Xuất phát từ những lý do mang tính thực tiễn đó cùng với kinh nghiệm đứng lớp giảng dạy của bản thân, tôi đã lựa chọn: “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn qua khai thác hiệu quả kênh hình trong dạy học phần văn bản Ngữ văn lớp 9 – THCS theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực” để chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới trong dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
Trang 1Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn qua khai thác hiệu quả kênh hình trong dạy học phần văn bản Ngữ văn lớp 9 – THCS theo định hướng
phát triển phẩm chất năng lực
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 đã quy định: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên".
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là "giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc" Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định
số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã nêu: "Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh"
Mục tiêu của môn học Ngữ văn THCS là trang bị cho học sinh mặt bằng trithức và năng lực cảm thụ, phân tích tác phẩm văn chương, nhằm bồi đắp, nâng
cao nhu cầu và khả năng hưởng thụ thẩm mĩ cho học sinh; giúp các em "tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hoá, cảnh vật, cuộc sống, con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong các tác phẩm văn học và trong các văn bản được học", "có kĩ năng nghe, đọc một cách thận trọng, bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng, tình cảm và một số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, để từ đó hình thành ý thức và kinh nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó".
Tuy nhiên môn Ngữ văn trong chương trình Ngữ văn THCS đã không tựgiới hạn ở mục tiêu đó Với tư cách là môn học công cụ, môn Ngữ văn THCScòn phải hướng tới mục tiêu hình thành cho học sinh tính tích cực, chủ động,sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải
Trang 2quyết các vấn đề thực tiễn Mặt khác, tính đa dạng về hình thức văn bản trongSGK Ngữ văn THCS đòi hỏi cách học chúng không chỉ theo đặc điểm thể loạivăn học mà có thể và cần học chúng theo định hướng phát triển phẩm chất nănglực, là cơ sở để tạo lập các kiểu văn bản Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) môn Ngữ văn THCS theo định hướng phát triển phẩm chất năng lựcchính là yêu cầu quan trọng hàng đầu nhằm đánh giá năng lực người học
Xuất phát từ những lý do mang tính thực tiễn đó cùng với kinh nghiệm
đứng lớp giảng dạy của bản thân, tôi đã lựa chọn: “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn qua khai thác hiệu quả kênh hình trong dạy học phần văn bản Ngữ văn lớp 9 – THCS theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực”
để chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới trong dạy học theohướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh
2 Tên sáng kiến: Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn qua khai thác hiệu quả kênh hình trong dạy học phần văn bản Ngữ văn lớp 9 – THCS theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực.
- Sáng kiến nhằm cải tiến phương pháp dạy và học để nâng cao chất lượng dạy
bộ môn Ngữ văn, góp phần nâng cao chất lượng chung cho học sinh, tạo niềmtin ở các bậc phụ huynh và nhân dân vào nhà trường, vào đội ngũ giáo viên.Đồng thời, sáng kiến còn giúp học sinh thêm yêu thích bộ môn trong xu thếchung hiện nay mà đa phần các em học sinh không còn mặn mà với văn chương
vì mặc cảm bài dài, phải học thuộc nhiều , yêu tiếng Việt và có thái độ tíchcực trong tất cả các giờ học, các bài học đặc biệt là góp phần thúc đẩy chấtlượng học sinh thi vào lớp 10 bậc THPT
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9 năm 2018.
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
PHẦN I: LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN
Trang 3I Cơ sở lí luận
1 Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương, cơ sở giáo dục tiếp tục
đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo,rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh theocác Công văn số 3535/BGDĐT - GDTrH ngày 27/5/2013 về áp dụng phươngpháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực khác; Công văn số5555/BGDĐT - GDTrH ngày 08/10/2014 đổi mới đánh giá giờ dạy giáo viên,xây dựng tiêu chí đánh giá giờ dạy; Công văn số 4612/BGDĐT - GDTrH ngày03/10/2017 hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hànhtheo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017 –2018; Công văn số 3817/BGDĐT - GDTrH ngày 15/08/2017 về hướng dẫn thựchiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2017 – 2018; đẩy mạnh việc vậndụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự ántrong các môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin; tập trung dạy cáchhọc, cách tư duy; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng vàđịnh hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hóaphù hợp các đối tượng học sinh khác nhau; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc; tăng cường tổ chức dạy học thí nghiệm – thực hành.Việc đổi mới phương pháp dạy học như trên cần phải được thực hiện một cáchđồng bộ với việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học Cụ thể là:
- Đa dạng hóa các hình thức dạy học, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo;
tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong tổ chức dạy họcthông qua việc sử dụng các mô hình học kết hợp giữa lớp học truyền thống vớicác lớp học trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như tăng cường
sự công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục chất lượng cao Ngoàiviệc tổ chức cho học sinh các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giaonhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh trung học.
