A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tên tiểu luận: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quyền chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước ta hiện nay 2. Lý do cấp thiết chọn đề tài: Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển. Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển. Mặt khác, sự bùng nổ dân số ngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷ người, dự báo đến 2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người. Sự phát triển của dân số thế giới làm cho không gian kinh tế truyền thống đã trở nên chật chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩ đến các phương án biến biển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tế mới. Một xu hướng mới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một xu thế tất yếu của các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trong tương lai. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, vùng biển chủ quyền rộng khoảng 01 triệu km2, trung bình 100 km2 đất liền có 01km bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới. Dọc biển có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang…) và 2.779 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636 km2; có 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, kể cả cảng trung chuyển quốc tế, 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du lịch biển. Ven biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng dầu khí dự báo địa chất của toàn thềm lục địa khoảng 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác 45 tỷ tấn; trữ lượng khí đồng hành 250300 tỷ m3. Trữ lượng hải sản khoảng 33,5 triệu tấn, cơ cấu phong phú, có giá trị kinh tế cao, chưa được khai thác đúng mức, chỉ mới đạt 60% mức có thể khai thác được hàng năm (1,52 triệu tấn). Có hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển. Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản. Chiến lược kinh tế biển được thông qua tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) là một chiến lược định hướng tổng thể. Nó xác định các mục tiêu lớn, phương hướng hành động chung nhưng chưa vạch ra được các chiến lược hành động cụ thể, khả thi để phát triển kinh tế biển. Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 5355% tổng GDP của cả nước. Về chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc. Trước thực trạng Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trung Quốc đã đơn phương vi phạm thỏa thuận cấp cao hai nước về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề trên biển, vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên Hợp Quốc, cũng như Công ước của Liên Hợp quốc. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta kiên quyết không để một tấc đất, tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm. Đối với bất cứ người Việt Nam nào, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Nhân dân Việt Nam ta, Đảng và Nhà nước ta có đủ bản lĩnh, ý chí kiên cường và quyết tâm, cũng như có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước. Không thể chấp nhận tình trạng cứ nước mạnh là không tôn trọng đạo lý và lẽ phải. Nhân dân ta từng trải qua và kiên cường trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc từ hàng nghìn năm nay. Vụ việc xảy ra vừa qua, ít thấy nước nào và tổ chức quốc tế nào lên tiếng ủng hộ phía Trung Quốc về việc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương981 trong vùng biển của Việt Nam cũng như yêu sách đường lưỡi bò 9 đoạn vô lý. Những bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy, chính nghĩa thuộc về chúng ta. Thái độ của cộng đồng quốc tế là khá rõ ràng trong việc này. Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện các chủ trương và giải pháp đáp ứng nguyện vọng chính đáng, tha thiết của hơn 90 triệu đồng bào ta. Tôi xin nhắc lại lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với triều thần đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư: Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di. Nhân dân ta luôn có truyền thống yêu nước nồng nàn. Mỗi khi độc lập, chủ quyền đất nước bị đe dọa thì nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng, đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, khi học tập nghiên cứu báo cáo kết quả học tập nghiên cứu Đảng cầm quyền, em xin phép lựa chọn đề tài “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quyền chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước ta hiện nay” làm tiểu luận của mình. Trong quá trình nghiên cứu do hạn chế về sự tổng hợp, phân tích, nhận định vấn đề cũng như thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên chắc chắn tiểu luận của em còn thiếu sót. Với tấm lòng mình em rất mong được đón nhận sự góp ý của các thầy, cô giáo trong khoa Xây dựng Đảng để em có thêm kiến thức, phục vụ công tác sau này. Em chân thành cảm ơn
Trang 1kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷ người, dự báo đến 2015 dân số thế giớikhoảng 7,5 tỷ người Sự phát triển của dân số thế giới làm cho không gian kinh
tế truyền thống đã trở nên chật chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩđến các phương án biến biển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tếmới Một xu hướng mới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa họccông nghệ nhanh chóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biểnđang là một xu thế tất yếu của các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm cácnhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồntrong tương lai
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, vùng biển chủ quyền rộng khoảng 01triệu km2, trung bình 100 km2 đất liền có 01km bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ này
của thế giới Dọc biển có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang…) và 2.779 đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636 km2; có 90 cảng biển
lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, kể cả cảng trung chuyểnquốc tế, 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi biển đạt tiêu chuẩnquốc tế để phát triển du lịch biển Ven biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệuxây dựng Tổng trữ lượng dầu khí dự báo địa chất của toàn thềm lục địa khoảng
Trang 210 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác 4-5 tỷ tấn; trữ lượng khí đồng hành250-300 tỷ m3 Trữ lượng hải sản khoảng 3-3,5 triệu tấn, cơ cấu phong phú, cógiá trị kinh tế cao, chưa được khai thác đúng mức, chỉ mới đạt 60% mức có thểkhai thác được hàng năm (1,5-2 triệu tấn) Có hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển.Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể vềqui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởngGDP Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trịhoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% củaHàn Quốc và 1% của Nhật Bản.
Chiến lược kinh tế biển được thông qua tại Hội nghị Trung ương 4 (khóaX) là một chiến lược định hướng tổng thể Nó xác định các mục tiêu lớn, phươnghướng hành động chung nhưng chưa vạch ra được các chiến lược hành động cụthể, khả thi để phát triển kinh tế biển Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấnđấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảmvững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quantrọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàumạnh Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế,
xã hội, khoa học công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh Phấn đấuđến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP
của cả nước Về chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại Phát huy sức mạnh
tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toànvẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc
Trước thực trạng Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoanHải Dương 981 tại vị trí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địacủa Việt Nam Trung Quốc đã đơn phương vi phạm thỏa thuận cấp cao hai nước
về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề trên biển, vi phạm luật pháp
Trang 3quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên Hợp Quốc, cũng như Công ước của LiênHợp quốc.
