1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản “chữ người tử tù” của nguyễn tuân

30 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 74,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việctạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận trithức và hình thành kĩ năng, phát triển n

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực đang là

xu thế của các nước phát triển nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chấtlượng và hiệu quả giáo dục phổ thông Trong xu hướng đó việc dạy văn trongnhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn với giáo viên hiện nay Thầy côchưa thực sự có những bước ngoặt đột phá trong việc đổi mới phương pháp, vẫnnặng về phương pháp truyền thống, thế nên việc dạy và học chưa thực sự hiệuquả

Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của họcsinh, hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tíchcực sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các em chính lànhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người giáo viên đứng lớp Trong quá trìnhgiảng dạy, bản thân tôi thấy có nhiều phương pháp khai thác được điều đó, trong

đó đóng vai là một phương háp tích cực, tạo hứng thú và góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học bộ môn, nếu thực hiện được phương pháp này thì hiệu quả rất

rõ rệt

Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việctạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận trithức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng thời nhằm góp phần đổi

mới những phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống, tôi chọn đề tài “Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp đóng vai trong việc giảng dạy văn bản văn họctrong trường THPT nhằm tạo nên sự hứng thú, chủ động tích cực cho học sinh

để đạt kết quả cao

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp đóng vai áp dụng trong

tiết dạy văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn

Tuân

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hệ thống hóa các vấn đề lí luận về vai trò của việc đổi mới phươngpháp dạy học, đưa phương pháp đóng vai vào trong một văn bản văn học

Đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đóng vai trongmột tiết học và trong thực tiễn Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy họcđóng vai trong dạy học Ngữ văn nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh

Tiến hành cho học sinh trực tiếp tham gia phương pháp DHĐV trong dạyhọc văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

5 Phương pháp nghiên cứu:

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: phương pháp phân tích, tổng hợp,

hệ thống hóa, khái quát hóa… các tài liệu lí luận và các văn bản pháp quy

Trang 2

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, tổng kết kinh nghiệm,phân tích số liệu nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng.

Phương pháp thực nghiệm nhằm khẳng định tính hiệu quả, khả thi của cácphương pháp đề xuất

6 Tính mới của đề tài

Sáng kiến kinh nghiệm đưa ra những bước cụ thể cho hoạt động đóng vai

để áp dụng vào văn bản văn học cụ thể của môn Ngữ văn Thấy được ưu điểmcủa phương pháp dạy học đóng vai có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nóichung và phù hợp đặc thù riêng của môn học, bài học nói riêng

Đề tài đã sử dụng phương pháp đóng vai làm bật nổi cảnh cho chữ mà tác

giả gọi đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” thay vì phương pháp

truyền thống giáo viên giảng học sinh tiếp thu một cách thụ động Khi sử dụngcác vai diễn học sinh như sống vào trong nhân vật, hiểu được nhân vật, hiểuđược tư tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong đó

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở khoa học

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một

số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Ở đó học sinh lựa chọncách giải quyết tối ưu nhất, nhằm tập duyệt để kịp thời ứng phó khi bắt gặp vấn

đề xảy ra trong cuộc sống Từ đó giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đềbằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một

sự kiện cụ thể mà các em quan sát từ vai của mình Đây là hình thức dạy học hấpdẫn, thu hút học sinh Thay vì tiếp nhận kiến thức một cách khô khan theo lốidạy học truyền thống, với hình thức sân khấu hóa, các em được trải nghiệm thực

tế, được hóa thân vào nhân vật, có cảm xúc và tự cảm nhận về nhân vật, từ đóhiểu và khắc sâu kiến thức hơn qua từng bài học Đặc biệt trong những năm gầnđây, với chương trình đổi mới, với yêu cầu dạy học và đánh giá theo định hướngphát triển năng lực của học sinh thì đóng vai là phương pháp đem lại hiệu quảtối ưu

1.1.2 Những ưu điểm và hạn chế khi sử dụng phương pháp đóng vai

* Ưu điểm

- Phương pháp đóng vai gây hứng thú và chú ý cho học sinh, các em có cơhội bộc lộ cảm xúc, hình thành những kỹ năng giao tiếp

- Tạo điều kiện phát huy tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng của các em