- Chỉ đạo các cơ sở giáo dục trung học xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học,
phát động tuần lễ “Hưởng ứng học tập suốt đời” và phát triển văn hóa đọc gắnvới xây dựng câu lạc bộ khoa học trong các nhà trường
- Tiếp tục thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học.
- Khuyến khích các nhà trường tổ chức các hoạt động góp phần phát triển năng
lực học sinh như: Văn hóa – Văn nghệ, Thể dục – Thể thao; trải nghiệm sángtạo, các hoạt động ngoài giờ lên lớp; trên cơ sở phù hợp với đặc điểm tâmsinh lý và nội dung học tập của học sinh trung học, phát huy sự chủ động vàsáng tạo; tăng cường tính giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy học sinh hứng thúhọc tập
Trang 4- Tiếp tục phối hợp với các đối tác thực hiện tốt các dự án khác như: Chương
trình giáo dục kĩ năng sống; Chương trình dạy học Intel; Dự án đối thoại Châu
Á – Kết nối lớp học; Ứng dụng CNTT đổi mới quản lý hoạt động giáo dục ởmột số trường thí điểm theo kế hoạch số 10/KH-BGDĐT ngày 07/01/2016 của
Bộ GDĐT
Ngữ văn là một trong những môn học rất quan trọng trong hệ thống các mônhọc ở cấp THCS Mục tiêu của môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dụcnói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp Cụ thể, môn học
Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau: Thứ nhất, trang bị những kiến thức
phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học - trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam - phù hợp với trình độ phát triển của lứa
tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước Thứ hai, hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng
Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt
là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
Thứ ba, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu
gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lýtưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh tráchnhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và pháthuy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại” Việc dạy học môn Ngữ văncòn là giúp cho học sinh có được những những kỹ năng giao tiếp, sự tự tin trìnhbày trước đông người; giúp các em có bản lĩnh vững vàng, dám bày tỏ ý kiến,suy nghĩ của mình Do vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn là
vô cùng quan trọng
2 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sử dụng trong nhà
trường THCS.
a Phương pháp dạy học là gì?
- Phương pháp dạy học (PPDH) là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng Có nhiều
quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH Trong tài liệu này, PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS), trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
- Một số lưu ý:
+ Mỗi quan điểm DH có những PPDH cụ thể phù hợp với nó; mỗi PPDH cụthể có các KTDH đặc thù Tuy nhiên, có những PPDH cụ thể phù hợp với nhiềuQĐDH, cũng như có những kĩ thuật dạy học (KTDH) được sử dụng trong nhiềuPPDH khác nhau (Ví dụ: kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương phápđàm thoại và phương pháp thảo luận)
Trang 5+ Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi
không rõ ràng Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợp được coi là
phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH
+ Có những PPDH chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thùcủa từng môn học hoặc nhóm môn học
+ Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho một phương pháp dạy học hoặc kĩ
thuật dạy học Ví dụ: Brainstorming có người gọi là động não, có người gọi là công não hoặc tấn công não,
b Một số phương pháp dạy học tích cực
b.1 Phương pháp dạy học nhóm
b.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
b.3 Phương pháp giải quyết vấn đề
c.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ
c.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi
c.4 Kĩ thuật khăn trải bàn
c.11 Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”
c.12 Kĩ thuật “Hỏi Chuyên gia”
c.13 Kĩ thuật “Lược đồ tư duy”
c.14 Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
c.15 Kĩ thuật “Viết tích cực”
c.16 Kĩ thuật “Đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)
c.17 Kĩ thuật “Nói cách khác”
c.18 Phân tích phim Video
c.19 Tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
II Cơ sở thực tiễn
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết TW
số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, giáo dục
Trang 6phổ thông trong phạm vi cả nước đang thực hiện đổi mới đồng bộ các yếu tố:mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị và đánh giá chấtlượng giáo dục.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục nóichung và vấn đề đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng Vấn đề này đãđược đề cập nhiều lần trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục.Đặc biệt, trong thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghịquyết TW 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm
2020 đã chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, giáo viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”.
