Việc tìm hiểu pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa sẽ giúp nhận thức rõ và làm đúng, góp phần phát triển văn hóa dân tộc.. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Phòng thi: 004
Trang 2M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 1
4 Ph ạm vi nghiên cứu 1
5 Phương pháp nghiên cứu 2
N ỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA 3
1.1 Khái ni ệm và vai trò của văn hóa 3
1.1.1 Khái ni ệm văn hóa 3
1.1.2 Vai trò c ủa văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội 3
1.2 Khái ni ệm và phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa 4
1.2.1 Khái ni ệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa 4
1.2.2 Phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa 5
1.3 N ội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa 6
1.3.1 Qu ản lý Nhà nước về văn hóa nghệ thuật 6
1.3.2 Qu ản lý Nhà nước về văn hóa – xã hội 7
1.3.3 Qu ản lý Nhà nước về di sản văn hóa 8
1.4 X ử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa 10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ 12
2.1 Th ực trạng quản lý nhà nước về văn hóa 12
2.2 Ki ến nghị hoàn thiện đối với các vấn đề bất cập 13
K ẾT LUẬN 16
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 17
Trang 3M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa của pháp luật Việt Nam là một
vấn đề khá rộng Có nhiều văn bản pháp luật được ban hành để thi hành, điều chỉnh trong lĩnh vực này, bên cạnh một số mặt tích cực khi hệ thống pháp luật ngày càng
chặt chẽ, tiến bộ giúp cho việc quản lý dễ dàng, minh bạch hơn thì cũng còn một số vấn đề mà pháp luật còn chưa chạm tới để giải quyết triệt để được Văn hóa cũng là
một vấn đề hấp dẫn và đa dạng bao gồm nhiều mảng, nó mang lại nhiều giá trị vật
chất và tinh thần cho dân tộc Việt Nam Việc tìm hiểu pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa sẽ giúp nhận thức rõ và làm đúng, góp phần phát triển văn hóa dân tộc Đó là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa – Thực trạng và nhận xét, kiến nghị” làm đề tài tiểu luận
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ được đưa ra trong bài tiểu luận này chính là làm rõ được các mặt của quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa trên phương diện lý luận Từ đó xem xét trên thực trạng các vấn đề còn vướng mắc, cần được giải quyết và đưa ra các
kiến nghị phù hợp để giải quyết các vấn đề đó
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong bài tiểu luận là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa của pháp luật Việt Nam, cụ thể là các mặt như văn hóa nghệ thuật, văn hóa xã
hội, di sản văn hóa
4 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống pháp luật Việt Nam về quản
lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa với phạm vi điều chỉnh là các vấn đề về văn hóa
diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam Về mặt thực trạng, nghiên cứu về thực trạng quản lý
Trang 4nhà nước trong việc khai thác và sử dụng thế mạnh văn hóa của các địa phương trong giai đoạn ngành công nghiệp không khói đang phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Trong phương pháp nghiên cứu lý thuyết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết Phương pháp nghiên cứu thực tiễn sử dụng phương pháp điều tra tìm kiếm, phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Trang 5N ỘI DUNG
NƯỚC TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA
1.1 Khái niệm và vai trò của văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm phức tạp và đa nghĩa, khó có thể đưa ra định nghĩa cụ
thể về văn hóa nhưng có thể nói tóm gọn lại văn hóa là hệ thống các giá trị, truyền
thống và thị hiếu là những yếu tố để xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc, qua
thời gian được hình thành bởi tổng thể những hoạt động nhằm phát huy năng lực bản
chất của con người, thể hiện khát vọng vươn tới giá trị chân, thiện, mỹ nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội
Văn hóa có tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại Con người là sản phẩm văn hóa, đồng thời là chủ thể tạo ra văn hóa, điều kiện sinh hoạt văn hóa của các giai
cấp khác nhau tạo nên tư tưởng, tình cảm khác nhau sẽ tạo nên tính giai cấp của văn hóa Mỗi dân tộc có đặc điểm và lịch sử hình thành khác nhau sẽ tạo nên một nền văn hóa đặc trưng mang bản sắc của dân tộc đó Vươn tới cái tốt, cái đẹp là nét chung
của văn hóa nhân loại, là cốt lõi tạo nên sự phát triển xã hội loài người, là bản chất đích thực của văn hóa
1.1.2 Vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Bởi con người là sản
phẩm của văn hóa, những giá trị văn hóa sẽ làm nên những phẩm chất giá trị của con người Mà con người chính là lực lượng lao động tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội Con người càng phát triển hiện đại, khoa học kĩ thuật cũng ngày càng được con người phát triển để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Nhận thức được điều đó, việc nâng cao dân trí và
