1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán việt nam

90 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 4,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và TTCK, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái, tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK Việt Nam,.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM THỊ DIỆU PHƯỚC

CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

NGÀNH:QUẢN LÝ KINH TẾ - 8310110

S K C 0 0 6 3 2 3

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM THỊ DIỆU PHƯỚC

CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ - 8310110

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2019

Trang 3

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Phạm Thị Diệu Phước Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 03/11/1985 Nơi sinh: Tây Ninh

Quê quán: Huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh Dân tộc: Kinh

Địa chỉ liên lạc: 69/56A, Đường Trần Hưng Đạo, KP Tây B, P Đông Hòa, TX

Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

Điện thoại cơ quan: 08 38973082-4-8210

E-mail: phuocptd@hcmute.edu.vn

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

1 Trung cấp chuyên nghiệp:

Hệ đào tạo: Trung cấp Thời gian đào tạo từ: 2005-2006 Nơi học: Trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh

Môn thi tốt nghiệp:

Ngày thi tốt nghiệp:

Người hướng dẫn: Cô Trần Thị Thu Nguyên và Cô Tô Thị Thanh Trúc

Trang 4

Ngày & nơi bảo vệ luận văn: Ngày 19/10/2019, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thanh Vân

4 Trình độ ngoại ngữ (biết ngoại ngữ gì, mức độ): Anh văn, B1

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT

NGHIỆP ĐẠI HỌC

2010-2012 Công Ty TNHH Đông A ViNa Nhân viên xuất nhập

khẩu 2013- nay Trường Đại Học Sư phạm Kỹ thuật Tp

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được trân trọng chỉ rõ nguồn gốc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 09 năm 2019

Học viên thực hiện

(Ký và ghi rõ họ tên)

Phạm Thị Diệu Phước

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô trong khoa Kinh Tế của Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho chúng em có cơ hội học tập, rèn luyện các kỹ năng trong lĩnh vực Quản lý Kinh

tế

Em xin chân thành cảm ơn Cô TS Nguyễn Thị Thanh Vân đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn Qua luận văn này giúp em trang bị thêm một số kiến thức liên quan đến một số lĩnh vực liên quan đến thị trường chứng khoán nói chung

và đặc biệt là giúp em hiểu thêm được những tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán của Việt Nam hiện nay

Trong quá trình làm luận văn, do năng lực chuyên môn, điều kiện còn hạn chế Thời gian thực hiện có hạn nên sai sót là không thể tránh khỏi nên em rất mong

sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến của Thầy (Cô) và các bạn học viên

Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy (Cô) dồi dào sức khỏe

Trân trọng!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 09 năm 2019

Học viên thực hiện

Phạm Thị Diệu Phước

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài luận văn “Các yếu tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán

Việt Nam” được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 09 năm 2019 trong khuôn khổ

thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK của Việt Nam trong thời gian qua Tác giả hy vọng rằng những những phát hiện trong nghiên cứu sẽ thực sự hữu ích không chỉ riêng các nhà đầu tư, các công ty, các công

ty chứng khoán mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách Phương pháp được

sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định lượng Dữ liệu trong đề tài nghiên cứu được là nguồn dữ liệu thứ cấp, lấy theo quý (từ quý 1/2007 đến quý 4/2018) Dữ liệu được thu thập trên các trang web: data.imf.org, cafe.vn, finance vietstock.vn với tổng cộng 48 quan sát theo dữ liệu thời gian lấy theo quý với các biến giá trị GDP thực, Cung tiền M2, tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối, CPI và chỉ số chứng khoán Vn-Index Nguồn dữ liệu và cách tính toán các biến cho dữ liệu hồi quy

Trên cơ sở các dữ liệu, xử lý thô các chuỗi dữ liệu ban đầu Sử dụng phần mềm Eview 9, tác giả thực hiện phân tích và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất

để phân tích các chuỗi dữ liệu trong mô hình hồi quy Kiểm định xem nó có đồng liên kết hay không?, kiểm định mối liên hệ giữa các biến, kiểm định các giả thiết của mô hình

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày có cấu trúc 5 chương, cụ thể: Chương 1, Giới thiệu; Chương 2, Tổng quan lý thuyết; Chương 3, Phương pháp nghiên cứu; Chương 4, Phân tích các kết quả nghiên cứu; Chương 5, Kết luận, hàm ý chính sách và hạn chế của đề tài nghiên cứu