Thực tế cho thấy: Hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi giáoviên có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm vàtinh thần trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học
Các chuyên đề về đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ sở chogiáo viên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợpvới đặc trưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh pháttriển và rèn luyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lýthông tin, giải quyết các tình huống, kỹ năng thực hành …
Như chúng ta đã biết mục tiêu của chương trình GDPT 2018 là phát huy tínhchủ động, tích cực, sáng tạo của người học Học sinh sẽ được đặt vào trung tâmcủa hoạt động học Như vậy, phương pháp dạy học truyền thống trước đây liệu
có còn đáp ứng được yêu cầu của chương trình GDPT mới ? Học sinh học tậptích cực, các em tự khám phá và lĩnh hội tri thức thì buộc phương pháp dạy họccũng phải là phương pháp dạy học tích cực Vậy chúng ta phải làm thế nào đểthay đổi cách học thụ động mà bấy lâu nay đã tồn tại trong bao thế hệ thầy vàtrò của người Việt Nam? Thay đổi thói quen dạy học, thay đổi phương pháp dạyhọc truyền thống không phải dễ dàng nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làmđược
Hiện nay nền giáo dục nước ta đang ở giai đoạn đầu của sự nghiệp đổi mớimột cách toàn diện từ triết lý giáo dục đến mục tiêu, nội dung, phương pháp vàphương tiện dạy học Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới giáo dục đãđược chỉ rõ trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng về vấn đề giáo dục Đó
là: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo
Trang 7điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” Làm thế nào để phát
huy tích tích cực, tự giác trong học tập của người học là vấn đề cốt lõi của sựđổi mới phương pháp dạy học bởi nếu người học không có được sự hứng thútrong mỗi giờ học thì cũng không có ý thức tự giác, tích cực trong học tập.Trong thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở các cấp học, mônhọc đã được chú trọng tuy nhiên do sự yếu và thiếu các tài liệu dạy học hiện đại,nhất là: các tài liệu dạng nghe - nhìn Điều này khiến cho các ý tưởng đổi mớicủa giáo viên bị hạn chế và đương nhiên bài học cũng vì vậy mà thiếu hiệu quả.Người học chắc chắn cũng chưa thể hứng thú với một giờ dạy mà chỉ bằngphương pháp dùng lời của giáo viên với những đồ dùng, trang thiết bị dạy họcthô sơ
Vận dụng phương pháp dạy học tích cực môn ngữ văn như thế nào để manglại hiệu quả là vấn đề rất được quan tâm hiện nay Bởi các tác phẩm văn họcthường chứa đựng giá trị đa nghĩa, trong khi đó người học lại tiếp nhận theotính chủ quan Làm thế nào để giúp học sinh tiếp cận, cảm nhận và hiểu sâusắc về tác phẩm, về cách tạo lập văn bản… cũng như phát huy được phẩm chấtnăng lực, sự sáng tạo của mình luôn là một bài toán khó đối với tất cả thầy cô
PHẦN II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC VĂN QUA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I Về phía giáo viên
Đổi mới phương pháp dạy học văn qua ứng dụng công nghệ thông tin theo
định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh là một trong những chủtrương đổi mới giáo dục của nghành nhằm nâng cao chất lượng dạy học đượctoàn xã hội quan tâm Đứng trước định hướng này mỗi người giáo viên đềukhông ít trăn trở và phải đánh giá về thực tế để từ đó đề ra kế hoạch giáo dụcsao cho đạt kết quả giáo dục tốt nhất Chúng tôi có những điều kiện thuận lợi đểthực hiện nhiệm vụ:
- Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việcchỉ đạo đổi mới PPDH
- Trường THCS Tân Tiến có 5 giáo viên được đào tạo chuyên ngành Ngữ văn(trong đó có 1 giáo viên hợp đồng, 4 đồng chí được biên chế trong tổ chuyênmôn KHXH, yêu nghề, tâm huyết) nên dễ có điều kiện trao đổi, học hỏi nhau vềkiến thức cũng như kinh nghiệm giảng dạy bộ môn
- Sinh hoạt của tổ chuyên môn đã dần đi vào chiều sâu và đạt hiệu cao (tổ đãgiành nhiều thời gian cho việc bàn bạc, thảo luận cách dạy các bài (nội dung)
Trang 8dài, khó …), học tập và thực hiện cách soạn bài theo mẫu mới, dạy học và đánhgiá giờ học tiếp cận kiểu mới, năng lực chuyên môn của giáo viên ngày càngđược khẳng định
- Sự đổi mới trong công tác dạy học diễn ra trong điều kiện thuận lợi của sựphát triển mạnh mẽ công nghệ số, mạng Internet, trang thiết bị máy tính, máychiếu … Người giáo viên rất dễ dàng trong việc khai thác, tìm hiểu thông tin từcác nguồn kiến thức, dễ dàng kết nối các diễn đàn trao đổi sinh hoạt chuyênmôn
- Bản thân mỗi giáo viên được tập huấn bồi dưỡng chuyên môn để thực hiệnhiệu quả các PPDH tích cực vào thực tế giảng dạy, bắt kịp xu thế đổi mới
Mặc dù vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học qua việc ứng dụng CNTTvào dạy học Ngữ văn cũng cần thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá:
- Một số giáo viên có thói quen sử dụng PPDH truyền thống còn nặng nề, chưa
có sự nhanh nhạy trong ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, tinh thầnhọc hỏi còn hạn chế, chưa tích cực nghiên cứu, tìm tòi kiến thức qua hệ thốngInternet, các diễn đàn, nhóm chuyên môn để tự bồi dưỡng kiến thức, trau dồitrình độ chuyên môn, làm phong phú nội dung bài học, hoặc còn rụt rè trongchia sẻ kinh nghiệm Việc lên kế hoạch dạy học và thực hiện giờ học còn thiếukinh nghiệm
- Trong quá trình giảng dạy và học tập, giáo viên chỉ quan tâm đến việc dạy,học sinh lại quan tâm đến việc ghi chép bài nên thiếu đi sự tương tác lẫn nhau.Nếu tăng cường được sự tương tác có thể nhắc nhở, bổ sung kiến thức cho nhau,
từ đó làm cho kiến thức trở nên toàn vẹn hơn Thiếu sự hứng thú và đam mê vớiviệc học Học sinh không có hứng thú, niềm đam mê với tiết học ngữ văn, dẫnđến việc học tập không hiệu quả … Nguyên nhân của thực trạng trên, có thể kểđến như: Giáo viên không xem học sinh là chủ thể của hoạt động học ngữ văn,không trao cho học sinh quyền chủ động trong học tập Dạy học theo phươngpháp cũ, chủ yếu là diễn giảng, bình và giảng Chú trọng về dạy lý thuyết, ít tiếtthực hành và không trau dồi khả năng cảm nhận văn học cho học sinh Dạy họctheo kiểu áp đặt, buộc học sinh phải học thuộc kiến thức mà giáo viên truyềndạy Giáo viên chưa xem việc dạy học tác phẩm văn học chính là dạy học đọcvăn Hoặc dạy văn nghị luận theo phương pháp làm văn theo các đề có sẵn và
đề văn mẫu; chưa có khái niệm về việc đọc nên không đưa ra được biện phápdạy đọc văn hoàn chỉnh và hiệu quả nhất
- Quá trình tự bồi dưỡng, cập nhật CNTT: soạn bài trình chiếu Powerpoit chưatích cực, có giáo viên còn rất non yếu về chuyên môn và khả năng thực hành tinhọc Khi áp dụng CNTT vào giảng dạy thì lại non trong kĩ năng, cụ thể:
Trang 9+ Trình bày, phân bố nội dung bài học trong từng slide chưa khoa học, chưa đảm bảo tính thẩm mĩ (màu sắc, cỡ chữ, ).
