện Thứ hai, đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô Thứ ba, sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ hai nước Cuối cùng, mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình 4 Một số hành động đáng chú ý có thể kể đến việc Việt Nam thành công thoả thuận với Cộng hòa Nhân dân Campuchia về việc rút dần quân tình nguyện về nước, đồng thời tích cực hợp tác tìm cách giải quyết vấn đề Campuchia Việc rút quân khỏi Campuchia đã mở ra cơ hội để “chuyển thù thành bạn”, thay đổi thái độ của các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới Với ASEAN, Việt Nam ưu tiên việc xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường hòa bình, ổn định Với Mỹ, ta chủ trương giải quyết các vấn đề tồn tại giữa hai nước, bỏ lệnh cấm vận của Mỹ và bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, bắt đầu bằng việc phát triển diễn đàn Việt Nam – Hoa Kỳ về người Mỹ mất tích trong chiến tranh Đặc biệt, về phía Trung Quốc, Việt Nam đẩy mạnh quá trình đối thoại nhằm tháo gỡ các trở ngại đối với quá trình bình thường hóa, từ đó đạt được thành công lớn, chính thức bình thường hóa quan hệ Việt – Trung vào ngày 10/11/1991

3 Bộ Ngoại giao, “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, trang 323; 324, 326, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2002.

4 Bộ Ngoại giao, “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, trang 324, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

3

Trang 6

III So sánh tư duy tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn 1975-1986 và 1986-1991

1 Sự khác biệt trong tư duy tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn

Sự khác biệt trong tư duy tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn được khắc họa rõ nét thông qua những khía cạnh sau:

1.1 Tư duy bạn - thù

Trước thời kỳ đổi mới (1975 – 1986), Việt Nam nêu khẩu hiệu hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa, xem Liên Xô là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại, là nguyên tắc, chiến lược và là tình cảm cách mạng, thậm chí còn đề ra chính sách “nhất biên đảo”, một lòng hướng về người anh cả Liên Xô Trong khi đó, đối với các nước tư bản chủ nghĩa, Việt Nam xem họ là kẻ thù, đặc biệt cho rằng Mỹ chính là kẻ thù lâu dài cần phải đấu tranh Riêng với Trung Quốc, dù cũng là một nước xã hội chủ nghĩa, nhưng kể từ “cái bắt tay lịch sử” năm 1972 với Mỹ, chúng ta công khai xác định Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm, thậm chí tư tưởng thù địch này còn xuất hiện ngay trong Hiến pháp, khiến quan

hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng

Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đổi mới, tư duy bạn thù đã phần nào biến chuyển

Từ việc chỉ quan tâm, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, hướng về một phương là Liên

Xô, Nghị quyết Trung ương XIII (1988) đã nhấn mạnh chính sách “thêm bạn bớt thù”, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, bình thường hóa quan hệ với thế giới, đặc biệt là đối với hai kẻ thù lâu dài và trực tiếp trước - Mỹ và Trung Quốc Ta cũng tuyên bố: “muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới…”, đề ra chính sách “đa dạng hóa, đa phương hóa” trong quan hệ đối ngoại, giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế Không chỉ vậy, dù vấn đề Campuchia bị quốc tế hóa và trở thành cái cớ để thế giới đưa nước ta vào thế bao vây, cấm vận, Việt Nam vẫn giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đuổi lực lượng Khơme đỏ, giành lại độc lập, nhằm cải thiện, củng cố mối quan hệ giữa hai nước cũng như giảm bớt căng thẳng, hiểu lầm của dư luận quốc tế

1.2 Quan hệ với ASEAN

Tư duy tập hợp lực lượng Việt Nam đã có nhiều sự đổi khác trong mối quan hệ với các nước thuộc khối ASEAN Cụ thể, trong giai đoạn 1975 – 1986, Việt Nam không đề cao việc chủ động tham gia ASEAN do vẫn còn nhiều ngờ vực và hiểu lầm Tuy nhiên, sang đến giai

4

Trang 7

đoạn 1986-1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á, chủ trương cùng tồn tại hoà bình, ổn định và hợp tác Tuy chưa hoàn toàn bình thường hóa quan hệ với ASEAN do vấn đề Campuchia, nhưng nhìn chung mối quan hệ đã cải thiện hơn so với giai đoạn trước, tạo tiền đề cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN