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền đối vớihai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa củaViệt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế Chúng ta kiên quyết không để một tấcđất, tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm Đối với bất cứ người Việt Nam nào,chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm
Nhân dân Việt Nam ta, Đảng và Nhà nước ta có đủ bản lĩnh, ý chí kiêncường và quyết tâm, cũng như có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý để đấu tranhbảo vệ chủ quyền đất nước Không thể chấp nhận tình trạng cứ nước mạnh làkhông tôn trọng đạo lý và lẽ phải Nhân dân ta từng trải qua và kiên cường trongcác cuộc đấu tranh chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc từ hàng nghìn năm nay Vụviệc xảy ra vừa qua, ít thấy nước nào và tổ chức quốc tế nào lên tiếng ủng hộphía Trung Quốc về việc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùngbiển của Việt Nam cũng như yêu sách đường lưỡi bò 9 đoạn vô lý Những bằngchứng lịch sử và pháp lý cho thấy, chính nghĩa thuộc về chúng ta Thái độ củacộng đồng quốc tế là khá rõ ràng trong việc này
Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện các chủ trương và giải pháp đáp ứngnguyện vọng chính đáng, tha thiết của hơn 90 triệu đồng bào ta Tôi xin nhắc lạilời của vua Lê Thánh Tông từng nói với triều thần đã được ghi rõ trong Đại Việt
sử ký toàn thư: Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.
Nhân dân ta luôn có truyền thống yêu nước nồng nàn Mỗi khi độc lập,chủ quyền đất nước bị đe dọa thì nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng, đứng lênbảo vệ Tổ quốc
Trang 4Vì vậy, khi học tập nghiên cứu báo cáo kết quả học tập nghiên cứu Đảng
cầm quyền, em xin phép lựa chọn đề tài “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quyền chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước ta hiện nay” làm tiểu luận của mình Trong quá trình nghiên cứu do
hạn chế về sự tổng hợp, phân tích, nhận định vấn đề cũng như thời gian nghiêncứu chưa nhiều nên chắc chắn tiểu luận của em còn thiếu sót Với tấm lòng mình
em rất mong được đón nhận sự góp ý của các thầy, cô giáo trong khoa Xây dựngĐảng để em có thêm kiến thức, phục vụ công tác sau này Em chân thành cảmơn!
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của Tiểu luận
* Khách thể nghiên cứu: Thực trạng lý luận về biển và chiến lược kinh tếbiển nước ta …
* Đối tượng nghiên cứu: Biển Việt Nam …
4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Tiểu luận
Các tài liệu có liên quan đến chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam vềchính sách phát triển kinh tế biển và chiến lược bảo vệ biển đảo Việt Nam đây
là vấn đề hiện nay được nhiều người quan tâm
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Tiểu luận
5.1 Mục tiêu nghiên cứu: Với mục tiêu, nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn vềquyền quản lý biển từ ngàn đời nay của dân tộc ta Từ đó thấy rõ tầm quan trọngcủa Quyền chủ quyền, quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước tahiện nay
Trong quá trình nghiên góp phần phân tích, làm rõ Quyền chủ quyền,quyền tài phán, vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước ta và nhận thức đúng đắntính khách quan về luật biển của nhà nước Việt Nam
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận thực hiện 2 nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 5- Thứ nhất, Từ thực tế làm sáng quan điểm của Đảng ta về biển và kinh tế
biển… ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Thứ hai, Phân tích, chỉ ra thực trạng hiện nay khi vùng biển, vùng đặc
quyền kinh tế biển của ta bị Trung Quốc vi phạm
6 Những đóng góp mới về khoa học của Tiểu luận
- Phân tích, đánh giá được thực trạng về kinh tế biển và thực hiện Luậtbiển …Đề xuất những giải pháp, kiến nghị về việc bảo vệ biển trong giai đoạnhiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, phân tích- tổng hợp, lôgic, tổng kết thực tiễn
8 Kết cấu nội dung của Tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được kết cấu gồm 3chương Chương 1: Một số lý luận về quyền chủ quyền và quyền tài phán, vùngđặc quyền kinh tế biển Chương 2: Thành tựu kinh tế bước đầu đạt được từ kinh
tế biển Chương 3: Một số nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước ta trong lãnh đạo vềquyền biển, vùng kinh tế
9 Dự kiến sản phẩm tạo ra và áp dụng
Kết quả nghiên cứu của tiểu luận có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho sinh viên; nếu có thể được vận dụng trong nghiên cứu về quyền tàiphán, quyền bảo vệ và phát triển kinh tế biển ở Việt Nam
10 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 6B NỘI DUNG Chương 1 Một số lý luận về quyền chủ quyền và quyền tài phán, vùng đặc quyền
kinh tế biển
1.1 Khái niệm về quyền chủ quyền và quyền tài phán
Về khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài phán, TS Trần Công Trục,nguyên Trưởng ban Ban Biên giới của Chính Phủ, đã trả lời trên infonet.vn (BộThông tin và Truyền thông) ngày 2/3/2014 như sau:
“Theo quan điểm pháp lý quốc tế thì quyền chủ quyền là quyền riêng biệtcủa quốc gia được thực thi trong phạm vi Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềmlục địa Đây là quyền có nguồn gốc chủ quyền lãnh thổ, mang tính chất chủquyền
Trong khi đó, quyền tài phán là hệ quả của chủ quyền và quyền chủquyền, có tác dụng bổ trợ tạo ra môi trường để thực thi chủ quyền và quyền chủquyền Như vậy, quyền tài phán gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ quốc gia
Tuy vậy, quyền tài phán cũng có thể thực thi ở nơi mà quốc gia đó không
có chủ quyền Chẳng hạn, quyền tài phán có thể được áp dụng trên tàu thuyền,phương tiện treo cờ của quốc gia đó khi chúng đang hoạt động trong các vùngbiển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác
Quyền tài phán theo nghĩa rộng bao gồm: Thẩm quyền đưa ra các quyếtđịnh, quy phạm; Thẩm quyền giám sát việc thực hiện; Thẩm quyền xét xử củaTòa án đối với một lĩnh vực cụ thể; theo nghĩa hẹp đó là thẩm quyền pháp địnhcủa Tòa án khi xét xử một người hay một việc”
Vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive Economic Zone - EEZ;tiếng Pháp: Zone Economique Exclusive - ZEE), theo Wikipedia, là vùng biển
mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp
Trang 7giáp với lãnh hải Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định trongPhần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982,trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hay quốc gia quầnđảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khác đều được điềuchỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này Vùng biển này có chiềurộng 200 hải lý (khoảng 370,4 km) tính từ đường cơ sở, ngoại trừ những chỗ màcác điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác Trong khu vực đặc quyền kinh tế,quốc gia có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển Nó là một trongcác vùng mà quốc giacó quyền chủ quyền.