- Rèn luyện tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước tập thể

- Thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường antoàn, được giám sát trước khi xảy ra tình huống thực Khích lệ sự thay đổi thái

độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực

- Giúp HS phát huy được khả năng của từng cá nhân cũng như sự phốihợp chặt chẽ, khả năng hợp tác của cá nhân với tập thể nhóm tạo cơ hội cho các

cá nhân học hỏi, đánh giá lẫn nhau

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả lời nói và việc làm của các vaidiễn

- Thu hút được tất cả các học sinh tham gia, đặc biệt là học sinh học yếu,tạo khí thế học tập cho cả lớp

* Hạn chế

- Là phương pháp tốn nhiều thời gian, nếu không giao nhiệm vụ về nhàchuẩn bị trước hoặc không sử dụng phương pháp thường xuyên thì học sinh bịđộng trong quá trình thực hiện, khó thành công

- Một số học sinh còn rụt rè, thiếu tự tin khi đứng trước tập thể, vốn kiếnthức từ ngữ ít khó thực hiện vai diễn của mình

1.1.3 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai

- Phương pháp đóng vai không khuyến khích sử dụng trong tất cả cáckhâu lên lớp, tất cả nội dung bài học, GV chỉ nên chọn nội dung phù hợp đểđóng vai tránh lặp lại nhàm chán

Trang 4

- Trong quá trình lên lớp, cần kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạyhọc tích cực khác để tăng hiệu quả của hoạt động dạy học.

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứatuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

- Tình huống cần để mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, cách ứng xửphù hợp; không cho trước “kịch bản”, lời thoại

- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

- Trong khi học sinh thảo luận và chuẩn bị đóng vai, giáo viên nên theosát quá trình thực hiện nhiệm vụ của học sinh, lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ họcsinh khi cần thiết

- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của hình thứcđóng vai

1.1.4 Cách thức tiến hành phương pháp đóng vai có thể tóm tắt như sau:

Bước 1: Giáo viên đưa chủ đề, chia lớp thành từng nhóm và giao tình

huống cho các nhóm Đồng thời quy định rõ về thời gian thảo luận, thời gianđóng vai

Bước 2: Các nhóm phân chia vai diễn, thảo luận đóng vai.

Bước 3: Các nhóm lần lượt thực hành đóng vai.

Bước 4: Các thành viên còn lại trong lớp nhận xét, đánh giá về cảm xúc,

cách ứng xử của nhân vật đóng vai

Bước 5: Giáo viên đánh giá, kết luận và định hướng về cách ứng xử phù

hợp nhất

Việc lồng ghép khéo léo các phương pháp dạy học trong bộ môn Ngữ văn

là chất keo kết dính hiệu quả nhất để thu hút chú ý theo dõi của học sinh đối vớivăn bản, và như vậy có nghĩa là giáo viên đã tạo được sự linh động hấp dẫn vớibài giảng của mình Trong dạy học phương pháp đóng vai là một trong nhữngphương pháp dạy học chủ động, ngày càng được ứng dụng rộng rãi, là phươngpháp dạy học cơ bản để dạy về kỹ năng giao tiếp - một kỹ năng cần thiết và quantrọng để người học hoạt động được trong một tập thể, cộng đồng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm kiểu bài dạy truyện ngắn ở trường THPT

- Truyện ngắn là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoayquanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó Truyện ngắn có phương thứctrình bày một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia cuối cùng đi đếnmột kết thúc, thể hiện một ý nghĩa Truyện ngắn phản ánh hiện thực đời sốngmột cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, hiện tượng, con người, …thôngqua nhân vật, cốt truyện bởi một người kể chuyện nào đó Đây là một thuận lợirất lớn đối với phương pháp dạy học đóng vai, vì thực chất quá trình đóng vai làhóa thân vào nhân vật, vào người kể chuyện để thể hiện các sự việc, sự kiện, …nào đó, cuối cùng rút ra ý nghĩa

- Trong chương trình Ngữ văn THPT, truyện ngắn chiếm một số lượnglớn Mỗi một tác phẩm được đưa vào giảng dạy tiêu biểu cho một dòng văn học,