2 Điểm giống nhau trong tư duy tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn Dù

tư duy tập hợp lực lượng trong hai giai đoạn có nhiều chuyển biến nhưng Việt Nam vẫn duy trì mối quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, luôn coi trọng và ra sức củng cố tình đoàn kết Đông Dương Tình cảm láng giềng giữa Lào và Việt Nam kéo dài đến tận hôm nay là điều không thể phủ nhận Ngay cả Campuchia, dù vấp phải vấn đề Polpot, Việt Nam trong hai giai đoạn đều cố gắng xóa bỏ mọi rào cản, cải thiện và không ngừng củng cố, giữ gìn quan hệ Việt Nam – Campuchia

3 Nguyên nhân dẫn tới sự đổi mới trong tư duy tập hợp lực lượng của Việt Nam trong hai giai đoạn 1975-1986 và 1986-1991:

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi rõ rệt trong tư duy tập hợp lực lượng của hai giai đoạn này, trong đó phải kể đến:

Một là, do sự thay đổi trong tư duy và nhận thức của lãnh đạo Trước đó, Việt Nam

vẫn còn tư duy giáo điều về xã hội chủ nghĩa hiện thực và với tư tưởng “ba dòng thác cách mạng”5 cùng với xu thế thời đại6 lúc bấy giờ, đánh giá quá cao sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa so với thực tế Hơn nữa, do bị chế định bởi tư duy ý thức hệ và không khí Chiến tranh lạnh nên Việt Nam chọn bạn-thù theo lăng kính giai cấp, bó buộc quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, dẫn đến nhận thức còn cứng nhắc và không thiết lập được mối quan hệ với các nước tư bản Tây Âu

5 Tư tưởng “ba dòng thác cách mạng”: Các nước xã hội chủ nghĩa đang đi lên, hệ thống xã hội chủ

nghĩa ngày càng phát huy tác dụng; bão táp cách mạng của phong trào giải phóng dân tộc sau chiến thắng của Việt Nam là sự kiện lớn thứ hai trong thời đại chúng ta; Phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển.

6 Xu thế thời đại: phong trào cách mạng đang ở vào thế tiến công như vũ bão; ba dòng thác hợp thành

cao trào cách mạng vĩ đại, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa đế quốc; cục diện thế giới đã thay đổi nhanh hệ thống tư bản chủ nghĩa quằn quại trong khủng hoảng, lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình lớn mạnh hẳn lên.

5

Trang 8

Hai là, do những vận động kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước, ngoài nước, trong khu vực Ở giai đoạn 1975-1986, chúng ta phải đối mặt với nhiều vấn đề, đặc biệt là xu thế phân hóa nội bộ trong từng phe khiến Việt Nam bị rơi vào thế bao vây, cấm vận, cô lập và khiến nước ta ngả về phía Liên Xô Trong giai đoạn 1986 - 1991, tình hình kinh tế và chính trị thế giới đều có những biến đổi sâu sắc, trong đó phải kể đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô năm 1991; chiến tranh lạnh kết thúc; các nước tập trung phát triển kinh tế nên ranh giới giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa mờ dần; cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa khiến Việt Nam buộc phải đổi mới tư duy để theo kịp thế giới

IV ĐÁNH GIÁ - KẾT LUẬN

Như vậy, trong giai đoạn 1975-1986, đối ngoại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do ta chỉ chú trọng hợp tác một chiều, phụ thuộc vào một đối tượng là Liên Xô dẫn đến mất cân bằng quan hệ, tự đẩy đất nước vào thế bị cô lập với khu vực và quốc tế Ngoài ra, Việt Nam chưa làm tốt công tác dự báo tình hình, đánh giá chưa đúng về chiến lược các nước dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ và hy sinh quyền lợi của dân tộc và đồng minh Kịp thời nhìn nhận được tình hình đó, giai đoạn 1986 – 1991, Việt Nam đã đổi mới tư duy tập hợp lực lượng, bắt đầu từng bước cải thiện quan hệ với các nước trên thế giới, đạt được nhiều thành tựu Điều này đã chứng tỏ sự nhận thức đúng đắn của Việt Nam về tình hình đất nước, thế giới và khu vực, cũng như về nhu cầu đổi mới tư duy tập hợp lực lượng: tư duy ý thức hệ dẫn đến việc phân loại bạn – thù đơn giản một chiều đã được thay thế bằng tư duy đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết Có thể thấy, nếu như ở giai đoạn trước, Việt Nam