Cũng theo Wikipedia, khái niệm và sự hình thành của Vùng đặc quyềnkinh tế có lẽ bắt nguồn từ sự kiện Tổng thống Mỹ Truman ngày 28-9-1945 đãđưa ra một tuyên bố về nghề cá ven bờ trong một số vùng của biển cả Theo đó,
Mỹ đề nghị thiết lập một vùng bảo tồn một phần nhất định của biển cả tiếp giápvới bờ biển nước Mỹ, tại đó các hoạt động nghề cá đã và sẽ phát triển trongtương lai ở mức độ quan trọng nằm ngoài lãnh hải của Mỹ 3 hải lý
Tiếp theo đó, các nước khu vực châu Mỹ - Latinh như Chile, Peru,Ecuador đã mở rộng lãnh hải tới 200 hải lý dưới các tên gọi như vùng biển disản, lãnh hải di sản… để loại bỏ quyền tự do hàng hải và các quyền tự do biển cảkhác Tình hình này gây ra sự lo ngại và chống đối từ các quốc gia có nghề hànghải phát triển mạnh
Năm 1971, Kenya và sau đó là các nước khu vực Á - Phi đã đưa ra đề nghịtrung hòa cả hai lập trường trên bằng khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trong đócác quốc gia ven biển có thẩm quyền đặc biệt trong kiểm soát, quy định, khaithác và bảo vệ các tài nguyên sinh vật cũng như phi sinh vật của vùng để ngănngừa và đấu tranh chống lại ô nhiễm, trong khi các quyền tự do hàng hải, tự dobay, tự do đặt dây cáp hay ống dẫn dầu dưới đáy biển vẫn được bảo lưu
Trang 8Khái niệm này đã nhanh chóng được chấp nhận mà không có sự phản đốinào và nó có giá trị tập quán trước khi được ghi nhận trong Công ước LHQ vềLuật Biển năm 1982.
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển, theo Công ước LHQ về LuậtBiển năm 1982, bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hảicủa quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền thuộcquốc gia đó cho đến bờ ngoài của dốc lục địa hoặc cách đường cơ sở dùng đểtính lãnh hải một khoảng cách là 200 hải lý (370,4 km), khi bờ ngoài của dốc lụcđịa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn 200 hải lý
Các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo có quyền chủ quyền đối vớithềm lục địa và các tài nguyên khai thác được từ đó Ngoài ra, các quốc gia nàycũng có quyền tài phán đối với các lĩnh vực: các đảo nhân tạo, các thiết bị; côngtrình trên thềm lục địa, các nghiên cứu khoa học hay bảo vệ môi trường Cácquyền chủ quyền và tài phán này không liên quan và không ảnh hưởng đến cácquyền đối với vùng nước và vùng trời phía trên nó
1.2 Vùng đặc quyền kinh tế biển
Trong luật biển quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế (tiếng Anh: Exclusive
Economic Zone - EEZ; tiếng Pháp: zone économique exclusive - ZEE) là vùng
biển mở rộng từ các quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài vàtiếp giáp với lãnh hải Nó được đặt dưới chế độ pháp lý riêng được quy định
trong phần V - Vùng đặc quyền kinh tế của Công ước Liên hiệp quốc về luật
biển 1982, trong đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển (hayquốc gia quần đảo), các quyền cũng như các quyền tự do của các quốc gia khácđều được điều chỉnh bởi các quy định thích hợp của Công ước này Vùng biểnnày có chiều rộng 200 hải lý (khoảng 370,4 km) tính từ đường cơ sở, ngoại trừnhững chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác Trong khu vực đặc
Trang 9quyền kinh tế, quốc gia có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển.
Nó là một trong các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền
Khái niệm này của các quốc gia được phân chia vùng đặc quyền kinh tế đãcho phép kiểm soát tốt hơn các vấn đề trên biển (nằm ngoài giới hạn lãnh thổ màquốc gia có đầy đủ chủ quyền) đã thu được sự chấp thuận của đa số quốc gia vàocuối thế kỷ 20 và đã được gắn với sự thừa nhận quốc tế theo Công ước Liên hiệpquốc về luật biển thứ ba năm 1982
Tại Điều 55, phần V Công ước Liên hiệp quốc về luật biển quy định: Chế
độ pháp lý đặc biệt cho vùng đặc quyền kinh tế Vùng đặc quyền kinh tế là vùng nằm ngoài và tiếp giáp với lãnh hải, là chủ thể của chế độ pháp lý đặc biệt được đưa ra tại phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển
và các quyền cũng như quyền tự do của quốc gia khác được điều chỉnh bởi các điều khoản liên quan của Công ước này.
Quản lý nghề cá là một bộ phận đáng kể nhất của việc kiểm soát này.Các tranh cãi về mở rộng chính xác của các vùng đặc quyền kinh tế lànguồn chủ yếu của các mâu thuẫn giữa các quốc gia về biển Ví dụ nổi tiếng nhất
ở châu Âu có lẽ là chiến tranh cá tuyết giữa Iceland và Vương quốc Liên hiệpAnh và Bắc Ireland năm 1893
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quyền chủ quyền và quyền tài phán vùng đặc quyền kinh tế biển đông nước ta
Trong bất thời kỳ nào Đảng, Nhà nước ta luôn đặt vấn đề bảo vệ chủquyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, chiến lược của quốc
gia Năm 1961, chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển, bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” Lời dặn của Bác cũng chính là sự khẳng định chủ quyền lãnh
thổ toàn vẹn của nước ta đối với vùng đất, vùng trời, vùng biển khẳng định chủquyền về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và nhiệm vụ bảo vệ
Trang 10chủ quyền quốc gia là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn quân và toàndân.