Trang 8

SUMMARY

The reseach “macro factors impacting on stock market in Vietnam” was carried out between March and September 2019 within the context of thesis implementation regarding Economic Management expertise

The research aimed at understanding the impacts of macro factors on stock market in Vietnam in recent years The author hopes that the research findings will

be beneficial not only for investors, companies, stoct companies but also for strategy planners

The main conducted methodology was quantitative The research data were secondary and taken based on four quarters, from quarter 1 / 2017 to quarter 4 /

2018 The data were collected from data.imf.org, cafe.vn, finance vietstock.vn with 48 observations based on quarters with the variable of real GDP value, M2 money supply, exchange rates, foreign exchange reserves, CPI and Vn-Index stock index, Data source and how to calculate variables for regression data

Based on the data, rough processing of the original data series was conducted

By using Eview 9 software, the author performed analysis and selected the most appropriate regression model to analyze the data series in the regression model, verified whether they were co-linked or not, testing the relationship between variables as well as the assumptions of the model

In addition to the introduction, conclusion, list of references and appendices, the content of the thesis is presented with 5 chapters, namely: Chapter 1, Introduction; Chapter 2, General theory; Chapter 3, Research methodology; Chapter

4, Analysis of research results; Chapter 5, Conclusion, policy implications and limitations of the research topic

Trang 9

MỤC LỤC

Trang tựa TRANG LÝ LỊCH KHOA HỌC i

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

TÓM TẮT v

SUMMARY vi

MỤC LỤC vii

CHỮ VIẾT TẮT x

DANH SÁCH CÁC BẢNG xii

DANH SÁCH CÁC HÌNH xiii

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Cấu trúc đề tài nghiên cứu 3

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 4

2.1 Thị trường chứng khoán 4

2.1.1 Khái niệm 4

2.1.2 Đặc điểm và chức năng của thị trường chứng khoán 4

2.1.2.1 Đặc điểm 4

2.1.2.2 Chức năng 5

2.1.2.3 Cơ cấu, mục tiêu và các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 5

2.2 Tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 8

2.2.1 Tác động của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối đến thị trường chứng khoán 8

2.2.2 Tác động của các biến lạm phát, cung tiền đến thị trường chứng khoán15 2.2.3 Tác động của GDP thực đến TTCK 20

Trang 10

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 29

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 29

3.1.2 Mẫu dữ liệu nghiên cứu 30

3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 31

3.3 Phương pháp thực nghiệm và các kiểm định 32

3.3.1 Phương pháp thực nghiệm 32

3.3.2 Các kiểm định 34

3.3.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root tests) 34

3.3.2.2 Kiểm định đồng liên kết cho các chuỗi dữ liệu 37

3.3.3 Các mô hình 39

3.3.3.1 Mô hình ECM, họ mô hình VAR/VECM 39

3.3.3.2 Mô hình ARDL 39

3.4 Quy trình thực hiện bài nghiên cứu 40

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 42

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 42

4.2 Xem xét mối quan hệ giữa các biến tác động đến thị trường chứng khoán trong giai đoạn tổng thể (từ quý 1/2007 đến quý 4/2018) 43

4.2.1 Phân tích mối quan hệ đơn biến (tương quan Pearson) trong giai đoạn tổng thể 43

4.2.2 Phân tích mối quan hệ đa biến trong giai đoạn tổng thể 44

4.2.2.1 Kiểm tra tính dừng của các chuỗi số liệu 44

4.2.2.2 Lựa chọn độ trễ tối ưu 45

4.2.2.3 Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết giữa các chuỗi dữ liệu theo phương pháp Johansen trong giai đoạn nghiên cứu tổng thể 46

4.2.2.4 Ước lượng mô hình VECM để kiểm định mối quan hệ giữa các biến số trong dài hạn và ngắn hạn trong giai đoạn tổng thể 47

4.3 Thảo luận các kết quả 58

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Gợi ý chính sách 62

5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 64

Trang 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 1 69

PHỤ LỤC 2 70

PHỤ LỤC 3 72

PHỤ LỤC 4 73

PHỤ LỤC 5 74

Trang 12

CHỮ VIẾT TẮT

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

ARDL Autoregressive Distributed

Minh

Trang 13

LNGDP Log của tổng sản phẩm Quốc nội

dùng

Trang 14

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng Trang Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu về các yếu tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán 24

