Quản lý tài nguyên thiên nhiên là việc quản lý các nguồn lực tự nhiên như đất,nước, thực vật, động vật và tập trung chủ yếu về các tác động đến chất lượng cuộc sống cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Quản lý tài nguyên thiên nhiên đưa ra các kế hoạch, các phương hướng chiến lược cụ thể, các biện pháp quy hoạch và cùng với đó là các chế tài phù hợp, nghiêm khắc nhằm giúp cho công việc khai thác và sử dụng và tái tạo tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đúng đắn để mang lại lợi ích tối ưu cho đất nước và toàn cầu, song song đó phải hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm tới môi trường trong việc sử dụng tài nguyên. Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn tập trung đặc biệt vào sự hiểu biết các tài nguyên mang tính khoa học và kỹ thuật, sinh thái học và khả năng hỗ trợ sự sống của các tài nguyên đó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN HUỲNH NHƯ
ĐỀ CƯƠNG
XU THẾ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Bình Dương
Tháng 7/2018
Trang 2MỞ ĐẦU
Đô thị hóa là sự phát triển tất yếu, thể hiện trong cấu trúc không gian
đô thị qua các khu vực: Trung tâm – Vành đai – Vùng đô thị chức năng và theo 4 giai đoạn chủ yếu:
1 Đô thị hóa: tập trung phát triển khu vực trung tâm
2 Ngoại ô hóa: tập trung phát triển khu vực ngoại ô
3 Suy thoái đô thị: giảm dân cư khu vực trung tâm và các đô thị chức năng
4 Tái đô thị hóa: dân cư tăng trở lại trong khu trung tâm và vùng đô thị chức năng
Các đô thị biến đổi nhanh chóng, quá trình đô thị hóa đã khai thác và
sử dụng triệt để tài nguyên thiên nhiên, năng lượng Điều này làm môi trường
ở đô thị ngày càng bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên suy thoái, thách thức tính bền vững của cảnh quan, tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái trong đô thị
Để có mô hình thích ứng, thành phố có môi trường sống tốt hơn, đảm bảo phát triển bền vững nhiều thành phố trên Thế giới đã và đang áp dụng mô hình thành phố Sinh thái (ECO city), thành phố Sinh thái- Kinh tế (ECO2 City), thành phố Cacbon thấp (LOW cacbon city), thành phố thông minh (SMART city)
Việc nghiên cứu nhận biết các vấn đề liên quan của đô thị sinh thái và các giải pháp ứng dụng là việc làm vô cùng cần thiết
CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ SINH THÁI VÀ CÁC YẾU
TỐ CƠ BẢN CỦA ĐÔ THỊ SINH THÁI
1.1 Khái niệm đô thị sinh thái
Cách tiếp cận thứ nhất
Liên quan đến khái niệm thành phố sinh thái/ thành phố xanh bằng cách làm cho không gian mở nhiều hơn và khu vực màu xanh lá cây thật lớn Thành phố có mật độ xây dựng và dân số thấp Chỉ số bền vững đô thị như diện tích của nhà ở; Diện tích xây dựng trên đầu người; diện tích đường trên đầu người; không gian xanh công cộng trên đầu người; không gian xanh riêng cho mỗi người dân; % Đất cho giao thông vận tải; vị trí đô thị
Cách tiếp cận thứ hai
Liên quan đến tiết kiệm năng lượng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tái
sử dụng, tiết kiệm nước , tái sử dụng chất thải rắn và nước thải; kiểm soát các bon thấp ở các thành phố, sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió và sóng biển
Trang 3Thành phố kinh tế và sinh thái (Eco2) là một chương trình của Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ các thành phố và vùng đô thị đạt được đồng thời tính bền vững về kinh tế và sinh thái cao hơn, với mục tiêu tăng trưởng về xã hội và nâng cao sức khỏe con người Chương trình cung cấp cho các thành phố và vùng đô thị một khuôn khổ quy hoạch, quản lý và đầu tư vào các hệ thống đô thị bền vững có tính tích hợp, đa chức năng và đem lại lợi ích trong dài hạn