Về pháp lý, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã tuyên bổ về vùng biển Việt Nam Tuyên bố quy địnhViệt Nam có lãnh hải 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh hải 24 hải lý, vùng đặc quyềnkinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam vàthềm lục địa tương ứng Đây là một trong những tuyên bố sớm nhất ở khu vựcĐông Nam Á theo tinh thần công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về luật biển.Ngày 12 tháng 11 năm1982, Chính phủ ta lại tuyên bố về đường cơ sở dùng đểtính chiều rộng lãnh hải Việt Nam, mở đầu trang sử mới về chủ quyền biển củaViệt Nam, thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước tatrên biển Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho các vănbản, pháp luật về biển và quản lý biển của nước ta Hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 và 1992, cũng như hiện nay đang bổ sung,sửa đổi hiến pháp năm 1992 đều khẳng định, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họpthứ 3 đã thông qua luật biển Việt Nam Ngày 2 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký sắc lệnh 16/2012/SL-CTN công bốLuật biển Việt Nam, khẳng định, vùng biển Việt Nam bao gồm: Nội thủy, lãnhhải, vùng đặc quyền kinh tế và lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ và quyền tàiphán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo luật biển Việt Nam, điều ướcquốc tế về lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
và phù hợp với công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982
Ngày 9 tháng 2 năm 2007 Hội nghị lần thứ 4 ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược biển
Trang 11Việt Nam đến năm 2020” Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2020,
phấn đấu đưa nước ta thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảmvững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần quan trọng trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hôichủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với xãhội và Nhà nước Vai trò lãnh đạo của Đảng được đưa vào điều 4 Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chế độ chính trị mà chúng ta đangxây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn lịch sử cho thấy, vai trò lãnhđạo của Đảng đã được khẳng định, được hiến pháp nước ta công nhận, chế độchính trị của nước ta là chế độ xã hội chủ nghĩa cũng được khẳng định trong hiếnpháp và đường lối xây dựng đất nước của Đảng ta Chế độ chính trị củaViệt Nam và vai trò lãnh đạo được thể hiện trên toàn bộ lãnh thổ quốc giaViệt Nam Ở đâu có lãnh thổ quốc gia, có dân là ở đó có Đảng lãnh đạo, Nhànước quản lý và chế độ chính trị của Việt Nam; chủ quyền quốc gia Việt Nam,được luật pháp Việt Nam khẳng định và luật pháp quốc tế thừa nhận, không mộtthế lực thù địch nào, một nước nào, một tổ chức hay cá nhân nào được quyền canthiệp, xâm phạm chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, canthiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta phảibiết tự bảo vệ quyền chính đáng của mình và đấu tranh chống lại những quanđiểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch đối với đường lối quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiệnnay, Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độclập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển vàhội nhập quốc tế Quan điểm đó được thể hiện tập trung trong các nghị quyết, chỉthị như: Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6 tháng 5 năm 1993 của Bộ Chính trị (khóa
Trang 12VII) về “Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt”; Chỉ thị 20-CT/TW ngày 22 tháng 9 năm 1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về
“Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH”; đặc biệt là “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong Nghị quyết TW 4 (khoá X): “Đến năm
2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”.
Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêngliêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọngbảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững Nghị quyết Đại hội lần thứ XI củaĐảng chỉ rõ: “Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo,biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủnghĩa…” Đó là ý chí sắt đá, quyết tâm không gì lay chuyển được của dân tộcViệt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Thời gian qua, sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực vàtrên biển Đông khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trênbiển trở thành nhiệm vụ nhiều khó khăn, thách thức Để hoàn thành nhiệm vụbảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải khôngngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân trên biển Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vữngchắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mangtính cấp bách, then chốt
Trang 13Chương 2 Thực trạng về biển, kinh tế biển và những thách thức 2.1 Sơ lược về biển Việt Nam
Nước Việt Nam ta nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quantrọng của khu vực và thế giới Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biểnnăm 1982 thì nước ta ngày nay không chỉ có phần lục địa tương đối nhỏ hẹp
“hình chữ S” mà còn có cả vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp hơn ba lầndiện tích đất liền Dọc bờ biển có hơn 100 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112cửa sông, cửa lạch đổ ra biển Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏvới diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biểnĐông Bắc và Tây Nam với những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược nhưBạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng
Sa, Trường Sa Tuyến biển có 29 tỉnh, thành phố gồm: 124 huyện, thị xã với
612 xã, phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) với khoảng 20 triệu ngườisống ở ven bờ và 17 vạn người sống ở các đảo Khai thác biển cho phát triểnkinh tế là một cách làm đầy hứa hẹn, mang tính chiến lược và được đánh giá làđóng vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội củanước ta
Trang 14Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển,nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệthống kinh tế biển liên hoàn Các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ bé.Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển còn nhỏ bé, đangtrong thời kỳ bắt đầu xây dựng Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học-côngnghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnhbáo thời thiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, còn nhỏ bé,trang bị thô sơ.
Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn Vùng biển và ven biển tậptrung tới 3/4 khu du lịch tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề Tuy nhiên,ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển-đảo đặc sắc có tínhcạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế và chưa có khu du lịch biển tổng hợpđạt trình độ quốc tế
2.2 Ước tính quy mô kinh tế
Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nambình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuầnbiển” đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước Trong các ngành kinh tế biển,đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khaithác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển.Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữatàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy, hải sản, thông tin liên lạc, bước đầuphát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tếbiển và 0,4% tổng GDP cả nước), song trong tương lai sẽ có mức gia tăng nhanhhơn Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách didân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạnglưới điện, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá )
Trang 15Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sảnphẩm dầu, khí; chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối
biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên, ) hiện chủ yếu mới
ở mức đang bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ bé Việc khai thácbiển đảo đã đem lại những lợi ích kinh tế -xã hội bước đầu quan trọng, nhưngviệc sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững trình độ khai thácbiển của nước ta vẫn đang ở tình trạng lạc hậu nhất trong khu vực.Việt Nam tuy
là một quốc gia biển, song đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự dựa vào biển đểphát triển đúng tiềm năng và thế mạnh Việt Nam vẫn chưa phải là quốc giamạnh về biển, vẫn chưa phải là một cường quốc biển”
Tuy vậy, có thể nhận định một cách khái quát rằng, sự phát triển của kinh
tế biển còn quá nhỏ bé và nhiều yếu kém Quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạtkhoảng hơn 10 tỷ USD Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo cònyếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn
lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp
2.3 Vị trí chiến lược của biển nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển
Việt Nam nằm ở rìa Biển Đông, vùng biển có vị trí địa kinh tế, chính trịđặc biệt quan trọng và từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược pháttriển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cườngquốc hàng hải khác trên thế giới
Vùng biển Việt Nam nằm ngay trên một số tuyến hàng hải chính của quốc
tế qua Biển Đông, trong đó có tuyến đi qua eo biển Malacca, là một trong nhữngtuyến có lượng tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới Bờ biển Việt Nam lại rất gầncác tuyến hàng hải đó nên rất thuận lợi trong việc phát triển giao thương quốc tế
Trang 16Hiện nay, hầu hết khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và một phần giao lưu nộiđịa của nước ta được vận chuyển bằng đường biển trên Biển Đông Trong mộtvài thập kỷ tới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của các nước trong khu vực,khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông sẽ tăng gấp hai, ba lần hiện nay,khi đó Biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nói riêng càng có vai trò tolớn trong thương mại thế giới; vùng biển Việt Nam sẽ trở thành chiếc cầu nốiquan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nướctrong khu vực và trên thế giới.
