Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng và các vụ án thực tế cụ thể, tác giả nghiên cứu chuyên sâu những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật hình sự hiện hành so với
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
NGUYỄN PHƯỚC VINH
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT
NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
NGUYỄN PHƯỚC VINH
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT
NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đề cập trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và chính xác
Tác giả luận văn
Nguyễn Phước Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 9
1.2 Quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 18
1.3 Phân biệt Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm với tội phạm có liên quan 26
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI 30
2.1 Khái quát các yếu tố tự nhiên, xã hội của tỉnh Đồng Nai có ảnh hưởng đến việc xử lý Tội phạm vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 30
2.2 Thực tiễn xử lý Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 39
2.3 Khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh và áp dụng hình phạt đối với Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai 53
2.4 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc 59
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI VIỆC XỬ LÝ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 63
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 63
3.2 Giải pháp tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật 66
3.3 Giải pháp khác 69
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra ĐDSH: Đa dạng sinh học ĐTD: Định tội danh ĐVHD: Động vật hoang dã TAND: Tòa án nhân dân TTHS: Tố tụng hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hệ sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 31 Bảng 2.2 Danh mục các loài thú quý hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 32 Bảng 2.3 Danh mục các loài chim quý hiếm trên địa bàn Đồng Nai 34 Bảng 2.4: Số vụ và số người phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020 38 Bảng 2.5 Một số hành vi vi phạm phổ biến trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới và là một trong mười trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất trên thế giới về nhiều kiểu hệ sinh thái với hơn 11.400 loài thực vật bậc cao, 1.030 loài rêu, 310 loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch, nhái, trên 700 loài cá nước ngọt và khoảng 2.000 loài cá biển đã được ghi nhận [3]
Với tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm trong công tác bảo tồn tính đa dang sinh học; từ năm 1994 sau khi trở thành thành viên thứ 121/178 của Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang
dã nguy cấp (CITES) đến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để nội luật hóa các quy định của Công ước như: Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004; Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008; Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017; Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước
về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019: Sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nước ta đã trở thành trung tâm quan trọng về buôn bán và sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã ở Đông - Nam Á và là địa bàn trung chuyển lớn trong khu vực về buôn bán các sản phẩm từ động vật hoang dã Ước tính hàng năm ở Việt Nam có tới 3.700 đến 4.500 tấn động vật hoang dã (không bao gồm các loài thủy sinh) bị săn bắt, giết, nuôi, nhốt trái phép để
sử dụng làm thức ăn, dược liệu và sinh vật cảnh [3] Vấn nạn trên đã dẫn đến tính đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy thoái với tốc độ rất nhanh, các khu vực có
Trang 8tính đa dạng sinh học cao đang dần dần bị thu hẹp về diện tích, chất lượng dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại về quần thể tự nhiên của các loài; trong đó nhiều loài động vật nguy cấp, quý, hiếm đã và đang bị suy giảm mạnh và có nguy
cơ tuyệt chủng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự mất cân bằng sinh thái và tính ổn định đa dạng sinh học ở nước ta
Trước tình hình trên, Việt Nam đang trở thành một nhân tố quyết định trong việc đấu tranh, ngăn chặn và triệt phá các đường dây tội phạm về xâm hại động vật nguy cấp, quý, hiếm Để xử lý tội phạm, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" (Điều 244) được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở của tội "Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ" theo Điều 190 Bộ luật hình sự năm 1999 Ngày 22/01/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; ngày 16/7/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2019/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này Cụ thể: Ngày 17/9/2016, một tuần trước thềm Hội nghị các nước thành viên Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) lần thứ 17, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài động vật hoang
dã trái pháp luật Ngày 23/7/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Chỉ thị
số 29/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách quản lý động vật hoang dã
Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiên là 5.907,2 km²; diện tích rừng là 171.878,8 ha (rừng tự nhiên 123.406,1 ha; rừng trồng đã thành rừng 48.472,7 ha) [47, tr 44 – 50],
có nhiều loại động vật hoang dã thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Những năm gần đây, tình hình vi phạm, tội phạm về bảo vệ động vật
Trang 9nguy cấp, quý, hiếm đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng Theo Báo cáo Tổng kết tình hình vi phạm và thực thi pháp luật về Động vật hoang dã tại Việt
Nam (giai đoạn 2013-2017) do Tổ chức Wildlife Conservation Society, chương trình
Việt Nam (WCS Việt Nam) phối hợp với Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện [12], thì Đồng Nai là tỉnh có tỷ
lệ ngăn chặn, bắt giữ số vụ việc vi phạm về động vật hoang dã đứng đầu trên toàn quốc với 126 vụ việc, đứng trên Hà Nội, Lạng Sơn, Quảng Trị, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Tây Ninh, An Giang, Đồng Tháp
Hiện nay, tuy hệ thống pháp luật xử lý Tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" như: Bộ luật hình sự, nghị định, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư liên tịch đã tạo nên một hành lang pháp lý để bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và xử lý hình sự đối với người phạm tội, nhưng thực tiễn áp dụng vẫn còn gặp nhiều bất cập, vướng mắc trên cả phương diện quy định pháp luật và tổ chức thực hiện quy định pháp luật Vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn, làm rõ thực trạng để qua đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc định tội danh, quyết định hình phạt, bảo đảm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội phạm này trong tình hình hiện nay tại tỉnh Đồng Nai nói riêng và trên cả nước nói chung là rất cần thiết Do vậy, học viên chọn đề tài "Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai" để làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến thời điểm hiện tại, các công trình khoa học, các đề tài nghiên cứu về tội
"Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm" còn ít, nội dung còn rất hạn chế, các Luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu gồm có:
- Dưới góc độ Luật hình sự có: Luận văn Thạc sĩ Luật học "Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam hiện nay" của tác
giả Trần Thị Hải - Học viện Khoa học xã hội năm 2018; Luận văn Thạc sĩ Luật học
"Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh" của tác giả Bùi Đức Tuấn - Học viện Khoa học xã hội năm 2018;
Trang 10Luận văn Thạc sĩ Luật học "Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An" của tác giả Trần Hồng Tình
- Học viện Khoa học xã hội năm 2018
- Dưới góc độ Luật học có những đề tài có liên quan gồm: Luận văn Thạc sĩ
Luật học "Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam" của tác giả Bùi Thị
Hà, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Luận văn Thạc sĩ Luật học
"Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý hiếm tại Việt Nam" của tác giả
Doãn Hồng Nhung, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016; Luận văn
Thạc sĩ Luật học "Pháp luật Việt Nam về bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Thừa Thiên Huế" của tác giả Phan Vĩnh Tuấn
Anh - Đại học Luật Huế năm 2018
Các báo cáo, bài viết liên quan đến tội phạm này, như: "Báo cáo tóm tắt kết quả khảo sát việc giải quyết các vụ án về động vật hoang dã" của TS Nguyễn Đức
Hạnh - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, trên kỷ yếu Hội thảo của Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao năm 2018; Bài viết: “Quản lý và xử lý vật chứng là động vật hoang
dã trong các vụ án hình sự” của TS Nguyễn Đức Hạnh, trên Tạp chí Tòa án số 23/2019; Bài viết: "Bàn về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã" của
PGS.TS Phạm Minh Tuyên - Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh, trên Tạp chí Tòa án,
tháng 9/2020; Bài viết: "Khắc phục những khó khăn, vướng mắc để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại động vật hoang dã có hiệu quả" của TS Trương Công Lý, trên Tạp chí Tòa án, tháng 8/2020; Bài viết: "Bảo vệ động, thực vật hoang
dã nguy cấp, quý, hiếm - Những vấn đề đặt ra" của tác giả Duy Phong, trên Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương, tháng 7/2020; Bài viết: "Điểm mới của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 " của tác giả Nguyễn Minh Đức, trên Tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 102, tháng 3/2018; Bài viết: "Bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhìn
từ góc độ pháp luật hình sự" của Th.S Lê Văn Sua, trên Tạp chí Môi trường & Xã
hội, tháng 3/2020
Trang 11- Sổ tay hướng dẫn Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án liên quan đến động vật hoang dã - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, NXB Hồng Đức phát hành năm 2020
- Impacts of Wildlife trade and sustainable development in Vietnam (Tác động của việc buôn bán động vật hoang dã và sự phát triển bền vững của Việt Nam)
và Legal framework for wildlife farming benefits species conservation and preventing wildlife crimes in Vietnam (Giá trị của khung pháp luật trong việc gây nuôi động vật hoang dã đối với việc bảo tồn loài và phòng ngừa tội phạm về động vật hoang dã ở Việt Nam) của TS Nguyễn Đức Hạnh và PGS.TS Đinh Thị Mai
đăng trên Tạp chí EDP Sciences - E3S Web of Conferences, số 157 (2020) và số
175 (2020)
Các công trình nghiên cứu, báo cáo, bài viết nói trên đã mang lại nhiều giá trị
về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã có hiệu lực đến nay gần 03 năm, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự xử lý tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc, bất cập Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng và các vụ án thực tế cụ thể, tác giả nghiên cứu chuyên sâu những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật hình sự hiện hành so với thực tiễn để từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận, các căn cứ pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2016 đến năm 2020, xác định những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quy định của BLHS để từ
đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng công tác xử lý tội phạm và bảo vệ các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và trên cả nước
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng quy định của pháp luật trong xử lý tội phạm liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật trong việc xử lý Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy phạm pháp luật và giải pháp tổ chức thực hiện quy định pháp luật trong xử lý tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” tại Điều 244 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”; đồng thời nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm xác định những tồn tại, hạn chế, bất cập để từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 13- Về không gian nghiên cứu: Các số liệu khảo sát nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở hồ sơ các vụ án về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã được giải quyết
- Về thời gian nghiên cứu: Các số liệu khảo sát, nghiên cứu trong phạm vi 05 năm từ năm 2016 đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn lý luận
về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” Nhận định, đánh giá lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam quy định tội phạm “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” từ năm 1985 đến nay
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong điều tra, truy tố, xét xử đối với tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ góp phần bổ sung những luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật hình sự vể tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”; góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay và thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Trang 14Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong xử lý Tội phạm vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đối với việc xử lý Tội phạm vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO
VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.1.1 Khái niệm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
* Tội phạm và các thuộc tính của tội phạm
- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự
- Trước khi có Bộ luật hình sự năm 2015, pháp luật hình sự Việt Nam không xác định TNHS của pháp nhân thương mại vì cho rằng pháp nhân thương mại không có lỗi, chủ thể của tội phạm chỉ có một loại duy nhất đó là cá nhân Việc Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung TNHS của pháp nhân thương mại đã đánh dấu một bước phát triển mang tính đột phá về tư duy và chính sách hình sự của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải xử lý các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế và bảo vệ môi trường Mặc
dù có rất nhiều loại pháp nhân khác nhau nhưng Bộ luật hình sự chỉ truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại
- Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân
- Để xác định có tội phạm hay không thì phải căn cứ vào hành vi, đây là dấu hiệu đầu tiên để nhận biết tội phạm Tuy nhiên, hành vi này phải luôn gắn với một trong hai chủ thể đó là hành vi của cá nhân và hành vi của pháp nhân thương mại