Khái niệm đô thị sinh thái theo quan điểm của Đỗ Tú Lan, 2017
Theo Richard - Người đầu tiên đặt ra những thuật ngữ “ecocity” trong cuốn sách Ecocity Berkeley (1987) của ông: “thành phố xây dựng cho một tương lai lành mạnh”; Theo Paul F Downton - Kiến trúc sư, nhà lý luận về đô thị bền vững nhìn nhận “Một thành phố bền vững có thể nuôi sống mình với
sự phụ thuộc tối thiểu về các vùng nông thôn xung quanh, và quyền lực chính
nó với các nguồn năng lượng tái tạo”
Andre Bald, Arish Dastur, 2012, bảng tóm tắt thông tin độ thị Việt Nam, trang 1
1.2 Một số yếu tố cơ bản của đô thị sinh thái
- Môi trường tự nhiên: Đất, nước, không khí
- Môi trường vật chất: Các công trình: các không gian ở, công cộng, thương mại, dịch vụ, công viên, cây xanh, công nghiệp, kho tàng, giao thông,
hạ tầng kỹ thuật, không gian giao tiếp, giao lưu
- Môi trường phi vật chất: Văn hóa, tinh thần, sự an toàn, ổn định, cân bằng và công bằng
- Điều kiện sống tốt: về vật chất (ăn, uống, thu nhập, được làm việc) và tinh thần (hưởng thụ, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, sinh hoạt)
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ SINH THÁI
Có nhiều tóm tắt về quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái Nhận biết được quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái giúp ta có một nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận nghiên cứu về đô thị sinh thái
2.1 Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Nguyễn Văn Long, Ngô Thị Minh Thê, Lê đức Viên, Nguyễn Hoàng Linh, 2017
STHĐT buổi đầu không được khởi xướng bởi các nhà sinh học và sinh thái học Các thuật ngữ “hệ sinh thái” và “sinh thái học cảnh quan” đã lần lượt được đưa ra vào những năm 1935 và 1939 Vài thập kỷ gần đây, các nhà sinh thái học vẫn chỉ tập trung nhiều vào nghiên cứu “thiên nhiên vắng mặt con người” Tuy nhiên, cũng có một số điểm sáng nghiên cứu về phân bố
Trang 4không gian và sự phong phú của động thực vật tại các thành phố ở châu Âu trong giai đoạn từ năm 1940 tới 1950 sau thế chiến thứ II (Sukopp, 1990, 2002) Những nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện bởi các nhà thực vật – động vật học, đại diện cho một cách tiếp cận sinh thái học – sinh học trong đô thị mà đôi khi được gọi là “trường phái Berlin”
Tại Bắc Mỹ, Adams (1935), một nhà sinh thái động vật học và là người tiên phong trong lĩnh vực sinh thái học năng lượng, đã thảo luận khá sâu về mối quan hệ của sinh thái tổng quát với sinh thái học nhân văn Nội dung được trình bày trong cuốn sách sinh thái vào năm 1940, với tiêu đề “mối quan
hệ giữa sinh thái học và lợi ích của con người” trong một hội nghị chuyên đề tại Hoa Kỳ (Adams, 1940) Stearns (1970) cũng thừa nhận rằng các nhà sinh học nhìn chung đã bỏ qua môi trường đô thị trong các nghiên cứu của họ và khẳng định rằng: “Ý nghĩa của các khái niệm sinh thái như: Sự đa dạng, diễn thế, sơ đồ năng lượng, chuỗi thức ăn, động lực dân số và lãnh thổ rất quan trọng trong việc quản lý các thành phố” Dù những nghiên cứu này là cột mốc quan trọng trong lịch sử của STHĐT, nhưng chúng vẫn không thể làm thay đổi nhận thức của các nhà sinh thái rằng: Các thành phố “không xứng đáng”
là một địa điểm nghiên cứu