+ Đưa hình ảnh nhưng không khai thác hình ảnh Ví dụ như tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, giáo viên chiếu ảnh chân dung, chiếu một số tác phẩm tiêu biểu nhưng không giới thiệu; chiếu hình ảnh minh họa cho nội dung, đơn vị kiến thức bài học lại không giảng giải, thậm chí có những hình ảnh không có tác dụng với phần kiến thức, không liên quan đến bài học Đưa nhiều hình ảnh không những không đem lại hiệu quả học tập mà còn gây rối bài, gây mất tập trung ở học sinh
- Điều kiện về phương tiện, thiết bị dạy học chưa thực sự đáp ứng yêu cầu củaviệc dạy và học, đã quá cũ hoặc hỏng hóc vì được cấp quá lâu, …
II Về phía học sinh
- Trong thời đại hôm nay, học sinh được tiếp cận với công nghệ số rất hiện đạinên nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin khi giáo viên giao nhiệm vụ, đượctrang bị đầy đủ sách vở, phương tiện học tập Tuy nhiên, trong thực tế nhiều sốhọc sinh chưa thật hứng thú với môn học, còn có thói quen ỉ nại, dựa dẫm vàobạn; thiếu mạnh dạn, thiếu chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập Phươngtiện học tập (máy tính) không phổ biến, khó khăn trong việc tìm hiểu thông tin,kiến thức
- Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thiếu hứng thú, chỉ học theohình thức đọc thuộc để đối phó nên không phát huy được tính sáng tạo cũng nhưchủ động trong việc tìm tòi, khám phá kiến thức Học sinh không hình thànhthói quen tự học: Học sinh không chủ động tìm kiếm kiến thức trong sách giáokhoa, không nắm được đâu là kiến thức trọng tâm, không phân biệt được đâu làvấn đề chính và phụ, không phát triển từ cái đã biết để tìm ra câu trả lời cho cáichưa biết hoặc thiếu sự tương tác giữa giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh
- Việc bố trí học sinh theo nhóm, ngồi học trong phòng khó thực hiện
- Thao tác, phong cách học tập của học sinh (trả lời, ghi bài, ) chưa thuần thụcvới phương pháp mới gây tốn thời gian giờ học, đa phần thực hiện được ở cáclớp chọn, còn các lớp đại trà thường khó thực hiện Học sinh có thói quen làmviệc thụ động, thầy ghi gì chép đấy, chưa biết tự chắt lọc kiến thức, chưa biết tựhọc, tự nghiên cứu trước bài học…
- Một bộ phận không nhỏ học sinh ngày càng có xu hướng không thích học văn
vì cho rằng đây là môn học thuộc, dài, khó học Một số em chưa thật sự mạnh dạn, nhận thức quá kém so với các bạn cùng trang lứa nên có tâm lí tự ti, mặc cảm, không dám trình bày ý kiến của mình vì sợ sai các bạn chê cười dẫn đến kết quả học tập không cao
Trang 10- Sự phát triển của công nghệ thông tin, các trò chơi điện tử cũng là nguyên nhân khiến các em sao nhãng chuyện học hành
Tôi tiến hành khảo sát mức độ hứng thú học môn Ngữ văn của học sinh lớp
9 vào đầu năm học 2019 – 2020 và thu được kết quả như sau:
Số lượng Tỉ lệ %
Số lượng Tỉ lệ %
(1.1 Bảng khảo sát thống kê số liệu trước khi thực hiện giải pháp)
Từ những thực trạng dạy học trên và kinh nghiêm dạy học nhiều năm củabản thân, tôi đã lựa chọn giải pháp: Ứng dụng công nghệ thông tin khai tháchiệu quả kênh hình trong dạy học phần văn bản môn Ngữ văn 9 – THCS theođịnh hướng phát triển phẩm chất năng lực để góp phần nâng cao hiệu quả côngtác dạy học, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh
PHẦN III: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I Sử dụng kênh hình trong hoạt động khởi động bài học.