Trang 5

tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của một tác giả, là tác phẩm đặc sắc trong nềnvăn học nước nhà Trong khi đó thời gian trên lớp dành cho mỗi bài khôngnhiều, do áp lực về thời gian, kiến thức, về hình thức kiểm tra, đánh giá, giáoviên khi dạy truyện ngắn vẫn chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp lên lớp, cáchình thức lên lớp còn đơn điệu nên tiết học còn trầm, học sinh còn mang tâm líchán nản, thiếu hứng thú, không thích học môn Ngữ văn Giáo viên dạy có tíchhợp kỹ năng sống qua mỗi bài dạy nhưng do hình thức chưa đổi mới nên phầngiáo dục kỹ năng có phần gượng ép, chưa mang lại hiệu quả cao.

- Truyện ngắn là một nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp

11, cho nên để giúp các em hiểu và nhớ lâu thì đổi mới phương pháp tiếp cậnmột truyện ngắn là điều cần thiết

1.2.2 Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay

Nói đến phương pháp dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện naykhông thể không nhắc tới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học vănkhiến học sinh cảm thấy mất hứng thú, một trong những vấn đề đó là: Dạy họcđọc chép trong môn văn trước đây và môn ngữ văn rất phổ biến ở các trườngphổ thông hiện nay Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lò luyện thi.Thầy cô đọc trước, học sinh chép sau, hay thầy cô vừa đọc vừa ghi bảng rồi họcsinh chép theo

Trong suốt quá trình thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, việc giảng dạychương trình luôn đi đôi với đổi mới phương pháp dạy học Các phương phápgiáo dục trước đây đã cho thấy những mặt hạn chế là chưa phát huy được tínhtích cực và sự hứng thú học tập cho học sinh Trong những năm đầu đổi mớigiáo dục, rất nhiều những phương pháp dạy học mới đã được vận dụng vào quátrình giảng dạy Mỗi phương pháp đều có giá trị riêng và tính hiệu quả haykhông hiệu quả của phương pháp phụ thuộc phần lớn vào khả năng vận dụngcủa giáo viên

Trong nhiều năm giảng dạy qua, điều làm tôi băn khoăn nhất là một sốhọc sinh vẫn còn rất thụ động, tự ti, kĩ năng giao tiếp rất kém; các em có biểuhiện rụt rè, không tham gia vào các hoạt động trên lớp Trước tình hình học sinhnhư thế, thiết nghĩ người giáo viên cần phải làm mọi cách để giúp đỡ các em cóđược sự tự tin về bản thân, sự hứng thú, chủ động trong học tập; giúp các emtừng bước hoàn thiện để phát triển những kĩ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu

Từ đó, tôi đã mạnh dạn vận dụng, kết hợp sáng tạo những phương pháp dạy họcmới vừa được tiếp cận vào thực tế giảng dạy mà cụ thể là sử dụng phương phápđóng vai vào tìm hiểu văn bản văn học

1.2.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sử dụng PPĐV vào dạy học

Để có cơ sở thực tiễn cho việc ứng dụng PPĐV ở trường THPT đạt hiệu quả cao, tôi đã tiến hành điều tra về nhận thức, mức độ sử dụng của 30 giáo viêndạy Ngữ văn ở 3 trường THPT trên địa bàn Kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về sử dụng PPĐV

trong dạy học ở trường THPT

Trang 6

Thực trạng trên cho thấy cần phải đẩy mạnh quá trình đổi mới phươngpháp dạy học môn Ngữ văn, giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi thiết bị, phươngpháp dạy học phù hợp để khơi dậy niềm hứng thú của các em.

1.2.2.1 Về phía giáo viên

Đa số giáo viên còn ngại sự thay đổi trong phương pháp dạy học, nếu cócũng chỉ ở mức độ sử dụng chưa phổ biến, đa số giáo viên sử dụng trong các tiếthội giảng, có người dự giờ nhận xét, đánh giá; sử dụng chưa đồng bộ ở một sốgiáo viên, ở một số bài học, lớp học, …và mức độ sử dụng phương pháp dạy họcđóng vai trong tiết học mới chỉ dừng lại ở việc giúp giáo viên triển khai kiếnthức thuận lợi hơn, học sinh hứng thú hơn trong một số tiết học