2.4 Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong số các nguồn tài nguyên biển, trước tiên phải kể đến dầu khí, mộtnguồn tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội của vùng biển Việt Nam Trênvùng biển rộng hơn l triệu km2 của Việt Nam, có tới 500.000 km2 nằm trongvùng triển vọng có dầu khí Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam
có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông Có thể khai thác từ 30-40nghìn thùng/ngày, khoảng 20 triệu tấn/năm Ngoài dầu và khí, dưới đáy biểnnước ta còn có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti-tan, đi-ri-con, thạch anh,nhôm, sắt, măng-gan, đồng, kền và các loại đất hiếm Muối ăn chứa trong nướcbiển bình quân 3.500gr/m2 Vùng ven biển nước ta cũng có nhiều loại khoángsản có giá trị và tiềm năng phát triển kinh tế như: than, sắt, ti-tan, cát thuỷ tinh
và các loại vật liệu xây dựng khác
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khuvực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh
tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn2.000 loài khác nhau Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó 12bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọc ven biển
có trên 37 vạn héc ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước
Trang 17mặn - lợ Ngoài ra còn hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ nhưVịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môi trườngrất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển
Việt Nam với bờ biển dài hơn 3.260 km, nằm trong số 10 nước trên thếgiới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ Dọc theo
bờ biển nước ta có hơn 100 địa điểm có thể xây dựng hải cảng như: Cái Lân vàmột số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La -Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu,Thị Vải…
Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khaithác tổng hợp để phát triển mạnh Các bãi biển của nước ta phân bố trải đều từBắc vào Nam Từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹp như Trà
Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô, Mỹ Khê, Đại Lãnh, Nha Trang,Ninh Chữ, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên… Theo thống kê, ven bờ nước ta có2.773 đảo lớn, nhỏ các loại với tổng diện tích vào khoảng 1.700 km2 Trong đó
có 24 đảo có diện tích tương đối lớn (trên 10 km2), 82 đảo có diện tích lớn hơn 1
km2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên Đặc biệt có ba đảo có diện tích trên 100
km2 là Phú Quốc, Cái Bầu và Cát Bà Bên cạnh đó, các tỉnh ven biển nước ta còn
có nhiều thế mạnh khác trong đất liền như các di tích, danh lam thắng cảnh, cáclàng nghề truyền thống, các lễ hội Hiện nay Việt Nam có đến 6/7 di sản thiênnhiên, văn hóa thế giới được UNESCO công nhận đều nằm ở các tỉnh ven biển(Quảng Ninh, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình) nên sẽ là điều kiệnthuận lợi để du lịch biển phát triển mạnh hơn Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan
tự nhiên với cảnh quan văn hoá - xã hội của biển, vùng ven biển và các hải đảocùng với điều kiện thuận lợi về vị trí, địa hình của vùng ven biển đã tạo cho dulịch biển có lợi thế phát triển hơn hẳn so với nhiều loại hình du lịch khác trên đấtliền
Trang 182.5 Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển
Với số dân hơn 20 triệu người đang sinh sống, các vùng ven biển và đảocủa Việt Nam đang có lực lượng lao động khoảng 12,8 triệu người, chiếm35,47% lao động cả nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng đối với quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Với cơ cấu ngành, nghề đa dạng, trong đó có nhiều ngành, nghề then chốtnhư khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, kinh tế biến đóng vai trò đặc biệt quantrọng đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước ta Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tếbiển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng, phải đẩy mạnh pháttriển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi íchquốc gia Song song với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài nguyên và môi trường sinhthái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển vào năm 2020 Sau Nghịquyết này, Thủ tướng Chính phủ đã có các chỉ thị triển khai thực hiện như Chỉthị 399 ngày 5/8/1993 về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong nhữngnăm trước mắt và Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khai Nghị quyết 03-NQ/TW
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩymạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa ramột số quan điểm trong phát triển kinh tế biển Đó là: “Thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá kinh tế biển hướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những tiến bộkhoa học, công nghệ làm động lực; vừa thúc đẩy nghiên cứu, quản lý, khai tháctiềm năng biển có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, đàotạo nhân lực” Quan điểm này được cụ thể hoá bằng các giải pháp: “Đầu tư thíchđáng cho khoa học- công nghệ; tăng cường năng lực điều tra khảo sát, nghiêncứu khí tượng- thuỷ văn và môi trường, thực trạng tài nguyên và dự báo xu thếbiến động trong những thập kỷ tới Thi hành Chỉ thị này, một loạt kế hoạch về
Trang 19phát triển kinh tế biển đã được thông qua như: Chiến lược phát triển thuỷ sản2010; Chiến lược phát triển du lịch 2010; Chiến lược phát triển giao thông vậntải 2010…
Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định mục tiêu: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km 2 thềm lục địa Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Đẩy mạnh công tác nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”
Từ những quan điểm, biện pháp nêu trên, cùng với việc tiếp tục nhấnmạnh chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, pháttriển kinh tế- xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu bảo vệđất nước, có thể thấy rõ hơn chủ trương rất quan trọng là: cần đặt kinh tế biểntrong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xuthế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Việc thực hiện những chủ trương, chính sách nêu trên đã đạt được một sốthành tựu quan trọng: kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp gần 50% GDP của
cả nước (trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm hơn 20% GDP), với quy mô tăngkhá nhanh, cơ cấu ngành nghề chuyển dịch theo hướng phục vụ xuất khẩu đem
về một lượng ngoại tệ lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hình thành một sốtrung tâm phát triển để hướng ra biển Tuy nhiên, xét cả về mặt chủ quan vàkhách quan, thực tế hiện nay cho thấy trong việc khai thác lợi thế từ biển cònkhông ít hạn chế, khó khăn và yếu kém Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển
Trang 20nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hằng năm cònnhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và1/260 kinh tế biển của thế giới Những năm qua, do chưa có chiến lược tổng thể,cho nên các ngành, các địa phương thiếu căn cứ để quy hoạch Tính đồng bộ củacác chủ trương, chính sách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, sựquan tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của một số cấp ủy đảng,chính quyền các cấp, các ngành, cả Trung ương và địa phương còn nhiều hạnchế Cho đến trước kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII, cũng chưa có cơ quanchuyên trách giúp Chính phủ quản lý, điều hành chung, dẫn đến những hoạtđộng đầu tư manh mún, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp, kinh tế biển phát triểnchậm, thiếu bền vững và cơ cấu chưa hợp lý.
Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp bách là Đảng và Nhà nước ta cần nâng cácquan điểm chỉ đạo nêu trên lên tầm của một văn bản chiến lược Hội nghị lần thứ
tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiếnlược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007),nhằm đáp ứng yêu cầu nêu trên Quan điểm chỉ đạo được nêu trong phần địnhhướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là "nước ta phải trở thành quốcgia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển,phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ratốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn" Phấn đấuđến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kimngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bướcđáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển Để đạt được mục tiêutổng quát nêu trên, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ chiến lược quan trọng Trong
đó, nhiệm vụ chiến lược kinh tế "làm giàu từ biển" được chỉ đạo bởi quan điểm:kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - anninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển
Trang 21vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa Cho một quãng thời gian gần 3 kế hoạch 5 năm (2007-2020),không gian kinh tế biển được mở rộng và nhất thể hóa trên phạm vi vùng biển,ven biển và hải đảo gắn kết chặt chẽ với các vùng quy hoạch lâu nay trong đấtliền Sự phát triển các ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ
sở phát huy cao nhất lợi thế của mỗi ngành
Có thể nói rằng, Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
đã kế thừa những quan điểm về phát triển kinh tế biển và các lĩnh vực khác liênquan đến biển đã ban hành trước đó, nhưng phải khẳng định rằng, đây là Nghịquyết của Trung ương toàn diện đầu tiên về biển, mở ra một chương mới trong
tư duy về biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những thập
kỷ đầu của thế kỷ 21 Trong Chiến lược biển, phần về chiến lược phát triển kinh
tế biển là một trong những nội dung chủ yếu nhất
2.6 Thực trạng kinh tế biển trên các lĩnh vực
2.6.1 Về vận tải biển
Trong 10 năm qua, đội tàu biển quốc gia Việt Nam đã có những bước pháttriển đáng khích lệ, bình quân tăng gần 10%/năm về số lượng tàu và trên10%/năm về trọng tải Theo thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có trên 1.000 tàuvới tổng trọng tải hơn 3,5 triệu DWT Năng lực vận tải tăng lên, đồng thời có sựthay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêm thị trường và trực tiếptham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sử dụng trên 50% nănglực đội tàu của Việt Nam
Tuy nhiên, đội tàu của Việt Nam còn tương đối nhỏ bé, đặc biệt là so vớicác nước trong khu vực Thí dụ, Singapore chỉ có khoảng 900 tàu các loại, songtổng trọng tải lên tới 36,39 triệu DWT; Inđônêsia có 718 tàu với trọng tải 4,3triệu DWT; thậm chí trọng tải của đội tàu của Campuchia còn lớn hơn trọng tảiđội tàu của nước ta tới gần 1 triệu DWT Với chiến lược đầu tư không rõ ràng,
Trang 22manh mún, không bền vững, đội tàu Việt Nam cũng kém đa dạng Trong khi thếgiới đang ngày càng chú trọng đến việc phát triển các thế hệ tàu biển có sức chởlớn cũng như các tàu chuyên dụng thì các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có phầnlớn các tàu vận tải hàng khô với trọng tải nhỏ, chủ yếu không quá 20.000 tấn Xuhướng vận tải của thế giới hiện nay là hàng container, trong khi đội tàu containercủa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 2% số lượng tàu với 7% số tấn trọng tải Trongtổng số trên 1.000 tàu của đội tàu quốc gia chỉ có hơn 300 tàu hoạt động tuyếnquốc tế và chủ yếu chỉ làm nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa đến các cảng lớntrong khu vực như Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Hàn Quốc để đưa lên tàulớn đi các các châu lục khác Ngay cả nguồn dầu thô xuất khẩu với khối lượnglớn, song đội tàu Việt Nam rất khó tham gia, phần vì không có tàu chuyên dụng,phần do việc đàm phán để giữ nguồn hàng khó khăn do không được sự hỗ trợcủa chính các doanh nghiệp Việt Nam có nguồn hàng Tóm lại, năng lực cạnhtranh của đội tàu biển Việt Nam thấp, không đủ khả năng cạnh tranh trên thịtrường khu vực, thậm chí thua ngay trên sân nhà.