Một tiết học được coi là một hoạt động tổng thể diễn ra trong thời gian 45
phút đối với bậc Trung Học; bao gồm 4 hoạt động cơ bản (thực hiện theo Công văn số 5512/BGDĐT- GDTrH ngày tháng 12 năm 2020 của Bộ GDĐT):
mò và tạo hứng thú cho các em học sinh
Hiện nay, việc thực hiện tiết dạy của giáo viên vẫn còn theo hình thức cũ:nặng về lý thuyết, thiếu đi tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh ngay từ hoạt động vàobài; giáo viên còn xem nhẹ việc dẫn dắt vào bài mà chủ yếu dành thời gian cho
Trang 11việc tìm hiểu kiến thức mới dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ động trongviệc tiếp thu kiến thức Trong phương pháp dạy học truyền thống, chúng tathường thấy những lời vào bài mượt mà, trơn tru với câu từ bay bổng, trau chuốtcủa giáo viên Để có được lời vào bài đầy tính nghệ thuật như vậy đòi hỏi giáoviên phải có sự am hiểu sâu sắc tác giả, tác phẩm, nội dung bài học cùng nhữngvấn đề có liên quan rồi chuyển hóa thành câu từ kết hợp với giọng đọc hay nóidiễn cảm, thuyết phục Tuy nhiên, lời vào bài có hay đến đâu cũng chỉ là hoạtđộng khởi động cho giáo viên là chủ yếu Bởi học sinh vẫn đóng vai trò thụđộng lắng nghe, được “ru vỗ” bằng những lời có cánh Còn cảm xúc, hứng thúchỉ là sự “lây lan” từ giáo viên sang học sinh chứ không phải được khơi dậy,hình thành từ sự hoạt động của học sinh Thực tế còn cho thấy hầu hết giáo viênkhi thiết kế kế hoạch dạy học thường chỉ làm theo hình thức giới thiệu qua mộtchút để vào bài, tâm lý giáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới,còn sợ dành nhiều thời gian cho hoạt động khởi động có thể bị “cháy giáo án”hoặc không đủ thời gian dành cho việc khai thác kiến thức mới Việc ứng dụngcông nghệ thông tin của giáo viên trong một số tình huống chưa tốt nên cònngại trong việc đổi mới phương pháp dạy học và thiết kế giáo án theo hướngphát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động khởi động
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn và thực trạng tổ chức hoạt động khởi động mônNgữ văn hiên nay, tôi đưa ra biện pháp: sử dụng tranh ảnh, video trong hoạtđộng khởi động
Sử dụng tranh ảnh, video… minh họa để dẫn vào bài là phương pháp dạyhọc khá phổ biến ở nhiều môn hoc Mục tiêu của dạy học là: tạo hứng thú họctập cho học sinh đồng thời khơi gợi vấn đề cần giải quyết trong các hoạt độngtiếp theo của bài học Giáo viên có thể vào bài bằng cách: cho học sinh quan sáttranh ảnh, xem một đoạn phim tư liệu, video bài hát … có liên quan đến nộidung bài học Câu hỏi có thể được đặt ra trước hoặc sau khi HS được quan sát
2 Chuẩn bị: Ở hoạt động này giáo viên chuẩn bị máy tính, máy chiếu, một
số hình ảnh, đoạn phim, đĩa nhạc (nếu không có máy móc công nghệ thì giáoviên có thể in sẵn một số hình ảnh) liên quan đến bài học Sau đó thiết kế một sốcâu hỏi, tình huống xoay quanh vấn đề vừa được tiếp cận và đáp án về nhữngvấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học Một số loại câu hỏi như: Câu hỏitái hiện, câu hỏi giải thích minh họa, câu hỏi tìm tòi, phát hiện, câu hỏi nêu vấn
đề, câu hỏi so sánh, câu hỏi ứng dụng và liên hệ,
3 Cách thực hiện
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của HS
- GV cho học sinh xem hình ảnh, đoạn phim, video
bài hát liên quan đến bài học (cũng có thể không
- HS xem hình ảnh,đoạn phim, suy nghĩ
Trang 12liên quan để đặt vấn đề đối lập, ) Nếu là video, GV
phải dự kiến thời gian trình chiếu video cho phù hợp
- GV đặt câu hỏi về vấn đề vừa được tiếp cận
- Kết thúc hoạt động, giáo viên đánh giá, biểu dương
tinh thần trả lời câu hỏi và có thể ghi điểm cho học
sinh nào có câu trả lời đúng, ấn tượng Từ đó dẫn vào
4 Áp dụng: Giải pháp áp dụng vào hoạt động khởi động.
Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến
Duật), giáo viên thực hiện hoạt động khởi động như sau:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của HS
- GV mở 1 đoạn video trong phim tài liệu “Con
đường Trường Sơn tuyến hậu cần huyền thoại”.
- Đặt câu hỏi: Những hình ảnh trong đoạn video nói
về những đối tượng nào ? Trong hoàn cảnh nào ?
Em có cảm nhận ban đầu như thế nào về họ ?
- GV hướng dẫn vào bài
- HS theo dõi video, trao đổi theo nhóm
- HS trình bày
Hình ảnh cắt từ video