Do vậy, hầu như không thể tìm thấy những phát biểu về STHĐT trong các tạp chí chính thống của khoa học sinh thái từ cuối thập niên 1980 tới đầu những năm 1990 Tuy nhiên, một số yếu tố khiến các nhà sinh thái học khi đó quan tâm nhiều hơn tới các khu vực đô thị – Đó là mối quan ngại ngày càng tăng về tác động xấu tới môi trường từ quá trình đô thị hóa, sự gia tăng các quan điểm sinh thái nhấn mạnh sự mất cân bằng và động lực đám sinh cảnh (patch dynamics), cũng như ảnh hưởng rộng của phong trào phát triển bền vững đang diễn ra khi đó Việc thành lập các dự án liên ngành quy mô lớn, chẳng hạn như hai dự án nghiên cứu sinh thái dài hạn (LTER) tại Hoa Kỳ được hỗ trợ bởi tổ chức khoa học quốc gia Hoa Kỳ lànghiên cứu hệ sinh thái Baltimore (BES) và nghiên cứu sinh thái dài hạn miền Trung Arizona-Phoenix (CAP-LTER), đã đóng một vai trò quan trọng trong việc trẻ hóa gần đây của STHĐT “Phiên bản mới” của STHĐT sau này có đặc trưng là tăng cường yếu tố “liên ngành” và “xuyên ngành” trong các chuyên đề nghiên cứu
2.2 Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Lưu Đức Hải, 2001, Vấn đề đô thị sinh thái trong phát triển đô thị ở Việt Nam
Ý tưởng về đô thị sinh thái có nguồn gốc từ những năm 80 của thế kỷ
XX và đã được công bố lần đầu tiên bởi các học giả Đức, nó liên quan trực tiếp đến các cuộc tranh cãi về trách nhiệm đối với hệ sinh thái vốn đã được đưa ra từ những năm 60 Các khái niệm đô thị sinh thái đầu tiên xoay quanh
sự trao đổi về những hoạt động diễn ra trong đô thị như: Vòng tròn năng lượng, nước, chất thải, khí thải…
Trang 5Trong vài năm qua, phong trào xây dựng các đô thị sinh thái đã phát triển trên toàn thế giới Khai sinh ra phong trào Ecocity là Richard Register, một chuyên gia thiết kế đô thị được quốc tế công nhận Ông đã thành lập Khoa Đô thị sinh thái ở Berkeley (Mỹ) vào năm 1975, và đã cố gắng tổ chức một số hội nghị địa phương để biến đổi Berkeley để thành một Ecocity Nhóm Sinh thái học đô thị sau này được chuyển thành Ecocity Builders, một
tổ chức phi chính phủ gắn trách nhiệm môi trường với phát triển đô thị thông qua giáo dục cộng đồng và tư vấn với các chính phủ và các nhà quy hoạch Phương châm của nhóm là “để xây dựng lại nền văn minh trong sự cân bằng với thiên nhiên.”
Năm 1990, Những gì do Register và The Ecocity Builders khởi xướng
đã trở thành một thành phần quan trọng của phong trào Ecocity Hội nghị Ecocity quốc tế, đã được tổ chức hai năm một lần sau đó, trên năm châu lục khác nhau Tháng 8 năm 2002, hội nghị được tổ chức tại Thẩm Quyến, một
đô thị vườn của Trung Quốc Kể từ năm 1990, hội nghị đã trở thành một trong những diễn đàn quan trọng nhất về phát triển bền vững
Các nguyên tắc của phong trào Ecocity khá đơn giản: mọi người có thể sống, làm việc, mua sắm tại các cửa hàng, vui chơi trong một khoảng cách gần và giao thông là thứ mà người dân cần sử dụng khi họ đang ở chỗ mà họ không muốn ở Lựa chọn giao thông đầu tiên trong ecocity phải là đi bộ, xe đạp là thứ hai, thứ ba là phương tiện giao thông công cộng, và cuối cùng mới đến xe hơi
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ĐÔ THỊ SINH THÁI
3.1 Tiêu chí đô thị xanh áp dụng tại EU
- Không gian xanh: đô thị có mật độ cây xanh cao, tỷ lệ cây xanh/người cao, không gian công cộng, không gian công viên, mặt nước được quan tâm
- Công trình xanh: Xanh hóa công trình, vật liệu xanh, tiết kiệm năng lượng, ưu tiên tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, sử dụng năng lượng hiệu quả và vật liệu thân thiện môi trường
- Giao thông xanh: nâng cao tỷ lệ giao thông công cộng, giảm sử dụng các phương tiện cá nhân, giảm khí thải CO2, sử dụng khí tái chế cho GTCC
- Công nghiệp xanh: Công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, hạn chế ô nhiễm
- Chất lượng môi trường đô thị xanh: Môi trường không khí sạch, giảm rác thải, khói, bụi, độ ồn trong đô thị
- Bảo tồn cảnh quan văn hóa lịch sử danh lam thắng cảnh, cảnh quan thiên nhiên
Trang 6Cộng đồng dân cư sống thân thiện với môi trường.