Có nhiều nguyên nhân được nêu ra giải thích thực trạng nêu trên, trong đóphải kể đến những nguyên nhân chủ yếu sau đây Thứ nhất, các doanh nghiệpthiếu nguồn hàng chuyên chở cho nên rất ít doanh nghiệp dám đầu tư mua hoặcđóng tàu lớn Trong xuất nhập khẩu, các chủ hàng nội đã quen với tập quán bánFOB tại Việt Nam dẫn tới người mua hàng ở nước ngoài được "mua tận gốc" và
có quyền chỉ định tầu chuyên chở Mặt khác, các chủ hàng ngoại lại chỉ thíchbán CIF tức là "bán tận ngọn" và giành luôn quyền lựa chọn tàu chuyên chở Thứhai, theo nhận định của Hiệp hội chủ tàu Việt Nam, việc Nhà nước ta cho phépcác công ty liên doanh sản xuất được đầu tư khép kín từ sản xuất, kinh doanhcảng, vận tải biển, đại lý hàng hải đã làm cho cạnh tranh trong dịch vụ vận tảibiển trở nên phức tạp hơn Thứ ba, việc bảo hộ ngành đóng tàu trong nước thôngqua việc áp dụng thuế nhập khẩu, thuế VAT đối với nhập khẩu tàu biển từ nước
Trang 23ngoài cũng làm cho các doanh nghiệp vận tải biển khó khăn hơn trong việc đầu
tư tàu, đặc biệt là những tàu lớn, có chất lượng tốt, tuổi tàu thấp Thứ tư, ngoàiđội tàu thì đội ngũ thuyền viên, quản lý tàu cũng đang là vấn đề làm đau đầu cáchãng tàu Hiện Việt Nam đang thiếu trầm trọng đội ngũ thuyền viên, đặc biệt làthuyền trưởng, máy trưởng Để đào tạo được một người sau khi tốt nghiệp Đạihọc Hàng hải lên thuyền trưởng, máy trưởng mất thêm ít nhất 10 năm, tuy mứclương khá cao nhưng do tính chất công việc thường xuyên xa nhà nên khôngnhiều người theo đuổi Chính vì vậy rất nhiều tàu của Việt Nam đang thuêthuyền trưởng hoặc quản lý là người nước ngoài, và không ít nơi còn cho nướcngoài thuê tàu, điều này cũng khiến vận tải biển Việt Nam còn “đánh vật” ngaytrên sân nhà
2.6.2 Về cảng biển và dịch vụ cảng biển
Như đã nêu ở trên, với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng
về cảng biển hết sức to lớn Hệ thống cảng biển bao gồm trên 100 cảng biển lớnnhỏ, trong đó có một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như HảiPhòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ Khốilượng hàng hoá thông qua cảng biển Việt Nam tăng nhanh chóng Tốc độ tăngtrưởng bình quân là 17%/năm Các cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn đạt mộtmức tăng trưởng hành hoá kỷ lục Nhưng, nhìn chung các cảng biển vẫn đang ởtrong tình trạng kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: quy mô cảngnhỏ bé, thiết bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container, nhữngcảng tổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30 km),Sài Gòn (90km) luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn ravào cảng, mặt bằng chật hẹp, thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt nối vào mạnglưới giao thông quốc gia
Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các côngnghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức Do vậy, việc xây dựng
Trang 24các cảng nước sâu với trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiêntiến là yêu cầu bức xúc Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biểnđối với phát triển kinh tế nên trong 10 năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu
tư cho một số cảng trọng điểm như:
- Cảng Hải Phòng hoàn thành giai đoạn I với công suất 6,2 triệu tấn/năm,cho tàu 10.000 DWT ra vào và dự kiến sẽ hoàn thành giai đoạn II trong kế hoạch
2000 - 2010 với công suất 8 - 8,5 triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 tấn ra vào
- Cảng Cái Lân: Công suất 1,8 - 2,8 triệu tấn/năm, cho tàu đến 40.000 tấn
ra vào giai đoạn I (năm 2003) và 16 – 17 triệu tấn/năm cho tàu 50.000 tấn ra vàogiai đoạn II (đến năm 2010 - 2020)
- Cảng Sài Gòn: Công suất 8,5 - 9,5 triệu tấn/năm cho tàu 25.000-35.000tấn ra vào (giai đoạn II đến năm 2010) và một số cảng khác sẽ được đầu tư cảitạo mở rộng cơ sở vật chất như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha Trang
- Một số cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của cảng tàu Dung Quất (liêndoanh Việt Xô); Cảng Nghi Sơn (xi măng); Cảng Cát Lái (xi măng và container)
và một số cảng ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước…
Để đáp ứng nhu cầu vận tải biển ngày một tăng trong bối cảnh hội nhập,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảngbiển Việt Nam đến năm 2010 với 114 cảng (chưa kể các cảng tiềm năng) Tất cảcác cảng đều gắn liền với các trung tâm kinh tế, là đầu mối giao lưu với thế giớitrong xuất, nhập khẩu của đất nước Tuy vậy, trong công tác quy hoạch cảngbiển từ lâu đã nổi lên rất nhiều vấn đề Trong thời gian qua, các địa phương cạnhtranh nhau xây cảng nước sâu tầm cỡ khu vực, thậm chí có người gọi là xảy rahiện tượng “cảng sau đè cảng trước” (Hộp 1)
Bên cạnh cảng biển, các dịch vụ logistics trong vận tải biển Việt Nam(chuỗi dịch vụ giao nhận kho vận từ làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, lưukho bãi…) cũng kém phát triển Theo ước tính, chi phí cho logistics của Việt
Trang 25Nam hàng năm khoảng 8- 12 tỷ USD, ước chiếm khoảng 15% - 20% GDP củaViệt Nam năm 2006, trong đó chi phí cho ngành vận tải khoảng 60%, phần lớn
là vận tải biển Tuy nhiên, phần lớn số lợi nhuận trên đang rơi vào tay các công
ty, tập đoàn nước ngoài Cả nước hiện có khoảng 600- 800 doanh nghiệp hoạt