Trang 16- Hành vi của cá nhân là những biểu hiện ra bên ngoài của một cá nhân đó dưới dạng hành động hoặc không hành động
- Hành vi của pháp nhân thương mại dựa trên hành vi của người đại diện pháp nhân thương mại, hay nói một cách khác đó là những biểu hiện ra bên ngoài của một hoặc nhiều các nhân đại diện cho pháp nhân thương mại
- Các hành vi của pháp nhân thương mại sẽ chỉ bị coi là tội phạm khi có đủ các điều kiện:
+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại
+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại + Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại
+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định
- Những gì mới chỉ trong suy nghĩ, tưởng tượng bên trong của một cá nhân
mà không được bộc lộ ra bên ngoài bằng một hành vi thì chưa thể có tội phạm do cá nhân thực hiện hay pháp nhân thương mại thực hiện
- Nếu như hành vi là yếu tố bên ngoài giúp nhận biết tội phạm thì khi tội phạm xảy ra, hành vi không bao giờ tồn tại độc lập mà luôn gắn bó mật thiết với thái độ lỗi bên trong của chủ thể thực hiện hành vi đó
+ Khi tội phạm do cá nhân thực hiện thì hành vi của cá nhân luôn gắn bó mật thiết với thái độ lỗi bên trong của cá nhân đó
+ Khi tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện thì thái độ lỗi của pháp nhân thương mại chính là thái độ lỗi bên trong của người đứng đầu hoặc người đại diện của pháp nhân thương mại đó và luôn gắn bó, biển hiện ra bên ngoài cùng với hành vi của người này
- Khi đã là tội phạm thì bao giờ cũng có bốn thuộc tính đó là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu trách nhiệm hình sự Trong đó:
+ Tính nguy hiểm cho xã hội: Là thuộc tính cho thấy hành vi do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện không phù hợp với chuẩn mực hoặc đạo đức
Trang 17xã hội Chính sự không phù hợp này đã đe dọa hoặc gây thiệt hại cho các quan hệ
xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ như độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sự nguy hiểm cho xã hội ở đây phải là nguy hiểm đáng kể còn hành vi mà tính nguy hiểm không đáng kể thì chỉ coi là vi phạm
Để xác định thế nào được coi là nguy hiểm đáng kể, thì có trường hợp ngay chính điều luật đã được mô tả rõ, có tiêu chí cụ thể, có định lượng; nhưng cũng có những trường hợp chỉ mang tính định tính, phải căn cứ vào tổng thể các tình tiết của hành
vi để nhận định Thuộc tính này là một trong số những cơ sở để phân biệt giữa hành
vi phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức bị coi là tội phạm (phân biệt giữa tội phạm và vi phạm) và có ý nghĩa giúp phân hóa trách nhiệm pháp lý khi
áp dụng
+ Tính có lỗi: Là một thuộc tính bắt buộc của tội phạm, lỗi đó chính là thể hiện sự sai trái khi thực hiện hành vi được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý, là yếu
tố bắt buộc để xác định tội phạm của cá nhân hoặc pháp nhân thương mại Lỗi thuộc
về yếu tố chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội hoặc thuộc về yếu tố chủ quan của người đại diện cho pháp nhân thương mại phạm tội Do vậy, khi xác định nguyên tắc lỗi để truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ là cơ sở để giáo dục cải tạo đối với chính những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm; người đại diện, người đứng đầu pháp nhân thương mại hoặc những người khác
+ Tính trái pháp luật hình sự: Là việc xử lý tội phạm luôn bắt buộc phải có một điều luật mô tả hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể bị coi là tội phạm Khi một hành vi bị coi là tội phạm thì việc áp dụng chế tài để xử phạt đối với hành vi đó chỉ
có thể là các hình phạt được mô tả trong chính điều luật cụ thể của BLHS Thuộc tính này đòi hỏi các Cơ quan tiến hành tố tụng không được phép áp dụng nguyên tắc
“pháp luật tương tự” để xác định một người hay pháp nhân thương mại là có tội hay không có tội mà phải được xác định bằng một điều luật cụ thể được quy định trong
Trang 18BLHS Tính được quy định trong BLHS còn thể hiện một hành vi được thực hiện bị coi là tội phạm trước khi BLHS được ban hành và có hiệu lực thi hành thì cá nhân, pháp nhân thương mại nếu có thực hiện hành vi đó thì cũng không phải chịu TNHS, các chủ thể này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ phạm vào một điều của bộ luật hình sự do họ thực hiện hành vi bị coi là tội phạm kể từ khi bộ luật đó được ban hành và có hiệu lực pháp luật Nói cách khác không áp dụng hồi tố đối với hành vi
bị coi là tội phạm
+ Tính phải chịu trách nhiệm hình sự: Là thuộc tính thể hiện một hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi phạm tội bị coi là tội phạm phải gánh chịu từ hành vi mà họ đã thực hiện Nói cách khác, bởi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên nó phải luôn chịu sự đe dọa bị áp dụng một trong số các loại hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Mặc dù không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm nhưng đây là hệ quả tất yếu kéo theo khi chủ thể thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt nếu không thực hiện hành vi bị coi là phạm tội Tính phải chịu tránh nhiệm hình sự còn thể hiện một hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự nữa nếu đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Có những trường hợp nhất định khi có trách nhiệm hình sự thì cá nhân hoặc pháp nhân thương mại luôn phải bị đe dọa, bị áp dụng một hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Tuy nhiên, trên thực tế có thể họ không
bị áp dụng bởi họ được miễn trách nhiệm này Trong Bộ luật hình sự, các điều luật
cụ thể luôn có những hình phạt cụ thể đi kèm, đây cũng là một trong những cơ sở để phân hóa tách nhiệm hình sự Trong bốn loại trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật Nhà nước và trách nhiệm dân sự), thì trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất
Nếu hiểu theo một nghĩa rộng về hậu quả pháp lý bất lợi mà cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu do thực hiện hành vi phạm tội thì đó là nghĩa vụ phải gánh chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự (các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế theo Bộ luật tố tụng hình sự), chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp,
Trang 19các biện pháp giám sát, giáo dục) và mang án tích Theo cách hiểu này, trách nhiệm hình sự phát sinh từ thời điểm cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Từ thời điểm này; cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội
có nghĩa vụ phải gánh chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và mang án tích Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; được miễn trách nhiệm hình sự (trường hợp không bị áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục); hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngược lại hiểu theo một nghĩa hẹp thì trách nhiệm hình sự được hiểu là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, do đó từ khi cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội chính thức bị kết tội bởi bản án có hiệu lực của Toà án thì những hậu quả đó mới gọi là trách nhiệm hình sự