1.2.2.2 Về phía học sinh

- Khi tìm hiểu các văn bản truyện ngắn, yêu cầu học sinh phải đọc nhiều,chép nhiều, học thuộc nhiều chi tiết, nắm được cốt truyện và tóm tắt lại đượccho nên phương pháp dạy học chưa sáng tạo là một trong những nguyên nhândẫn đến thái độ học tập chưa tích cực ở môn Ngữ văn của các em học sinh

- Đa số HS không đọc tác phẩm, soạn bài một cách đối phó Thôngthường, các em sử dụng tài liệu, chép lại một cách thụ động, nhiều em còn mượn

vở ghi của anh chị lớp trước hay bạn bè lớp khác đã học rồi chép lại “một côngđôi việc” vừa có soạn bài, vừa để nếu GV có gọi hỏi bài mà nhìn vào đó trả lời

2 Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản “Chữ người

tử tù” của Nguyễn Tuân

Trang 7

Trong quá trình đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù”, để tránh nhàm chán

trong việc dạy học, chúng tôi đã kết hợp linh động các phương pháp dạy học

khác nhau và chỉ sử dụng phương pháp dạy học đóng vai vào “Cảnh cho chữ”

để làm nổi bật giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Nội dung 1 - Tình huống truyện

Giao nhiệm vụ đóng vai Nội dung 2

Tìm hiểu các nhân vật

- Nhân vật Huấn Cao

- Nhân vật Viên quản ngục

Nội dung 3 - Cảnh cho chữ (Thực nghiệm phương pháp dạy học đóng vai

2.1 “Cảnh cho chữ” trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một cảnh

nằm ở cuối tác phẩm nhưng là điểm sáng cho cả thiên truyện Thủ pháp đối lậpđược nhà văn khai thác triệt để đã tạo ra ấn tượng đó: đối lập giữa ánh sáng vàbóng tối, đối lập giữa cái đẹp và sự nhơ bẩn, nhem nhuốc, đối lập giữa thiênlương và tội ác

Ba con người ở vị trí đối địch được cái đẹp nghệ thuật tập hợp lại, tạo nên

một cảnh tượng thật cảm động: “Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”.

Tác giả gọi đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Đúng là một

cảnh tượng hết sức kì lạ ở trong trại giam, trong đó mọi trật tự thông thường đều

bị đảo ngược: nơi ngục thất tăm tối bỗng rực rỡ lửa hồng, chốn trại giam bẩn

thỉu “tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián” bỗng trở thành

nơi sáng tạo nghệ thuật Lạ hơn nữa là nhà tù lại là nơi tù nhân làm chủ: một tử

tù tư thế hiên ngang lồng lộng, đường hoàng dõng dạc răn dạy ngục quan Cònngục quan thì cúi đầu khúm núm: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” …

2.2 Kế hoạch thực hiện phương pháp dạy học đóng vai trong dạy

học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

2.2.1 Quy trình sử dụng phương pháp dạy học đóng vai

Bước 1:

Trang 8

- GV chuẩn bị tình huống đóng vai: “Cảnh cho chữ” các vai diễn sẽ làm

rõ bức tranh nghệ thuật đối lập tương phản “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

- Chia nhóm, giao nhiệm cụ cho từng nhóm (Chia theo hệ thống bài họcnên nhóm 3 sẽ đảm nhận nhiệm vụ đóng vai nhân vật trong văn bản)

Nhóm 3: Cảnh cho chữ (Nhóm thực hiện phương pháp đóng vai)

Nhóm 1: Cảm nhận về vai diễn

Nhóm 2: Nhận xét qua phiếu đánh giá

Nhóm 4: Rút ra được bài học gì qua vai diễn

- Lập địa chỉ liên lạc giữa GV và HS để trao đổi thông tin, “cố vấn” cho

HS khi cần thiết

- Thời gian chuẩn bị: hai ngày;

- Thời gian báo cáo: nhóm 1 không quá 15 phút; nhóm 2,3,4 không quá 7phút mỗi nhóm

BẢNG HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

Yêu cầu cần

đạt

NHÓM 3: Phải thể hiện được Cảnh tượng ông Huấn Cao cho chữ

viên quản ngục đúng là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

NHÓM 1: Cảm nhận được gì qua vai diễn của nhóm 3 để tiến hành phản biện, chất vấn nhóm 3.