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 30

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến 42

Bảng 4.2: Tương quan Pearson – Phân tích mối quan hệ đơn biến 43

Bảng 4.3: Kiểm tra tính dừng cho các chuỗi dữ liệu trong giai đoạn tổng thể (từ quý 1/2007 đến quý 4/2018) 44

Bảng 4.4: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu 45

Bảng 4.5: Kiểm định mối quan hệ đồng biến giữa các chuỗi dữ liệu theo phương pháp Johasen trong giai đoạn nghiên cứu tổng thể (từ quý 1/2007 đến quý 4/2018) 46

Bảng 4.6: Kết quả phân tích đa biến mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán trong dài hạn của giai đoạn nghiên cứu tổng thể 48

Bảng 4.7: Kết quả phân rã phương sai tác động của các biến số vĩ mô trong giai đoạn nghiên cứu tổng thể 53

Bảng 4.8: Kiểm tra tính dừng của phần dư trong giai đoạn nghiên cứu tổng thể (sau hồi quy) 55

Bảng 4.9: Kiểm định tự tương quan LM Tests 56

Bảng 4.10: Kiểm định tự tương quan Pormanteau phần dư trong giai đoạn tổng thể 57

Trang 15

Hình 4.6: Kiểm định AR Root về sự ổn định của mô hình hồi quy trong giai đoạn

tổng thể mẫu nghiên cứu 55

Trang 16

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) được cho là đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo nghĩa là nó huy động các nguồn lực trong nước và chuyển chúng sang đầu tư sản xuất Tuy nhiên, để thực hiện vai trò này, nó phải có mối quan hệ đáng kể với hoạt động kinh tế Thị trường vốn là yếu tố chính của một thị trường hiện đại, dựa trên hệ thống kinh tế vì chúng đóng vai trò là kênh truyền tải nguồn lực tài chính dài hạn từ người tiết kiệm vốn cho người vay vốn TTCK cũng là một kênh chu chuyển vốn cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế, giúp các công ty có thể huy động vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh Đồng thời, TTCK còn được xem là một dấu hiệu thị trường quan trọng nhất liên quan tới các quyết định đầu tư của công ty, do đó TTCK sẽ là nơi phản ánh tình hình của các công ty Hiệu quả thị trường vốn rất cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng Do vậy, tác giả nhận thấy vai trò của TTCK đối với nền kinh tế không kém phần quan trọng Nói cách khác, TTCK có thể sẽ tác động đến sự tăng trưởng của các công ty nói riêng và nền kinh tế nói chung Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và TTCK, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái, tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK Việt Nam, Tuy nhiên, việc nghiên cứu các yếu tố vĩ mô tác động đến TTCK thì chưa nhiều, đặc biệt điều này còn ít hơn ở Việt Nam Chính vì thế, việc phân tích, kiểm định, giải thích tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK là một việc làm hết sức cần thiết Trên cơ sở đề xuất các kiến nghị nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các kiến nghị nhằm hỗ trợ cho TTCK phát triển Xuất phát từ những lý do đó tác giả đã chọn đề

tài “ Các yếu tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

❖ Mục tiêu

Nghiên cứu các yếu tố tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lạm phát (chỉ số CPI), cung tiền (M2), tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối tác động đến TTCK trong giai đoạn từ quý 1/ 2007 đến quý 4/ 2018

- Phân tích sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK trên cơ sở:

Trang 17

+ Giải thích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến chỉ số giá của TTCK, + Kiểm định mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa TTCK và các biến

vĩ mô

- Đề xuất các giải pháp để vận dụng hiệu quả hơn chính sách kinh tế vĩ mô vào sự ổn định và phát triển của TTCK tại Việt Nam

❖ Câu hỏi nghiên cứu

- Có mối quan hệ nào giữa các yếu tố vĩ mô và TTCK Việt Nam hay không?