Trong trách nhiệm hình sự thì hình phạt đóng một ý nghĩa quan trọng, bởi vì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Những hình phạt chính có thể áp dụng đối với cá nhân như: Phạt tiền, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với cá nhân như: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính) Hình phạt chính có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại như: Phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn Hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với pháp nhân thương mại là: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính)
Trang 20* Động vật hoang dã; động vật nguy cấp, quý, hiếm và quy định pháp luật về
- Quần thể đa dạng sinh học tự nhiên trên thế giới có thể chia thành hai loại chính là động vật và thực vật Trong đó, các loài động vật trong tự nhiên không chịu
sự tác động của con người hoặc sự tác động là không đáng kể thì trong tài liệu này gọi là động vật hoang dã Tác giả đồng tình với cách hiểu được đề cập tại khoản 13, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 về loài hoang dã
đó là “loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật” một cách tự nhiên, nó bao gồm các loài động vật thủy sinh và động vật cạn
sinh Căn cứ vào nguy cơ đe dọa tuyệt chủng và mất bản tính tự nhiên của loài, có
thể chia ĐVHD thành “ĐVHD thông thường không chịu sự kiểm soát khi buôn bán”, “ĐVHD phải chịu sự kiểm soát khi buôn bán”, “ĐVHD không mang tính chất thương mại” [30, tr 24]
- Trong số các loài ĐVHD thì có loại đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng rất cao trong tự nhiên nên việc bảo vệ là rất cần thiết và cấp bách Sự đe dọa tuyệt chủng của các loài này là lớn nhất, cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, các loài
ĐVHD này quốc tế và Việt Nam xác định không có tính chất thương mại theo Công ước quốc tế và được gọi bằng tên gọi khác là “ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”
- Quy định về bảo vệ động vật hoang dã là những quy định của pháp luật nhằm chống lại các hành vi xâm hại, duy trì sự phát triển bình thường các loài ĐVHD trong môi trường sống tự nhiên của chúng Mục tiêu của bảo vệ ĐVHD là ngăn ngừa sự tuyệt chủng của loài, góp phần đảm bảo thế giới tự nhiên sẽ được bảo
vệ để che chở cho các thế hệ tương lai và giúp con người nhận ra tầm quan trọng trong cân bằng sinh thái giữa ĐVHD với môi trường tự nhiện hoang dã có ý nghĩa
vô cùng quan trọng với con người và các loài khác nhau trên hành tinh này Quy định về bảo vệ ĐVHD cũng có nghĩa là quy định chống lại các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép đối với cá thể, bộ phận cơ thể, sản phẩm của các loài ĐVHD
Trang 21+ Săn bắt là hành vi của con người dùng sức mạnh cá nhân, các loại bẫy để bắt giữ, khống chế, hạn chế cuộc sống tự nhiên của ĐVHD từ môi trường tự nhiên
mà nó đang sinh sống
+ Giết tức là hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua công
cụ, phương tiện, điều kiện do con người tạo ra để các cá thể ĐVHD không thể tiếp tục sự sống một cách tự nhiên mà phải bị chết trái với quy luật tự nhiên
+ Nuôi, nhốt là việc khống chế cá thể ĐVHD trong một phạm vi sống không được tự do lựa chọn các hoàn cảnh như địa điểm, phương thức kiếm ăn, sinh hoạt
mà trước đó hoặc theo quy luật tự nhiên các ĐVHD này thực hiện
+ Buôn bán ĐVHD là hoạt động thương mại thông qua việc mua sau đó bán lại ĐVHD còn sống hoặc đã chết, các bộ phận, sản phẩm từ ĐVHD nhằm thu lợi nhuận Buôn bán ĐVHD được thể hiện dưới các hình thức như: xuất khẩu, tái xuất khẩu (xuất khẩu bất kỳ một mẫu vật nào mà chúng đã được nhập khẩu trước đó), nhập khẩu và nhập nội từ biển (vận chuyển đến một quốc gia những mẫu vật của bất
kỳ loài nào mà chúng được khai thác từ môi trường biển không thuộc quyền quản lý của bất kỳ nước nào) hoặc mua, bán trong nội địa của quốc gia, vùng lãnh thổ
+ Tàng trữ ĐVHD là trường hợp sử dụng địa điểm, phương tiện do mình sở hữu, quản lý để cất giữ, trông coi, ngăn cản người khác di chuyển ĐVHD, bộ phận
cơ thể hoặc sản phẩm của chúng từ một địa điểm này đến một địa điểm khác
+ Vận chuyển ĐVHD là trường hợp di chuyển ĐVHD, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của chúng từ một địa điểm này đến một địa điểm khác [30, tr 24 – 27]
Từ những phân tích trên có thể đưa ra Khái niệm Tội vi phạm quy định về
bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm như sau:
“Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội bị coi là tội phạm và được quy định bằng một tội danh trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện bằng việc thực hiện một trong các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán một cách bất hợp pháp đối với cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm động vật nguy cấp, quý, hiếm nên đã đe dọa đến sự phát
Trang 22triển bình thường, theo quy luật tự nhiên của các loài động vật thủy sinh hoặc cạn sinh trong khi các loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và thuộc đối tượng được các quốc gia bảo vệ ở mức độ nghiêm ngặt nhất nhằm bảo tồn loài”
1.1.2 Đặc điểm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là tội phạm được BLHS nước ta quy định thuộc Chương XIX - Các tội phạm về môi trường, nên Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng có đầy đủ các đặc điểm của tội phạm nói chung và tội phạm về môi trường nói riêng Tuy nhiên tội phạm này có những đặc điểm riêng biệt như sau:
- Thứ nhất, về khách thể bị xâm hại gồm có 03 nhóm: Động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được quy định tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ: Sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm
IB được quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Động vật thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang
dã nguy cấp (CITES)
- Thứ hai, lỗi của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là lỗi cố ý trực tiếp Tức là trong tất cả các trường hợp người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại đều nhận thức rõ rằng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ, nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi xâm hại
- Thứ ba, Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là tội áp dụng các quy định pháp luật mang tính chất viện dẫn Tức là muốn xác định được hành vi của một người, pháp nhân thương mại có phải đã, đang vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm thì cần có các văn bản quy phạm pháp
Trang 23luật quy định Danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Thứ tư, Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm chỉ
có thể bị xử lý khi có kết luận giám định về loài đúng với loài được quy định trong Danh mục động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật hiện hành Trường hợp kết luận giám định chưa rõ, phát sinh vấn đề mới hoặc có nghi ngờ về kết quả giám định lần đầu không chính xác thì Cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định có quyền trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại Kết luận giám định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám định chính là cơ sở pháp lý để
Cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đối với loại tội phạm này