Trang 6đầu tư cho giáo dục là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới Con người càng tiến bộ, kinh tế - xã hội càng phát triển thì văn hóa càng chứng tỏ được vai trò
là động lực của mình
Vai trò là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội Nói văn hóa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội vì phát triển kinh tế phải hướng vào phát triển và hoàn thiện con người, hướng vào phát triển và hoàn thiện xã hội Phải coi văn hóa là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì mới có thể khắc phục được tình trạng mâu thuẫn
giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Nếu để kinh tế phát triển, đời sống vật
chất được nâng lên nhưng xã hội lại có sự gia tăng các tệ nạn, văn hóa, đạo đức xuống
thấp thì cũng sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững Cần phải phát triển song song
cả hai mặt, đó mới là yêu cầu của phát triển hiện đại
1.2 Khái niệm và phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa
Quản lý Nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam Nhà nước đại
diện cho nhân dân, đảm bảo cho mỗi công dân đều thực hiện các quyền về văn hóa như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác, phê bình tác phẩm nghệ thuật,… Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh tế và văn hóa
Nhà nước thực hiện quản lý bằng cách định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa theo hướng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hướng vào sự thống nhất tư tưởng, tuyên truyền thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tuân thủ Hiến pháp và làm việc đúng pháp luật, tăng cường hoạt động giáo dục xây dựng đạo đức tốt đẹp, lối sống lành mạnh
Chia hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa thành các mảng: quản lý Nhà nước đối với văn hóa nghệ thuật, quản lý Nhà nước đối với văn hóa xã hội và quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa
Trang 7Các cơ quan có nhiệm vụ, chức năng trong việc quản lý Nhà nước về văn hóa bao gồm:
- Ở trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển văn hóa trên phạm vi
cả nước Chính phủ có một số quyền hạn: trình dự án luật, pháp luật về hoạt động văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển văn hóa, ban hành quyết định quản lý nhà nước và các chính sách khác về văn hóa Bên cạnh đó, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch là cơ quan của Chính phủ, trực tiếp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa có nhiệm vụ xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản pháp luật khác về văn hóa theo sự phân công của Chính Phủ, ban hành quyết định, thông tư, chỉ thị về các hoạt động văn hóa,…
- Ở địa phương: Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, nhận nhiệm vụ thiết chế trực tiếp thực hiện các hoạt động văn hóa gồm nhiều cơ quan, tổ chức
1.2.2 Phương thức quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa
• Chính sách văn hóa được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Mục tiêu của chính sách văn hóa là nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân,
của các cấp, các ngành; huy động sức mạnh của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, động lực, là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngăn chặn nguy cơ mai một văn hóa, bảo tồn các di tích; phát huy việc thông tin với các dân tộc vùng sâu vùng
xa Và nội dung của chính sách văn hóa phải thể hiện được những đặc điểm cơ bản sau:
- Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn với hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa đồng thời bảo đảm yêu cầu chính
trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 8- Chính sách văn hóa trong kinh tế, đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ nét trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa
- Phát huy và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, hướng vào văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
- Khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, tăng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật, đầu tư cho lực lượng hoạt động văn hóa chuyên nghiệp và cho các phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng
- Xây dựng, ban hành chính sách đặc thù, hợp lý, hợp tình cho những đối tượng
xã hội cần được ưu đãi tham gia và hưởng thụ văn hóa
- Ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa Đa
dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ về văn hóa, nhằm tiếp thu những tinh hoa, kinh nghiệm phát triển của các nước, ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực
• Chính sách pháp luật trong quản lý văn hóa là không thể thiếu Pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển văn hóa Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy những văn hóa chất lượng, tiến bộ, loại bỏ những