NHÓM 2: Nhận xét qua phiếu đánh giá (Phụ lục) NHÓM 4: Rút ra được chủ đề của bài học.

Bước 2: Các nhóm tiến hành nhiệm vụ được giao

- Thảo luận xây dựng kịch bản

Trang 9

- Phân công nhiệm vụ của từng thành viên một cách khoa học: trưởngnhóm, thư ký, vai diễn, chuẩn bị đạo cụ … (Sử dụng phiếu phân công nhiệm vụ

oử mục Phụ lục)

- Tiến hành tập luyện vai diễn theo kịch bản, đảm bảo thời gian quy định

- Thể hiện kịch bản và vai diễn trước lớp đúng theo yêu cầu của GV

- Các nhóm còn lại có thể linh động sử dụng các phương pháp khác nhautạo nên tiết học hấp dẫn, sinh động

Dạy học theo phương pháp đóng vai trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”

là hình thức tổ chức cho học sinh đóng vai các nhân vật trong văn bản Thay vìcho các em đọc tác phẩm, GV có thể phân vai, cho HS có thời gian chuẩn bị, sau

đó tái hiện lại nhân vật trong SGK Ở hình thức đóng vai này, HS có thể kết hợpthêm một số lời thoại khác (không khác nhiều với văn bản), kết hợp ngôn ngữ,điệu bộ, … để trình bày con người, về hoàn cảnh, sự kiện, … bằng suy nghĩ chủquan của người trong cuộc Kiểu đóng vai tái hiện này GV, HS không cần thờigian chuẩn bị nhiều, có thể đóng vai trực tiếp trong giờ học, đặc biệt thuận lợitrong hoạt động hình thành kiến thức mới Tuy nhiên, GV không nên sử dụngkiểu đóng vai tái hiện trong một lượng thời gian quá dài hoặc lượng kiến thứcnhiều vì rất dễ gây nhàm chán Để tăng hiệu quả của phương pháp đóng vainhân vật tái hiện, một nhân vật nhưng có thể cho nhiều nhóm đóng vai theo từng

sự việc (từng nội dung) theo bố cục bài dạy

Ưu điểm của phương pháp này là giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn

vì muốn “diễn” được, học sinh phải đọc kĩ, nắm được các tình tiết, sự kiện và cảdiễn biến tâm lí nhân vật trong SGK, thậm chí, nếu có thời gian, các em còn cóthể học thuộc lời thoại Thêm vào đó là quá trình sáng tạo kịch bản không mấtnhiều thời gian vì thực chất chỉ là “kịch bản hóa” tác phẩm tự sự

Học sinh hứng thú hơn trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức và điềuquan trọng là lượng kiến thức lưu lại trong các em sâu sắc hơn, dễ nhớ, dễ hiểuhơn

Hạn chế của phương pháp đóng vai khi áp dụng vào văn bản “Chữ người

tử tù” đó là vì diễn trực tiếp nên những em hoạt ngôn sẽ có lợi hơn, sẽ ứng xử và

xử lí các tình huống tốt hơn Tuy nhiên nhược điểm nhưng nếu giáo viên khéoléo khơi gợi, động viên, khích lệ thì những bạn nhút nhát, rụt rè cũng sẽ thamgia và dần hình thành ở các em kĩ năng ứng xử tốt trong giao tiếp

3 Giáo án thực nghiệm của việc sử dụng phương pháp đóng vai trong

dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân văn bản “Chữ người

tử tù” của Nguyễn Tuân

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Trang 10

b/ Thông hiểu: - Hiểu được quan niệm về cái Đẹp của Nguyễn Tuân

c/Vận dụng thấp: Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật củaNguyễn Tuân

d/Vận dụng cao:- Vận dụng hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử xã hội để lí giải nộidung, nghệ thuật của tác phẩm văn học

2 Kĩ năng :

a/ Biết làm: bài đọc hiểu về truyện ngắn của Nguyễn Tuân

b/ Thông thạo: sử dụng tiếng Việt khi trình bày một bài nghị luận về một tácphẩm, đoạn trích văn xuôi

3.Thái độ :

a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản

b/ Hình thành tính cách: tự tin khi trình bày kiến thức về truyện ngắn củaNguyễn Tuân

c/Hình thành nhân cách: có tâm hồn nghệ sĩ, biết yêu cái đẹp, lên án cái ác, cáixấu