bị động trong việc chống thế bao vây cấm vận, thì sang giai đoạn sau đổi mới, nước ta đã chủ động phá thế bao vây, cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị, cố gắng hàn gắn mối quan hệ với các nước, góp phần xây dựng môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế Sự khác biệt giữa tư duy của hai giai đoạn chính là nhờ sự nhận thức đúng đắn của Việt Nam về tình hình đất nước, thế giới và khu vực, cũng như về nhu cầu đổi mới Những thành quả ngày nay mà nước ta đạt được chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của quyết định đổi mới năm 1986

Nhìn lại bối cảnh hiện nay, xu hướng vận động của trật tự thế giới đang thay đổi, thế giới đang chịu nhiều biến động do đại dịch Covid 19, Việt Nam vẫn đang làm tốt vai trò của

6

Trang 9

mình khi công tác đối ngoại được triển khai linh hoạt, sáng tạo, phát huy tinh thần hợp tác quốc tế, hỗ trợ về y tế cho các quốc gia trên thế giới Trong tương lai, đối ngoại Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần củng cố môi trường hòa bình, bảo

vệ chủ quyền lãnh thổ, thu hút nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế của đất nước

7

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 TS Lê Hải Bình, Tập hợp lực lượng trong thế kỷ XXI: Xu hướng, tác động và đối sách của

Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật

2 Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng Sản, tháng 11/1994.

3 TS Nguyễn Ngọc Trường, 70 năm ngoại giao Việt Nam: một chặng đường lịch sử, tr.64

-68, Tạp chí Cộng sản, Trung ương Cộng sản Việt Nam, số đặc biệt 8/2015

4 Phạm Quang Minh, Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010), tr.53, NXB

Thế giới, Hà Nội, 2012

5 Bộ Ngoại giao (2005), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội,

2002

6 Lê Viết Duyên, Luận án tiến sĩ về chủ đề “Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ đổi mới (1986-nay)”.

7 TS Nguyễn Vũ Tùng, Chính sách đối ngoại Việt Nam (1975-2006), Học viện Quan hệ quốc

tế, NXB Thế giới, Hà Nội

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tr144 - 145, NXB

Sự thật, Hà Nội, 1982, t.I

9 Thái Văn Long, Thái Thanh Phong, Xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương và tác động đến Việt Nam

Link truy cập: http://dulieu.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2019/55518/Xu-huong-tap-hop-luc-luong-moi-tai-chau-A-Thai.aspx, ngày truy cập: 26/4/2021

Ngày đăng: 23/01/2022, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Lê Hải Bình, Tập hợp lực lượng trong thế kỷ XXI: Xu hướng, tác động và đối sách của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hợp lực lượng trong thế kỷ XXI: Xu hướng, tác động và đối sách của Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
2. Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng Sản, tháng 11/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và ASEAN
3. TS. Nguyễn Ngọc Trường, 70 năm ngoại giao Việt Nam: một chặng đường lịch sử, tr.64 - 68, Tạp chí Cộng sản, Trung ương Cộng sản Việt Nam, số đặc biệt 8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70 năm ngoại giao Việt Nam: một chặng đường lịch sử
4. Phạm Quang Minh, Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010), tr.53, NXB Thế giới, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010)
Nhà XB: NXBThế giới
5. Bộ Ngoại giao (2005), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Lê Viết Duyên, Luận án tiến sĩ về chủ đề “Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ đổi mới (1986-nay)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của ViệtNam với hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ đổi mới (1986-nay)
7. TS Nguyễn Vũ Tùng, Chính sách đối ngoại Việt Nam (1975-2006), Học viện Quan hệ quốc tế, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại Việt Nam (1975-2006)
Nhà XB: NXB Thế giới
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tr144 - 145, NXB Sự thật, Hà Nội, 1982, t.I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Nhà XB: NXBSự thật

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w