hủ tục lạc hậu, kiềm hãm sự phát triển kinh tế Nhà nước đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Đã có rất nhiều văn bản pháp
luật về văn hóa được ban hành và thực hiện như Luật báo chí, Luật di sản văn hoá,
Luật sở hữu trí tuệ, Luật điện ảnh,… Bên cạnh đó, Nhà nước còn kí các hiệp ước
quốc tế trong lĩnh vực văn hóa như Công ước về việc sản xuất băng, đĩa,… nhằm phát triển văn hóa Việt Nam lên một tầm cao hơn, xa hơn, nhiều người biết đến hơn
1.3 Nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về văn hóa
1.3.1 Quản lý Nhà nước về văn hóa nghệ thuật
Văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa bao gồm âm nhạc, hội họa, văn học, sân khấu, điện ảnh, và một số lĩnh vực khác Văn hóa nghệ thuật thuộc loại hình văn hóa tinh thần Văn hóa nghệ thuật không chỉ bao gồm những giá trị nghệ thuật
Trang 9được kết tinh qua các bản nhạc, bộ phim, cuốn sách,… mà còn là tổng thể những mối quan hệ tạo nên được những tác phẩm đó chẳng hạn như đội ngũ văn nghệ sĩ, người
cảm thụ nghệ thuật, những người phê bình, đánh giá nghệ thuật Như vậy, trong hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa, nhà nước phải quan tâm đến tất cả các yếu tố tạo nên văn hóa nghệ thuật, nhằm mục đích phát huy khả năng sáng tạo, khai thác mạnh
mẽ tiềm năng sáng tạo, đưa văn hóa nghệ thuật phát triển lên một bước mới
Để đảm bảo quyền và lợi ích của những tác giả sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, tránh tạo sự ăn cắp chất xám của người khác, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề sở hữu trí tuệ, ban hành Luật sở hữu trí tuệ và gần đây nhất là Luật sở
hữu trí tuệ 2019 Luật sở hữu trí tuệ được ban hành nhằm mục đích tạo điều kiện cho tác giả được có quyền đối với chính tác phẩm của mình, gắn với các giá trị nhân thân
và giá trị tài sản, không ai có quyền đạo nhái, sao chép mà không có sự đồng ý của tác giả, đảm bảo sự công bằng, khuyến khích mọi người ai cũng có thể sáng tác, tạo nên những tác phẩm có ý nghĩa, giá trị Bộ khoa học và công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc chủ trì, phối hợp với Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích việc phát triển các loại hình điện ảnh Thông qua những tác phẩm điện ảnh thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng, tình cảm, nâng cao dân trí Chính sách cụ thể về quản lý hoạt động điện ảnh được xác định cụ thể trong Luật điện ảnh năm 2020 Nhà nước khuyến khích việc mở rộng giao lưu
quốc tế về điện ảnh, khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo trong lĩnh
vực của mình Tạo điều kiện xây dựng các phim trường, rạp chiếu phim,… Các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phổ biến phim gồm Bộ văn hóa, thể thao và du lịch, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng giám đốc đài truyền hình Việt Nam và Giám đốc đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh
1.3.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa – xã hội
Để đánh giá một xã hội có phát triển hay không, không chỉ dựa vào những con số
Trang 10cụ thể, chỉ số thu nhập bình quân đầu người, những con số tăng trưởng kinh tế mà còn phải nhìn nhận, đánh giá cả về vấn đề trật tự an toàn xã hội, lối sống, đạo đức,
mối quan hệ giữa con người với nhau, chất lượng cuộc sống có ổn định không, sống
có vui vẻ, an toàn không Nhà nước quản lý về văn hóa xã hội là thực hiện những
hoạt động quản lý nhằm ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền
thống, xây dựng nếp sống văn hóa mới Mục đích của quản lý Nhà nước về văn hóa
xã hội là xây dựng nếp sống đẹp, văn minh, hiện đại, hòa nhập
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định những khuôn mẫu ứng
xử trong giao tiếp, hưởng thụ, trong sinh hoạt cộng đồng, đồng thời cũng nghiêm
cấm, bài trừ những hành động bị xem là vô văn hóa, sai lệch chuẩn mực xã hội Để thực hiện tốt những điều này, các chủ thể quản lý cần nhận thức đúng đắn về những
vấn đề cơ bản của lối sống, nếp sống gắn liền với tình hình diễn biến trên phạm vi trong và ngoài nước; nâng cao năng suất lao động; phát huy tính tích cực chính trị -
xã hội trong mỗi con người đều có ý thức về một lối sống đẹp, sống đạo đức; khôi phục những thuần phong mỹ tục và xây dựng nếp sống mới, phân biệt được cái gì là
lễ giáo phong kiến, cái gì là nét truyền thống đẹp về lối sống đạo đức
1.3.3 Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Vì vậy, nhằm để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về văn hóa của nhân dân, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Nhà nước đã ban hành Luật di sản văn hóa 2013
Các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về văn hóa; Bộ văn hóa, thể thao và du lịch chịu trách nhiệm trước chính phủ trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi và quyền hạn của mình thực hiện việc