Biết yêu quí, trân trọng cái tài, cái đẹp, cái thiên lương

4 Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:

-Năng lực giải quyết vấn đề: lí giải vấn đề đời sống được thể hiện qua tác phẩm

sự đề cao cái đẹp, đề cao thiên lương của con người;

-Năng lực sáng tạo: học sinh xác định và hiểu được những ý tưởng mà tác giảmuốn gửi gắm Trình bày được suy nghĩ của mình trước giá trị cuộc sống đượcthể hiện qua tác phẩm

- Năng lực hợp tác: HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau qua hoạt động thảo luậnnhĩm

- Năng lực giao tiếp TV: HS giao tiếp cùng tác giả qua văn bản, nâng cao khảnăng sử dụng tiếng Việt

Trang 11

- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ: HS cảm nhận vẻ đẹp ngônngữ văn học-tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân; biết rungđộng trước cái đẹp nhân cách và tài năng của nhân vật.

III Chuẩn bị

1 Giáo viên: Soạn giáo án- SGK, SGV, Tài liệu tham khảo- Sưu tầm tranh, ảnh phóng to chân dung Nguyễn Tuân; tác phẩm Vang bóng một thời; một bức thư

pháp trên giấy gió viết chữ Tâm, Đức, Trí, hay Phúc, Lộc, Thọ

2.Học sinh: Chuẩn bị bài soạn

IV Tổ chức dạy và học.

1 Ổn định tổ chức lớp:

- Kiểm tra sĩ số, trật tự của lớp

2 Kiểm tra bài cũ

- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

- GV nhận xét và dẫn vào bài mới: Dựa vào những câu

chuyện do người cha Nguyễn An Lan kể lại về nhà

nho, nhà thơ Chu Thần Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân

sáng tạo nên hình tượng nhân vật Huấn Cao, thổi linh

hồn truyện ngắn cho “Chữ người tử tù” Cho đến bây

giờ và có lẽ còn lâu nữa, người ta vẫn không biết dòng

chữ cuối cùng ông Huấn để lại cho quản ngục nhà lao

tỉnh Sơn là chữ gì Nhưng điều đó không mấy quan

trọng Chỉ biết rằng nhân cách, khí phách và tâm hồn

nhân vật và tác giả thì vẫn sáng mãi.

- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học.

- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ.

- Có thái độ tích cực, hứng thú

 2 HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

Hoạt động của GV - HS Kiến thức cần đạt Năng lực cần

hình thành

Trang 12

Họat động 1: TÌM HIỂU CHUNG

- Nêu vài nét về tác giả Nguyễn Tuân?

Xuất xứ của truyện “Chữ người tử tù”?

HS đọc tiểu dẫn SGK và tóm tắt ý

chính

Nhiều bút danh:

+Thanh Hà (Thanh hoá- Hà Nội) nơi khởi

nghiệp sự nghiệp văn chương của ông

+ Ngột lôi quật: Ngột ngạt quá muốn làm

Thiên lôi quật phá lung tung

+ Ân Ngũ Tuyên: Nguyễn Tuân

+ Nhất Lang: Chàng trai số 1

+ Tuấn thừa sắc: Tuân.

- Tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời

+ Được in lần đầu 1940 gồm 11 truyện

ngắn viết về một thời đã xa nay chỉ còn

vang bóng

+ Nhân vật chính: Phần lớn là nho sĩ cuối

mùa - những con người tài hoa, bất đắc

chí, dùng cái tôi tài hoa ngông nghênh và

sự thiên lương để đối lập với xã hội phàm

tục.

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả.

Nguyễn Tuân: 1910 1987 Người Hà nội

Sinh ra trong một gia đình nhà nho.

- Ông là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, phong cách nghệ thuật độc đáo: Luôn tiếp cận cuộc sống từ góc độ tài hoa uyên bác ở phương diện văn hoá, nghệ thuật.

được in trong tập truyện:

Vang bóng một thời.

Là ‘‘một văn phẩm đạt tới sự toàn thiện, toàn mĩ’’ (Vũ Ngọc Phan)

-Năng lực thu thập thông tin.

-Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra.