1.1.3 Ý nghĩa Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Về mặt pháp lý: Thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc nghiêm cấm các hành vi gây tổn hại đến sự tồn tại và phát triển của những loài động vật nguy cấp, quý, hiếm Là căn cứ để ban hành và hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như tăng cường khả năng thực hiện và áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trên thực tế Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, hậu quả thiệt hại để xác định chính xác khung hình phạt, loại hình phạt đối với tội phạm này
là thể hiện ý chí quyết tâm của Nhà nước trong việc phòng, chống các hành vi phạm tội liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm ngày một mạnh mẽ và quyết liệt, nhằm thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp [24]
- Về mặt kinh tế: Tội phạm về động vật hoang dã trong đó có động vật nguy cấp, quý, hiếm bao gồm các hành vi: Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán là hoạt động mang lại lợi nhuận phi pháp cao xếp thứ tư trên thế giới; sau buôn ma túy, buôn vũ khí và buôn người Hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng tác động xấu đến nền kinh tế vì hoạt động này đi kèm với hành vi trốn thuế, ảnh hưởng tiêu cực đến du lịch và hệ sinh thái Tiếp xúc với các loài động vật ngoại lai trong việc vận chuyển, buôn bán, nuôi, nhốt, săn bắn…
Trang 24khi không có sự kiểm tra, chăm sóc thú y có thể gây ra các loại dịch bệnh nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế
- Về mặt chính trị: Để thực thi các nghĩa vụ đã cam kết trong khuôn khổ Công ước CITES, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chính sách về bảo vệ và buôn bán động, thực vật hoang dã tương đối đầy đủ ở nhiều mức độ từ chính sách, văn bản luật và dưới luật Hệ thống chính sách, quy định pháp luật về buôn bán động, thực vật hoang dã đã được ban hành tương đối sớm và luôn được bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam và phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng được yêu cầu về xây dựng hành lang pháp lý để làm cơ sở cho việc thực thi Công ước và cam kết quốc tế về bảo tồn
đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường mà Việt Nam là một trong những thành viên tích cực, từ đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
- Về mặt xã hội: Việc quy định Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là một trong những chuỗi hành động thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ “Tăng trưởng xanh” – Tức là xây dựng và phát triển kinh tế đất nước nhưng phải chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường đây là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam nhằm gìn giữ, bảo tồn cho thế hệ tương lai một hệ sinh thái phong phú với những nguồn gen quý, hiếm và các loài sinh vật đa dạng có được từ tự nhiên
1.2 Quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Thứ nhất: Quy định của pháp luật hình sự về Tội vi phạm quy định về bảo
vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
* Quy định trước khi có Bộ luật hình sự 2015
- Năm 1985, Quốc hội ban hành Bộ luật hình sự, trong đó Điều 181 quy định
tội “Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng” bao gồm các hành vi khai
thác trái phép cây rừng và săn bắt trái phép chim, thú rừng, chưa có quy định về động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Những lần sửa đổi BLHS 1985 vào các
Trang 25năm 1989, 1991, 1992, 1997 thì Điều 181 của BLHS 1985 vẫn giữ nguyên không sửa đổi, bổ sung
- Tháng 3/1973 Công ước CITES được ký tại Washington D.C Hoa Kỳ là Công ước quốc tế giữa các chính phủ với mục tiêu nhằm kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế mẫu vật của các loài động vật, thực vật hoang dã một cách bền vững trên toàn thế giới, có hiệu lực từ ngày 01/7/1975 Ngày 20/01/1994, Việt Nam gia nhập Công ước CITES và chính thức trở thành thành viên thứ 121 của Công ước vào ngày 20/4/1994 Đến nay, Công ước CITES đã có 178 quốc gia thành viên Công ước có 25 Điều đề cập đến các nguyên tắc chung, các biện pháp và nghĩa vụ của các nước thành viên Công ước CITES quy định bảo vệ gần 30.000 loài động vật, thực vật ở các mức độ khác nhau bằng các quy định kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế các mẫu vật của chúng Mỗi loài được bảo vệ ở một trong ba danh sách được gọi là Phụ lục Các Phụ lục này thể hiện mức độ đe dọa của từng loài và sự kiểm soát được áp dụng trong khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Cụ thể:
+ Phụ lục 1: Gồm 1.200 loài, là những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, cấm buôn bán thương mại giữa các nước trên thế giới Trường hợp không mang tính chất thương mại (như quà tặng, trao đổi giữa các vườn động vật) thì phải xin giấy phép xuất và nhập khẩu
+ Phụ lục 2: Gồm khoảng 21.000 loài, là những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng do buôn bán quốc tế quá mức mà không được kiểm soát và điều chỉnh kịp thời Các loài ghi trong Phụ lục 2 được phép buôn bán quốc tế thông qua việc kiểm soát và hạn chế của các nước thành viên (phải có giấy phép xuất và nhập khẩu)
+ Phụ lục 3: Gồm khoảng 170 loài được các nước thành viên sử dụng để kiểm soát việc buôn bán các loài động thực vật hoang dã của nước họ, mà những loài này chưa được ghi vào Phụ lục 1 hoặc Phụ lục 2 [11]
- Năm 1999, Quốc hội đã sửa đổi cơ bản BLHS 1985, ban hành BLHS 1999 Trong lần sửa đổi này, tội “Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng” quy định tại Điều 181 BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung Cụ thể, BLHS 1999
đã tách tội “Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng” thành 02 điều: Điều
Trang 26189 tội “Hủy hoại rừng” và Điều 190 tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm” Theo quy định tại Điều 190 BLHS năm 1999 thì tất cả các hành vi liên quan đến động vật hoang dã đều bị xử lý theo Điều luật này [30,tr 19 – 22]
* Quy định của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Năm 2015, Quốc hội đã sửa đổi BLHS 1999, ban hành BLHS 2015 Trong
đó, đối tượng là ĐVHD đang điều chỉnh tại Điều 190 BLHS 1999 được thiết kế thành 02 điều luật mới liên quan đến việc quản lý, bảo vệ ĐVHD là Điều 234 và Điều 244 Trong đó:
+ Điều 234 Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã thuộc về Chương XVIII Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và hình sự hóa các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc sản phẩm động vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II Công ước CITES [35, tr 224 – 227]
+ Điều 244: Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Trong đó sửa đổi tình tiết định khung “Gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” quy định trong Điều 190 BLHS 1999 bằng quy định về số lượng cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật nguy cấp, quý, hiếm bị săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán để tính mức độ phạm tội Đối với sản phẩm của động vật nguy cấp, quý, hiếm như ngà voi, sừng tê giác được quy định bằng khối lượng kilôgam để tính mức độ phạm tội Hình sự hóa hành vi
“tàng trữ” cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý, hiếm Tăng mức hình phạt tù có thời hạn cao nhất lên đến
15 năm, bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Đối với động vật thuộc nhóm IB và Phụ lục I Công ước CITES là những động vật cấm buôn bán nên quy định trong Chương XIX Các tội xâm phạm về môi trường [35, tr 250 – 252]