3.2 Tiêu chí đô thị xanh ở Việt Nam
- Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối đa các nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước của người sử dụng Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian xanh
- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang
cư trú tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi giải trí
- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận Phần lớn dân cư đô thị sẽ sống và làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp
để giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa hơn của người dân Chia sẻ ô tô con địa phương cho phép mọi người chỉ sử dụng khi cần thiết
- Công nghiệp của đô thị sinh thái sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa
có thể tái sử dụng, tái sản xuất và tái sinh Các quy trình công nghiệp bao gồm
cả việc tái sử dụng các sản phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hàng hóa
- Kinh tế đô thị sinh thái là một nền kinh tế tập trung sức lao động thay
vì tập trung sử dụng nguyên liệu, năng lượng và nước, nhằm duy trì việc làm thường xuyên và giảm thiểu nguyên liệu sử dụng
Lưu Đức Hải, 2011, Hệ sinh thái sự cân bằng tự nhiên
3.3 Phát triển đô thị sinh thái bền vững
Theo Đỗ Tú Lan, 2017, về việc phát triển đô thị sinh thái bền vững
Đa dạng sinh học: đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi giải trí
Kiến trúc công trình: đảm bảo khai thác tối đa các nguồn mặt trời, gió
và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước của người sử dụng Có thể phát triển nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian xanh
Giao thông xanh: Tăng cường sử dụng giao thông công cộng; quy hoạch giảm thiểu tối đa khoảng cách các dịch vụ / phát triển giao thông xanh
Kinh tế đô thị: Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên/ Hiệu suất cao trong các hoạt động kinh tế nhưng không tổn hại đến môi trường
Công nghiệp: Công nghiệp của đô thị sinh thái sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể tái sử dụng, tái sản xuất và tái sinh Các quy trình công
Trang 7nghiệp bao gồm cả việc tái sử dụng các sản phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hàng hóa
3.4 Nguyên tác chính để xây dựng đô thị Xanh
a) Các nguyên tắc của một đô thị sinh thái theo Lê Huy Bá
- Đô thị là một hệ sinh thái với đầy đủ các đặc tính, cấu trúc và chức năng sinh thái của nó
- Tiếp cận xây dựng một đô thị sinh thái trên cơ sở cấu trúc, chức năng, môi trường và các tương tác của các thành phần trong hệ sinh thái đô thị
- Sự tương tác hay mối quan hệ giữa các sinh vật và môi trường trong
hệ sinh thái đô thị là cộng sinh
- Hoạt động của con người gây xâm hại ít nhất đến môi trường
- Đa dạng hóa việc sử dụng đất, chức năng đô thị cũng như hoạt động của con người trong đô thị
- Trong điều kiện có thể, giữ cho hệ sinh thái đô thị được khép kín và
tự cân bằng
- Giữ cho phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trường và tài nguyên được cân bằng tối ưu
b) Các nguyên tắc của một đô thị sinh thái theo Tổ chức Urban Ecology, Úc
Tổ chức “Urban Ecology” lại phân chia các nguyên tắc cơ bản để tiến tới một đô thị sinh thái thành hai mảng lớn là: giảm thiểu dấu chân sinh thái