Năng lực giao tiếp tiếng Việt

Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản

Đọc - kể tóm tắt, phân tích bố cục

-Yêu cầu giọng đọc: GV đọc hoặc đoạn

đầu, hoặc đoạn cho chữ; gọi 3 - 4 HS đọc

tiếp một số đoạn khác; nhận xét cách đọc;

-Kể tóm tắt:

- GV hỏi: Hiểu khái niệm tình huống và

vai trò của tình huống trong truyện? Trong

Chữ người tử tù, tác giả đã xây dựng tình

II Đọc hiểu văn bản:

1 Tình huống truyện :

- Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường :

+ Viên quản ngục- kẻ đại diện cho quyền lực tăm tối nhưng lại khao khát ánh sáng và chữ nghĩa.

+ Huấn Cao – người tử tù

- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tư duy

Trang 13

huống truyện như thế nào?

những câu thoại ngắn của các nhân vật,

cần đọc với giọng phù hợp Ví dụ câu ông

Huấn trả lời quản ngục, những câu trao đổi

giữa quản ngục và thầy thơ lại, câu Huấn

Cao khuyên quản ngục trong đêm cho chữ

và câu trả lời của quản ngục

HS có thể kể một vài đoạn không đọc vì

văn bản khá dài, sau đó có thể kể tóm tắt

toàn truyện Nhưng nhất thiết đoạn cho

chữ phải được đọc diễn cảm.

HS trả lời cá nhân

- Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên

quản ngục trong tình thế đối nghịch, éo le:

+ Xét trên bình diện xã hội:

o Quản ngục là người địa diện cho trật tự

xã hội, có quyền giam cầm, tra tấn.

o Huấn Cao là người nổi loạn, đang chờ

chịu tội.

+ Xét trên bình diện nghệ thuật:

o Họ đều có tâm hồn nghệ sĩ.

o Huấn Cao là người tài hoa: coi thường,

khinh bỉ những kẻ ở chốn nhơ nhuốc.

o Quản ngục: biết quý trọng, tôn thờ cái

đẹp, yêu nghệ thuật thư pháp, xin chữ

Huấn Cao.

- Kịch tính lên đến đỉnh điểm khi viên

quản ngục nhận lệnh chuyển các tử tù ra

pháp trường.

GV chốt lại: Tình huống truyện là tình thế

xảy ra truyện; khoảng khắc sự sống hiện ra

rất đậm đặc, khoảng khắc có khi chứa

đựng cả một đời người, thể hiện mâu

có tài viết chữ đẹp, chống lại triều đình phong kiến.

→ Cuộc hội ngộ diễn ra giữa chốn ngục tù căng thẳng, kịch tính, có ý nghĩa đối đầu giữ cái đẹp cái thiên lương>< quyền lực tội ác → cái đẹp, cái thiên lương đã thắng thế - Năng lực

giải quyết những tình huống đặt ra.

Trang 14

thuẫn hoặc quan hệ giữa nhân vật này với

nhân vật khác hoặc mâu thuẫn trong lòng

một nhân vật, quan hệ giữa nhân vật và xã

hội, môi trường góp phần thể hiện chủ

đề.

Thao tác 2: Tổ chức cho HS thảo luận

nhóm:

Nhóm 1.

- Tại sao Huấn Cao bị bắt? Vẻ đẹp của

hình tượng Huấn cao được thể hiện ở

những phương diện nào?

GV:Chữ Huấn Cao không chỉ đẹp vuông

mà còn nói lên hoài bão tung hoành của

một đời người.

Huấn Cao gợi người đọc nghĩ đến Cao Bá

Quát - một danh sĩ đời Nguyễn- cầm đầu

cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống triều

đình Tự Đức bị thất bại: Nhất sinh đê thủ

bái hoa mai.

Nhóm 2.

Theo em, quản ngục có phải người xấu, kẻ

ác không? Vì sao? Vì sao quản ngục lại

biệt đãi Huấn Cao như vậy? Có phải chỉ vì

ông tìm mọi cách xin chữ của ông Huấn?

Em hiểu nghĩa cụm từ biệt nhỡn liên tài là

thế nào? Câu nói cuối cùng của quản ngục

(Kẻ mê muội này xin bái lĩnh) có ý nghĩa

gì?