động trên lĩnh vực này, nhưng phần đông là nhỏ và rất nhỏ nên hạn chế về vốn,nguồn nhân lực, công nghệ Hiện các doanh nghiệp Việt Nam không kết nốiđược với mạng lưới toàn cầu và chỉ dừng lại ở nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh chocác đối tác nước ngoài có mạng điều hành toàn cầu, tức là chỉ làm một phầncông việc trong chuỗi dịch vụ này như kê khai thủ tục hải quan, thuê kho bãi…Trong nhiều trường hợp, thay vì liên kết, hợp tác thì các doanh nghiệp Việt Namlại cạnh tranh không lành mạnh, làm ăn chụp giựt, phá giá… trong khi chấtlượng chưa cao, tự làm yếu nhau và làm yếu chính mình Do các doanh nghiệpvốn ít nên tổ chức doanh nghiệp đơn giản, không chuyên sâu, không có vănphòng đại diện ở các nước khác, không có thông tin, công việc phải giải quyếtthông qua các đại lý của các công ty nước ngoài… Những yếu kém nêu trên gópphần kìm hãm năng lực cạnh tranh cũng như sự phát triển của kinh tế hàng hảiViệt Nam
2.6.3 Về công nghiệp đóng tàu
Với đường bờ biển dài, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển ngànhcông nghiệp đóng tàu Trong những năm 90 của thế kỷ trước, ngành công nghiệpđóng tàu gặp rất nhiều khó khăn và bước vào thời kỳ sàng lọc, củng cố, địnhhướng chiến lược, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước Đến nay, sau hơn 10năm thay đổi, ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam, đi đầu là Tổng Công tyCông nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin), đã đạt những bước phát triển đángkhích lệ, ngày càng được nhiều hãng tàu lớn của nước ngoài tín nhiệm, góp phầnđưa Việt Nam trở thành quốc gia được công nhận là có ngành công nghiệp đóngtàu đứng hàng thứ 11 trên thế giới
Trang 26Hiện nay, Việt Nam có hơn 60 nhà máy sửa chữa và đóng tàu trực thuộc
Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Giao thông Vậntải, trong đó Bộ Giao thông Vận tải có số lượng lớn nhất chiếm trên 70% côngsuất đóng tàu của ngành Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đẩy mạnh đầu
tư vào một gói thầu nhằm nâng cao hoạt động toàn ngành thông qua Chươngtrình Phát triển Công nghiệp Tàu thủy 2002 - 2010 Chính phủ đã quyết định đưađóng tàu trở thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn Kết quả là tính tới năm 2003,ngành đóng tàu đã đạt doanh thu tiêu thụ trong nước là 251 triệu USD và 71 triệuUSD từ xuất khẩu, dự kiến tăng tổng doanh thu lên 5,11 tỷ USD vào năm 2010.Các nhà máy đóng tàu Việt Nam từ chỗ chủ yếu đóng các tàu hàng và tàu đánhbắt hải sản xa bờ có trọng tải trên dưới 4.000 tấn, thì đến nay đã có thể đóng cáctàu container có trọng tải 14.000 tấn, tàu chuyên chở 12.500 tấn, tàu chở hàng6.500 tấn và tàu chở dầu 100.000 tấn… theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đươngcác nước trong khu vực và quốc tế Hiện nay, đã có 10 quốc gia trên thế giới đặthàng tại Vinashin
Vì những bước phát triển nhanh chóng nêu trên, Việt Nam đã quyết địnhthay đổi chiến lược phát triển ngành đóng tàu Từ một kế hoạch 10 năm (2001-2010) tương đối khiêm tốn với tổng mức đầu tư khoảng 450 triệu đô la Mỹ, ViệtNam chuyển sang kế hoạch 5 năm (2006-2010) đầy tham vọng với tổng mức đầu
tư lên đến 3 tỉ đô la Mỹ Một số mục tiêu chủ yếu của kế hoạch này bao gồm: (1)Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia đóng tàu mạnh trong khu vực và thế giới,bên cạnh các cường quốc đóng tàu hiện nay là EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, vàTrung Quốc; (2) Nâng tỷ lệ nội địa hóa từ khoảng 15% hiện nay lên 60%; (3)Nâng mức sản lượng từ 300.000 tấn tàu lên 3 triệu tấn vào năm 2010 (chưa kểLiên doanh Hyundai - Vinashin) và chiếm khoảng 6-7% thị phần đóng tàu thếgiới (mục tiêu năm 2015 là 5 triệu tấn, chiếm khoảng 10% thị phần) Khi đó, quy
Trang 27mô của Vinashin bằng ba phần tư quy mô của Hyundai, hãng đóng tàu lớn nhấtthế giới hiện nay.
Đầu tháng 11-2005, Chính phủ đã chuyển 750 triệu đô la Mỹ từ phát hànhtrái phiếu quốc tế lần đầu tiên cho Vinashin để doanh nghiệp này triển khai kếhoạch phát triển này Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây làmột kế hoạch quá tham vọng, không dễ thực hiện, bởi lẽ xét về các điều kiện haylợi thế mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã từng có và Trung Quốc đang có để pháttriển ngành đóng tàu thì Việt Nam gần như không có lợi thế nào Điều này thểhiện ở một số khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, tuy giá nhân công ở Việt Nam rẻ, nhưng không thể thấp hơnTrung Quốc (hiện tại, chi phí nhân công ở Trung Quốc chỉ bằng 1/15 đến 1/10 sovới ở Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi lao động chiếm tới 30% tổng chi phí)
- Thứ hai, Nhà nước không thể tiếp tục trợ cấp như vừa rồi đối vớiVinashin khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như dưới sự đe dọa của các vụ kiệnbán phá giá từ các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, với tiềm lực ngân sách hạn chế,Nhà nước rất khó có khả năng mỗi năm dành ra 5-6% ngân sách quốc gia để trợcấp riêng cho ngành công nghiệp đóng tàu
- Thứ ba, trong kế hoạch phát triển ngành đóng tàu, Việt Nam không cócác nước phương Tây đứng đằng sau hỗ trợ như Nhật Bản và Hàn Quốc trướcđây, hay có thị trường nội địa rộng lớn như Trung Quốc hiện nay
- Thứ tư, khả năng phát triển nguồn nhân lực là có thể, nhưng với tìnhtrạng nền giáo dục đang có nhiều vấn đề và sự chậm trễ trong cải cách giáo dụcnhư hiện nay thì nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam vẫn rất hạn chế
- Cuối cùng, và có lẽ quan trọng nhất, việc phát triển các ngành phụ trợ làthách thức khó có thể vượt qua do chúng ta không có một thị trường đủ lớn nhưTrung Quốc, không nằm trong một liên minh như Nhật Bản và Hàn Quốc để tạolợi thế theo quy mô hay sự tập trung của các ngành, cụm công nghiệp