và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Trong đó, năm nguyên tắc nhằm giảm thiểu dấu chân sinh thái gần giống như các nguyên tắc vừa được
đề cập nhưng nhấn mạnh hơn đến vấn đề năng lượng trong khi các nguyên tắc trên nhấn mạnh đến việc xây dựng đô thị giống như một hệ sinh thái kép kín
và hoàn chỉnh
Mặt khác, các yếu tố kinh tế, xã hội được đề cập đến cụ thể hơn trong năm nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
Các nguyên tắc do tổ chức “Urban Ecology” đề xuất:
Giảm thiểu dấu chân sinh thái:
- Phục hồi đất bị thoái hóa, bao gồm việc xử lý những khu đất bị ô nhiễm, thoái hóa, sử dụng những loại cây bản địa, khuyến khích các hoạt động nông nghiệp, tạo ra những vành đai xanh xung quanh đô thị
- Tạo ra sự cân bằng với tự nhiên, nhằm tạo ra sự hài hòa giữa môi trường và phát triển, sự hiểu biết về những yếu tố vật lý, sinh học và xã hội của khu vực Nguyên tắc bao gồm việc duy trì chu trình vật chất tự nhiên trong khu vực, tạo ra các công trình và cách thức phát triển đô thị phù hợp với
Trang 8khí hậu, bảo tồn nguồn nước, sử dụng nhiều nhất có thể các vật liệu sẵn có và bảo vệ văn hóa bản địa
- Cân bằng giữa phát triển và sức chịu tải của môi trường, nhằm phát triển trong ngưỡng chịu tải của môi trường, bảo vệ các yếu tố sinh thái, tăng cường mối quan hệ giữa khu vực đô thị và khu vực đệm, khu vực nông thôn
và các khu vực liên quan
- Ngăn chặn xu thế phát triển rải rác và không theo quy hoạch về không gian, tạo ra những khu vực sinh sống mật độ cao nằm trong những vành đai xanh, những khu dự trữ sinh quyển, tuy nhiên mật độ đó phải nằm trong khả năng chịu tải của môi trường
- Tối ưu hóa sử dụng năng lượng, nhằm tạo ra và sử dụng năng lượng hiệu quả Nguyên tắc này bao gồm việc tối thiểu nhu cầu sử dụng năng lượng,
sử dụng năng lượng tái sinh, nhất là năng lượng gió và năng lượng mặt trời, tạo ra năng lượng ngay chính trong khu vực, giảm thiểu tiêu dùng nhiên liệu hóa thạch, thiết kế những công trình sử dụng năng lượng mặt trời, những công trình sử dụng năng lượng hiệu quả, những kiến trúc sinh khí hậu
Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người:
- Mang lại lợi ích kinh tế, nhằm tạo ra cơ hội việc làm và phát triển các hoạt động kinh tế, hỗ trợ những hành động phát triển mang tính xã hội và sinh thái, khai thác nhiều nhất nguyên vật liệu sản xuất từ chính địa phương Nguồn tài chính này nên lấy từ chính địa phương, người quản lý và điều khiển tài chính tốt nhất là tách rời khỏi những người thực hiện hành động phát triển Nguyên tắc bao gồm việc phát triển nền công nghiệp sinh thái, phát triển dịch
vụ “xuất khẩu công nghệ xanh”, công nghệ thông tin, khích lệ những sáng kiến và sự mạnh dạn hướng tới nền kinh tế sinh thái
- Tạo ra một môi trường trong lành và an toàn cho tất cả mọi người, bao gồm việc giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao chất lượng môi trường, đảm bảo nguồn nước là an toàn, được quay vòng, tận dụng hợp lý, chất lượng không khí cao, đảm bảo an ninh lương thực, chất lượng lương thực, phát triển nông nghiệp đô thị, tạo ra nơi cư trú cho các loài chim và động vật