Nhóm 3.

Tái hiện lại cảnh cho chữ sao cho nổi bật

đó là một cảnh tượng xưa nay chưa từng

có như tác giả đề cập (Các nhóm tiếp tục

tìm hiểu, nhận xét thêm)

Nhóm 4.

Nêu ý nghĩa cảnh cho chữ?

* Nhóm 1 trình bày:

- Kẻ cầm đầu cuộc đại nghịch chống triều

đình bị bắt giam với án tử hình đang chờ

ngày ra pháp trường.

2 Nhân vật Huấn Cao.

a Một người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp:

- Người khắp vùng tỉnh Sơn khen Huấn Cao là

người có tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”

 Tài viết chữ Hán - nghệ thuật thư pháp

- “ Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm … có được chữ ông Huấn mà treo là

có một báu vật ở trên đời”.

- Ca ngợi tài của Huấn Cao, nhà văn thể hiện quan niệm và tư tưởng nghệ thuật của mình:

+ Kính trọng, ngưỡng mộ

người tài, + Trân trọng nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dân tộc.

b Một con người có khí phách hiên ngang bất khuất:

- Là thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình.

- Ngay khi đặt chân vào nhà ngục:

+ Trước câu nói của tên lính áp giải: không thèm để

ý, không thèm chấp.

+ Thản nhiên rũ rệp trên thang gông:

-Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận nhóm

Năng lực sáng tạo Năng lực cảm thụ, thưởng thức cái đẹp

Trang 15

- Phẩm chất:

+Tài hoa, nghệ sĩ: Có tài viết chữ rất

nhanh và rất đẹp Có được chữ Huấn

Cao mà treo là có một vật báu trên

đời Thế ra y văn võ đều có tài cả

+ Nhân cách trong sáng, trọng nghĩa

khinh lợi, có tài có tâm, coi khinh tiền bạc

và quyền thế Huấn Cao không chỉ là một

nghệ sỹ tài hoa, mà còn là hiện thân của

cái tâm kẻ sỹ Có tấm lòng biệt nhỡn liên

tài, một thiên lương cao cả.

+ Khí phách hiên ngang: Coi thường cái

chết, Mặc dù đang chờ ngày ra chặt đầu,

vẫn nguyên vẹn tư thế ung dung, đàng

hoàng, không biết cúi đầu trước quyền lực

và đồng tiền Ta nhất sinh không vì tiền

bạc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối

đời ta mới viết cho ba người bạn

thân…

- Hiểu tấm lòng và sở thích cao quí của

thầy Quản, ông vô cùng xúc động và ân

hận: Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một

tấm lòng trong thiên hạ.

“Huấn Cao lạnh lùng … nâu đen”

 Đó là khí phách, tiết tháo của nhà Nho uy vũ bất nắng khuất.

- Khi được viên quản ngục

biệt đãi: “Thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”

 phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết.

- Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt đến điều

“Ngươi hỏi ta muốn gì vào đây”.

 Không quy luỵ trước cường quyền.

=> Đó là khí phách của một người anh hùng.

c Một nhân cách, một thiên lương cao cả:

- Tâm hồn trong sáng, cao đẹp:

“Không vì vàng ngọc hay quyền thê mà ép mình viết câu đối bao giờ”, và chỉ mới cho chữ “ba người bạn thân”

 trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỉ.

- Khi chưa biết tấm lòng của quản ngục: xem y là kẻ tiểu nhân

 đối xử coi thường, cao ngạo.

- Khi biết tấm lòng của quản ngục:

+ Cảm nhận được “Tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra “Sở thích cao quý”

-Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận

Ngày đăng: 23/01/2022, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Trần Thanh Bình, Dạy học tích hợp môn Ngữ Văn, Nxb giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2017 Khác
2. Nguyễn Văn Chữ, Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương, NXB Đại học sư phạm, 2015 Khác
3. TS Lê Văn Hảo, Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, nxb Giáo dục, 2011 Khác
4. Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên), Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật, NXB Đại học Sư phạm, 2014 Khác
5. Phạm Thị Thu Hương, Giáo trình thực hành dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Khác
6. Phan Trọng Luận (chủ biên), Phương pháp dạy học văn, NXB ĐH Sư phạm, 2012 Khác
7. Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w