Nếu như để xác định ĐVHD nào thuộc Phụ lục I, II, III thì căn cứ vào Phụ lục của Công ước CITES, còn để xác định các loài ĐVHD nào thuộc phụ Nhóm IB hay IIB thì phải căn cứ vào các Nghị định của Chính phủ, gồm:
Trang 27+ Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được thay thế bằng Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ Theo quy định của Nghị định này thì động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm là Nhóm IB và Nhóm IIB Trong đó, Nhóm IB có 92 loài động vật rừng là nhóm nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh
tế mà số lượng cá thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bổ tự nhiên ở Việt Nam Nhóm IIB có 82 loài động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, chưa
bị tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng nếu không được quản lý chặt chẽ; hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục II CITES phân bổ tự nhiên ở Việt Nam [5, tr 2 – 10]
+ Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ
về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được sửa đổi, bổ sung Điều 7 bằng Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ; trong đó quy định tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo đó, loài được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu (i) Số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và (ii) Là loài đặc hữu có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc có giá trị về văn hóa – lịch
sử Ví dụ như: Chồn bay, Cu li lớn, Cu li nhỏ, Voọc bạc Đông Dương, Voọc Cát Bà… Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và quy định cơ chế quản lý chặt chẽ việc khai thác, trao đổi, mua bán, tặng, cho thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng và cứu hộ loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ [8, tr 1 – 12]
+ Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về Tội vi
Trang 28phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về Tội vi phạm quy định
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự năm 2015 Trong đó có các nội dung hướng dẫn quan trọng như: Hướng dẫn cách hiểu thế nào là cá thể động vật; bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống; sản phẩm của động vật hoang
dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm… hướng dẫn áp dụng một số tình tiết định khung hình phạt như: Săn bắt trong khu vực bị cấm; săn bắt vào thời gian bị cấm; sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm hoặc các công cụ, phương tiện nguy hiểm khác mà cơ quan có thẩm quyền quy định không được phép sử dụng để săn bắt… Hướng dẫn về việc xử lý vật chứng như: Việc xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc sản phẩm của chúng… Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý vật chứng là động vật hoang dã; động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc sản phẩm của chúng [18]
+ Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 07 năm 2019 sửa đổi Điều 7 nghị định số 160/2013/ NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Cụ thể, thay vì quy định 17 loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì Nghị định 64/2019/NĐ-CP quy định 28 loài được ưu tiên bảo vệ, trong đó bổ sung một số loài như: Thông đỏ nam (Thông đỏ lá dài, Thanh tùng), Hoàng liên gai lá dài, Hoàng liên gai lá mốc, Lan hài chai (Lan vân hài), Lan hài xanh, Lan hài chân tím, Lan hài trân châu Nghị định số 64/2019/NĐ-CP cũng
bổ sung thêm một số loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như: Voọc bạc Trường Sơn, Vượn má vàng Trung Bộ, Vượn siki, Công, Trĩ sao, Rẽ mỏ thìa, Choắt mỏ vàng, Tắc kè đuôi vàng, Thằn lằn cá sấu đưa tổng số loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ từ 83 loài lên 99 loài Nghị định nêu rõ: Định kỳ 3 năm một lần hoặc khi cần thiết, Chính phủ quyết định điều chỉnh, bổ sung Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trên cơ sở đề nghị của
Bộ Tài nguyên và Môi trường [18, tr 1 – 14]
Trang 29Các dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244 BLHS gồm:
Dấu hiệu mặt khách thể: Tội phạm này xâm phạm chế độ quản lý, bảo vệ
động vật nguy cấp, quý, hiếm của Nhà nước; xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái tự nhiên và tính đa dạng sinh học, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng khác trong các quan hệ của đời sống xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
Dấu hiệu mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm gồm các hành vi
săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Hậu quả của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là đe dọa sự mất cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học, dẫn đến tuyệt chủng các loài động vật quý, hiếm trong tự nhiên Điều 244 BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả” bằng tình tiết định lượng như: Số lượng động vật, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống, khối lượng sản phẩm để làm căn cứ xử lý hình sự; trong đó khoản 1 tương ứng với tội phạm nghiêm trọng; khoản 2, khoản 3 tương ứng với tội phạm rất nghiêm trọng Mối quan hệ nhân quả của tội phạm là mối quan hệ giữa những hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của các loài động vật với hậu quả thực tế xảy ra Trong đó:
- Khoản 1 quy định các hành vi như: Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; tức là chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên đối với 01 cá thể động vật thuộc Danh mục quy định tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng
07 năm 2019 của Chính phủ Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; tức là chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên đối với cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống
Trang 30hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục được quy định tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 07 năm 2019 của Chính phủ Tàng trữ, vận chuyền, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng
tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01kilôgam Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; tức là thực hiện một trong các hành vi trên đối với động vật thuộc Nhóm IB quy định tại Nghị định số 06/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ hoặc động vật thuộc Phụ lục I Công ước CITES được quy định tại Thông tư số 04/2017/TT-NNPTNT ngày 24 tháng 02 năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với số lượng từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 đến 15 cá thể động vật lớp khác Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời
sự sống của từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ
10 đến 15 cá thể động vật lớp khác đối với động vật thuộc Nhóm IB hoặc động vật thuộc Phụ lục I Công ước CITES Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định nêu trên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi thuộc quy định này hoặc đã bị két án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Khoản 2 và khoản 3 là các tình tiết định khung tăng nặng với các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm tại cấu thành cơ bản ở khoản 1 nhưng tính chất nguy hiểm hơn thể hiện bởi các yếu tố thuộc mặt chủ quan và khách quan khác như:
Số lượng cá thể động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống nhiều hơn,
có tổ chức, sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm, săn bắt trong khu vực
bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm; buôn bán, vận chuyển qua biên giới; đặt biệt khoản 2 và khoản 3 còn quy định số lượng cá thể động vật bị xâm hại là voi, tê giác, gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của các loài này
Trang 31Dấu hiệu mặt chủ thể: Chủ thể của tội phạm là người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, từ 16 tuổi trở lên và pháp nhân thương mại Đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: Người đại diện pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội đã nhân danh pháp nhân thương mại, vì lợi ích của pháp nhân thương mại; có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân
Dấu hiệu mặt chủ quan: Về lỗi khi thực hiện tội phạm là lỗi cố ý cả trực tiếp
và gián tiếp; động cơ không phải là yếu tố bắt buộc; mục đích của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm thường là vì vụ lợi hoặc mục đích khác nhưng cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm này
Thứ hai: Quy định của pháp luật hình sự về hình phạt đối với Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Về hình phạt đối với cá nhân phạm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm gồm: Tại khung cơ bản (khung 1) có hình phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng; phạt tù có thời hạn từ 01 năm đến 05 năm Khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm Khung tăng nặng tiếp theo thuộc khoản 3 có mức hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm Hình phạt
bổ sung đối với cá nhân người phạm tội là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm Ví dụ: Kiểm lâm viên có hành vi phạm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm thì ngoài hình phạt tiền, phạt tù là hình phạt chính có thể bị phạt bổ sung là cấm làm công việc bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã trong khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm [35, tr 242 – 245]
Về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm: Phạt tiền từ 01 tỷ đến 05 tỷ (theo khoản 1); từ
05 tỷ đến 10 tỷ (theo khoản 2); từ 10 tỷ đến 15 tỷ hoặc đình chỉ hoạt động có thời
Trang 32hạn từ 06 tháng đến 03 năm (theo khoản 3) Hình phạt bổ sung có thể bị phạt tiền từ
300 triệu đồng đến 600 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm Ngoài ra, còn có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn [35, tr 245 – 246]
1.3 Phân biệt Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm với các tội phạm khác có liên quan
1.3.1 Phân biệt Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm với Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quy định tại Điều
234 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Điều 234 - Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã thuộc Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế còn Điều 244 Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc Chương XIX - Các tội phạm về môi trường tức là Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã xâm phạm quan hệ xã hội bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân còn Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội
- Về đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng tác động của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là: Các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Còn Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã có đối tượng tác động là các loại động vật hoang dã thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp và các loài động vật hoang dã khác theo quy định của pháp luật
Trang 33- Nếu Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quy định chỉ xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc các loài động vật hoang dã khác; thì Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ; động vật nguy cấp, quý hiếm nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp
- Nếu động vật thuộc Nhóm IIB và Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp là những loài hoang dã nguy cấp thông thường và vẫn được phép sử dụng, trao đổi, buôn bán thương mại, nhưng
có kiểm soát; thì động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; động vật thuộc danh mục Nhóm IB hoặc động vật thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp là những loài nghiêm cấm khai thác sử dụngvì mục đích thương mại
1.3.2 Phân biệt Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm với Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, quy định tại Điều 190 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Khách thể của Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa
Còn khách thể của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội
- Đối tượng tác động của Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh; cấm lưu hành, cấm sử dụng; chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam Cụ thể là: Pháo nổ các loại, các loại đồ chơi nguy hiểm, thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, dịch vụ môi giới hôn nhân;
Trang 34một số mặt hàng, dịch vụ được quy định trong danh mục do Chính phủ quy định Còn đối tượng tác động của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là: Các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
- Hành vi khách quan của Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm bao gồm: Hành
vi sản xuất hàng cấm là người phạm tội sử dụng thủ công hoặc bằng công nghệ làm
ra hàng cấm, có thể tham gia vào cả quá trình sản xuất hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn nào đó như: chuẩn bị địa điểm, tìm nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất… Hành vi buôn bán hàng cấm: người phạm tội thực hiện bằng cách mua đi bán lại hàng cấm dưới nhiều hình thức khác nhau Còn hành vi khách quan của Tội
vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định tại khoản
1 Điều 244 BLHS
- Mục đích của người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm, người phạm tội thu lợi từ hoạt động sản xuất, buôn bán hàng cấm Biểu hiện của mục đích thu lợi là người phạm tội tìm cách trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng như: Hải quan, Biên phòng… Còn mục đích của người phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm này
Trang 35Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành để đưa ra được khái niệm Tội vi phạm quy định về bảo
vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Tác giả nhận thức được rằng pháp nhân thương mại không phải là chủ thể thực hiện tội phạm mà pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Từ đó, rút ra đặc điểm, ý nghĩa của tội phạm này trên cơ sở nghiên cứu
lý luận và thực tiễn Trong Chương 1 của luận văn, tác giả cũng nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; cụ thể phân tích các dấu hiệu pháp lý về mặt khách thể; mặt khách quan; dấu hiệu chủ thể của cá nhân người phạm tội và vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại; dấu hiệu mặt chủ quan của Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Tác giả đã so sánh Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm với các Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Những nội dung được tác giả nghiên cứu, đánh giá trong Chương 1 đã gợi mở và làm tiền đề để tác giả xây dựng và triển khai các nội dung tiếp theo tại Chương 2 của luận văn khi tác giả đánh giá những vấn đề thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong xử lý đối với Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Trang 36Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG
XỬ LÝ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY
CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Khái quát các yếu tố tự nhiên, xã hội của tỉnh Đồng Nai có ảnh hưởng đến việc xử lý Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
2.1.1 Các yếu tố tự nhiên của tỉnh Đồng Nai có ảnh hưởng đến việc xử lý Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Việt Nam được thế giới công nhận là 1/16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, trong đó có hệ động vật hoang dã Sự đa dạng của hệ sinh thái nước ta chính là điều kiện cần cho các hành vi xâm hại động vật hoang dã, đặc biệt là loài động vật quý, hiếm Ở khu vực miền Đông Nam Bộ thì Đồng Nai được coi là địa phương có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của các hệ sinh thái, trong đó
có số lượng các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm tương đối lớn Các yếu tố tự nhiên này đã có tác động đến Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và việc xử lý đối với tội phạm này, cụ thể như sau:
- Về vị trí địa lý: Vị trí địa lý là yếu tố tự nhiên đầu tiên có ảnh hưởng đến việc xử lý Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Cụ thể: Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ, có tọa độ địa lý từ 10°29’58” đến 11°34’57”
vĩ độ Bắc, từ 106°43’56” đến 107°36’46” độ kinh Đông Theo tính toán sơ bộ, đến nay Đồng Nai có diện tích tự nhiên 5.907,24 km2, dân số khoảng 2.905,85 nghìn người, mật độ dân số khoảng 491,91 người/km2, đứng thứ 02 về diện tích và dân số
so với các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh có 11 đơn vị hành chính, trong đó có 02 thành phố và 09 huyện gồm: thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh và 09 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Định Quán và Tân Phú Đồng Nai tiếp giáp với các tỉnh, thành phố: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm
Trang 37Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu, phía Tây giáp Thành Phố Hồ Chí Minh [47, tr 20]
- Về hiện trạng đa dạng của các HST: Các hệ sinh thái của Đồng Nai rất phong phú và đa dạng, chính vì vậy đây là nơi thuận lợi cho các loại động vật sinh sống, trong đó có nhiều các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm
Theo kết quả kiểm kê rừng toàn toàn quốc năm 2016, toàn tỉnh Đồng Nai có 197.500,6 ha đất lâm nghiệp Trong đó, diện tích có rừng là 171.878,8 ha (rừng tự nhiên 123.406,1 ha và rừng trồng đã thành rừng 48,472,7 ha), diện tích chưa có rừng 25.621,9 ha
Căn cứ trên kết quả phân tích từ bản đồ hiện trạng thảm thực vật, bản đồ sử dụng đất, bản đồ Google Earth và kết quả các đợt khảo sát trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy: tỉnh Đồng Nai có các HST lớn như sau:
Bảng 2.1 Hệ sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
TT Hệ sinh thái Diện tích
(ha) Tỷ lệ (%)
I HST TỰ NHIÊN
A HST Rừng tự nhiên
1 HST rừng kín thường xanh cây lá rộng 101.840,0 17,3
2 HST rừng thường xanh nửa rụng lá 10.126,0 1,7
3 HST rừng tre nứa hỗn giao cây lá rộng 24.641,0 4,2
B HST Thủy vực
Nguồn: Báo cáo bảo tồn và đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Đồng Nai
Trang 38HST ở tỉnh Đồng Nai tương đối phong phú và đa dạng Tuy nhiên các HST này hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức chủ yếu từ các hoạt động kinh
tế xã hội của con người và những biến động của biến đổi khí hậu toàn cầu Diện tích
rừng tự nhiên đang có chiều hướng suy giảm về chất lượng; những HST rừng nhiệt
đới không còn nguyên vẹn và số lượng cá thể các loài nguy cấp còn ít Các HST,
các sinh cảnh cần thiết cho các loài di cư hoặc các loài nguy cấp có phân bố hẹp,
các loài đặc hữu sẽ có nguy cơ bị biến mất hoặc thu hẹp Nhiều HST bị biến đổi và
phân mảnh Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội, văn
hóa, lịch sử và khoa học có nguy cơ bị mất hoặc bị thu hẹp, trong khi chính sách của
Nhà nước về bảo tồn và phát triển ĐDSH được khẳng định trong Luật Đa dạng Sinh
học, trong đó vấn đề được ưu tiên hàng đầu là bảo tồn HST tự nhiên [47, tr 54]
- Hiện trạng các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm: Theo kết quả điều tra năm
2016 và số liệu tổng hợp thì hiện tại tỉnh Đồng Nai có 40 loài thú quý, hiếm (chiếm
32,7%/ tổng số loài) trong đó có: 02 loài được ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2015): 04
loài bậc EN (nguy cấp), 8 loài bậc VU (sẽ nguy cấp); 19 loài được ghi trong Sách Đỏ
Việt Nam (2007): 04 loài bậc CR (cực kỳ nguy cấp), 15 loài bậc EN (nguy cấp), 13 loài
bậc VU (sẽ nguy cấp); 15 loài được pháp luật bảo vệ ghi trong Nghị định
32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, gồm 01 loài thuộc Nhóm IB và 14 loài thuộc Nhóm IIB
Bảng 2.2 Danh mục các loài thú quý hiếm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tên phổ thông Tên khoa học Mức độ đe dọa
(2007)
IUCN (2015)
NĐ 32 (2006)
CITES (2015)
(Vigors & Horsfield) EN NT IB PL I
(E Geoffroy Saint-Hilaire) LC IIB PL II
Trang 3910 Chà vá chân đen P ygathrix nigripes
11 Cheo cheo java Tragulus javanicus (Osbeck) VU DD IIB
15 Cu li nhỏ N ycticebus p ygmaeus Bonhote VU VU IB PL I
16 Dơi chó tai ngắn Cynopterus brachyotis (Müller) VU LC
17 Dơi tai sọ cao M yotis siligorensis (Horsfield) LR LC
19 Gấu ngựa Ursus thibetanus G [Baron] Cuvier EN VU IB PL I
22 Hươu vàng Axis porcinus annamiticus
23 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis (Raffles) LR LC IIB
27 Mèo cá Prionailurus viverrinus (Bennett) EN VU IB
30 Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata
(Geoffroy Saint-Hilaire) EN VU IB
33 Sóc bay lớn Petaurista petaurista (Pallas) VU LC IIB
39 Vọoc bạc Trach ypithecus cristatus
40 Vượn đen má vàng Nomascus gabriellae (Thomas) EN EN IB
Nguồn: Báo cáo bảo tồn và đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Đồng Nai
Trang 40- Phụ lục I: Bị đe dọa tuyệt chủng; nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội và quá cảnh vì mục đích thương mại Phụ lục II: Nguy cơ bị tuyệt chủng; có kiểm soát việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội và quá cảnh vì mục đích thương mại Phụ lục III: Có kiểm soát việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu vì mục đích thương mại (Công ước CITES)
Đồng Nai có 19 loài chim quý hiếm được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam;
11 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2015) Số lượng các loài chim phong phú được đưa vào sách đỏ cho thấy tính đa dạng các loài chim ở Đồng Nai rất cao
Bảng 2.3 Danh mục các loài chim quý hiếm trên địa bàn Đồng Nai
TT Tên khoa học Tên phổ thông
Mức độ đe dọa
SĐVN (2007)
IUCN (2015)
NĐ 32 (2006)
1 Cát nhỏ họng trăng Polihierax insignis Walden LR NT IIB
2 Cò lao Ấn Độ M ycteria leucocephala (Pennant) VU NT
3 Cò quắm cánh xanh Pseudibis davisoni (Hume) CR CR IB
4 Cổ răn, điêng điểng Anhinga melanogaster Pennant VU NT