- Phát triển cộng đồng, nhằm tạo ra một thành phố với sự tham gia sôi nổi của cộng đồng, không chỉ lả tham khảo ý kiến, mà là tham gia trực tiếp vào việc quản lý và nỗ lực hoạt động cho sự phát triển và sự phát triển trong một đô thị sinh thái cần phải đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng Để thực hiện được những điều đó, cần cung cấp những phương tiện cần thiết, chẳng hạn về công nghệ, thông tin
- Đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, nghĩa là tạo ra một nền kinh
tế và một cơ chế quản lý trong đó mọi người đều được hưởng sự công bằng
và bình đẳng, đảm bảo quyền bình đẳng cho việc tiếp cận và sử dụng những dịch vụ, cơ sở vật chất và thông tin cần thiết, giảm tỷ lệ nghèo và tạo cơ hội
Trang 9việc làm Nguyên tắc này yêu cầu sự tham gia của tất cả các thành phần trong cộng đồng trong quá trình phát triển, việc đảm bảo nhu cầu về nhà ở, quyền
sử dụng công cộng ở những không gian chung và quyền dân chủ
- Phát huy những giá trị truyền thống và lịch sử, nhằm phát huy tối đa những giá trị lịch sử, cả vật thể và phi vật thể
Nguyên tắc này bao gồm việc phục hồi và duy trì những địa điểm văn hóa - lịch sử, nhất là những điểm có giá trị tinh thần, phát huy tính đa dạng văn hóa và tôn trọng những cộng đồng bản địa trong khu vực
Bên cạnh đó, cần có các hoạt động hỗ trợ và khuyến khích đa dạng văn hóa, kết hợp với việc tăng cường nhận thức về môi trường trên các phương diện có liên quan đến con người Nghệ thuật truyền thống phải có vai trò quan trọng trong cả quá trình xây dựng và hoạt động của khu vực tư nhân đến thành phố và cả vùng đó Các hành động cụ thể bao gồm: phát triển về giáo dục và kĩ năng cho nền kinh tế sinh thái và sự hoạt động về sau của nó, phát triển đời sống tinh thần - văn hóa - nghệ thuật, như âm nhạc, điện ảnh, kĩ thuật, kết hợp nghệ thuật với khoa học kĩ thuật, tăng cường nhận thức môi trường, và coi đó như là một phần quan trọng của lối sống văn hóa, hỗ trợ những hoạt động cộng đồng như hội trợ hàng thủ công mỹ nghệ, ngày lễ hội
The Ecopolis Development Principles
http://www.urbanecology.org.au/articles/ecopolisprinciples.html
CHƯƠNG 4 CÁC ĐÔ THỊ SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI
4.1 Vancouver, Canada
Nằm ở bờ biển Thái Bình Dương của tỉnh British Columbia, Vancouver
là thành phố lớn thứ ba và cũng là hải cảng quan trọng nhất của Canađa Đây cũng là thành phố lý tưởng nhất để sống trên thế giới theo đánh giá của Tạp chí Econmomist (Anh) dựa trên các tiêu chí như cơ sở hạ tầng, hàng hóa, dịch
vụ, mức độ an toàn…
Bắt đầu vào cuối thập niên 1950, khi những nhà quy hoạch đô thị của thành phố bắt đầu khuyến khích việc xây dựng các tòa nhà ở cao tầng tại khu West End của Vancouver đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt về không gian để bảo vệ tuyến, tầm nhìn và không gian xanh Sự thành công của các khu phố dày đặc này dẫn đến việc tái kiến thiết các điểm đô thị công nghiệp, như North False Creek và Coal Harbour, bắt đầu vào giữa thập niên 1980 Kết quả
là một hạt nhân đô thị chật được quốc tế công nhận là “phát triển với tiện nghi cao” và “dễ sống”
Trang 10Khung cảnh bờ biển tại Sunset Beach, Canada.
So với các thành phố khác có cùng quy mô, Vancouver được đánh giá cao trong việc kiểm soát lượng khí thải CO2 và duy trì chất lượng không khí, một phần nhờ sự quan tâm của thành phố trong việc thúc đẩy năng lượng xanh và ưu tiên phát triển thủy điện Vancouver cam kết giảm lượng phát thải 33% vào năm 2020