- Xem xét xem liệu các chuỗi dữ liệu có dừng hay không?, nếu có thì dừng cùng bậc hay khác bậc? Dựa trên kết quả kiểm định để lựa chọn độ trễ tối ưu và xác định mô hình nghiên cứu phù hợp

- Gợi ý các giải pháp gì để vận dụng hiệu quả hơn chính kinh tế vĩ mô vào sự

ổn định và phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian tới

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Việc xem xét các yếu tố vĩ mô tác động đến TTCK Việt Nam Việc thực hiện dựa trên dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm

2007 đến quý 4 năm 2018

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: M2, tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối, GDP thực, chỉ số CPI, chỉ số giá chứng khoán của Việt Nam

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm kiểm định, giải thích mối quan hệ và sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK của Việt Nam trong giai đoạn tổng thể Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài chỉ sử dụng phương pháp định lượng trong nghiên cứu của mình vì Cụ thể:

Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp

so sánh và phương pháp đối chiếu số liệu, từ đó đưa ra các nhận định ban đầu Phương pháp hồi quy: Nghiên cứu hồi quy, kiểm tra xem xét tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK Việt Nam Từ các số liệu thu thập, tác giả sử dụng các phần mềm Excel, Eviews 9.0 để chạy mô hình nghiên cứu

Trang 18

1.6 Cấu trúc đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu có cấu trúc 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích các kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận, hàm ý chính sách và hạn chế của đề tài nghiên cứu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Môi trường kinh tế vĩ mô luôn được xem là động lực để phát triển TTCK Điều này còn đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Khi mà TTCK trong năm vừa qua diễn biến phức tạp, hầu hết đánh giá cho TTCK năm 2019 đều nghiêng về những kịch bản thận trọng thay vì những mốc số

của VN-Index

Trước bối cảnh căng thẳng chính trị và thương mại còn nhiều bất cập, hầu hết các tổ chức phân tích đồng thuận rằng nền kinh tế toàn cầu đang bước vào cuối chu

kỳ tăng trưởng và năm 2019 có thể là một năm tương đối khó khăn đối với TTCK

Chính vì lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Các yếu tố vĩ mô tác động đến thị

trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu, tác giả hy vọng rằng những những

phát hiện trong nghiên cứu sẽ thực sự hữu ích không chỉ riêng các nhà đầu tư, các công ty, các công ty chứng khoán mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách

Trang 19

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Mục tiêu của chương này là tổng quan tất cả các lý thuyết nền cũng như các nghiên cứu đã có nhằm luận giải mô hình được lựa chọn trong đề tài nghiên cứu này

2.1 Thị trường chứng khoán

2.1.1 Khái niệm

Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTCK Tuy nhiên trong luận văn này sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Bạch Đức Hiển (2009) để thống nhất trong các phần nội dung phân tích bên dưới TTCK là một bộ phận của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư

TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán này trước tiên được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và sau đó ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Do vậy, TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi

Hàng hóa giao dịch trên TTCK là các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm Các trái phiếu có thời hạn dưới 1 năm là hàng hóa của thị trường tiền tệ

2.1.2 Đặc điểm và chức năng của thị trường chứng khoán

2.1.2.1 Đặc điểm

Theo tác giả Bạch Đức Hiển (2009) TTCK được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị

trường, giữa họ không có trung gian tài chính;

TTCK là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều

tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu;

Trang 20

TTCK về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp TTCK đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của

họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các công cụ đầu tư và cơ hội lựa chọn phong phú

- Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền hoặc chứng khoán khác Chức năng này đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách năng động và có hiệu quả

- Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế: TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường

- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô: Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua hoặc bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu

bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối với nền kinh tế

2.1.2.3 Cơ cấu, mục tiêu và các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

a/ Cơ cấu của thị trường chứng khoán

Trang 21

Căn cứ vào phương thức giao dịch TTCK được chia thành thị trường giao

ngay và thị trường tương lai

- Thị trường giao ngay còn gọi là thị trường thời điểm, có nghĩa là thị trường giao dịch mua bán theo giá cả ngày hôm đó

- Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng mà giá cả được thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán

và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định ở tương lai

Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch: TTCK có thể được chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và các chứng khoán phái sinh

- Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường

và cổ phiếu ưu đãi được phát hành và giao dịch Thị trường cổ phiếu gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp

- Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành và giao dịch Thị trường trái phiếu cũng bao gồm thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường trái phiếu thứ cấp

- Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường nơi các chứng khoán phái sinh được phát hành và giao dịch TTCK phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng tương lai, các hợp đồng lựa chọn, Đây là loại TTCK bậc cao

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn: TTCK được chia thành thị trường

sơ cấp và thị trường thứ cấp

- Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán chứng khoán mới được phát hành

- Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp

Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực

b/ Mục tiêu của thị trường chứng khoán

▪ Hoạt động có hiệu quả

− Giá cả được hình thành trên thị trường phải là giá được cân bằng giữa cung và cầu; phải phản ánh được tức thời các thông tin có liên quan có thể ảnh hưởng tới giá cả Thiết lập cơ chế giao dịch nhạy bén có khả năng xác định giá cả thị

Trang 22

trường của các chứng khoán một cách chính xác

− Cơ chế và các thủ tục giao dịch cần phải đảm bảo tính thanh khoản cao

− Chi phí giao dịch trên thị trường phải được tối thiểu hóa

− TTCK phải được tổ chức một cách thuận tiện cho những người sử dụng

▪ Điều hành công bằng

− Các cơ quan điều hành thị trường phải xác lập các quy chế đảm bảo sự cạnh tranh

tự do, bình đẳng trên thị trường

− Duy trì thị trường hoạt động lành mạnh, chống lại các trường hợp lung đoạn thị trường và bóp méo giá gây thiệt hại cho nhà đầu tư

▪ Phát triển ổn định thị trường chứng khoán

− Cần chú trọng phát hiện và loại trừ khả năng xảy ra khủng hoảng thị trường

− Cần có một cơ chế giao dịch đảm bảo thông suốt, thành lập các tổ chức tài trợ chứng khoán hỗ trợ thị trường nhằm ngăn ngừa khả năng mất khả năng thanh khoản chứng khoán với chứng khoán của công ty đang hoạt động tốt

− Cần có các công cụ nhằm thực hiện ổn định giá cả trên TTCK

c/ Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

Để đạt được những mục tiêu trên, TTCK phải hoạt động dựa trên những nguyên tắc nhất định Một số nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK như sau:

− Nguyên tắc cạnh tranh tự do: TTCK phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do Các nhà phát hành, nhà đầu tư được tự do tham gia và rút khỏi thị trường

− Nguyên tắc giao dịch công bằng: Mọi giao dịch phảI được thực hiện trên cơ sở những quy định chung, những người tham gia vào thị trường đều được bình đẳng thực hiện quy định chung này

− Nguyên tắc công khai: Các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả chứng khoán cần được công khai cung cấp cho nhà đầu tư nhằm tạo cơ hội và ngăn chặn hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán, lũng đoạn thị trường

− Nguyên tắc trung gian mua bán: Trên thị trường sơ cấp, nhà đầu tư không mua trực tiếp từ nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh, các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư hoặc bán cho nhà đầu tư khác

Trang 23

2.2 Tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán

TTCK vẫn luôn được xem là một dấu hiệu quan trọng nhất liên quan tới các quyết định đầu tư của công ty, phản ánh tình hình tài chính và cơ hội tăng trưởng của các công ty trong tương lai Không chỉ có vậy, TTCK cũng là một kênh chu chuyển vốn quan trọng trong nền kinh tế, giúp các công ty có thể huy động vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh; đồng thời đây còn là một kênh đầu tư khá hấp dẫn cho những nhà đầu tư cá nhân và những nhà đầu tư tổ chức Đây cũng

là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong thời gian qua Trong quá trình khảo lược, tác giả đã tìm thấy những nghiên cứu liên quan sau:

2.2.1 Tác động của tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối đến thị trường chứng khoán

Tỷ giá hối đoái:

Khái niệm của tỷ giá hối đoái theo nghiên cứu của tác giả Thân Thị Thu Thủy và cộng sự (2015) Tỷ giá hối đoái là tỷ giá giữa hai đồng tiền mà theo đó một đồng tiền này sẽ đổi thành đồng tiền khác bằng một tỷ lệ nhất định Có 2 cách yết giá là yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp, tùy theo từng quốc gia mà sẽ chọn cách yết giá phù hợp đối với từng loại ngoại tệ

Theo các lý thuyết kinh tế thì tỷ giá hối đoái có thể tác động lên giá cổ phiếu theo hai hướng khác nhau Khi tỷ giá hối đoái tăng lên theo cách yết giá trực tiếp thì đồng nội tệ sẽ bị mất giá cộng thêm môi trường đầu tư ổn định sẽ thu hút được nhiều lượng vốn từ nước ngoài đầu tư vào trong nước đề tìm kiếm lợi nhuận và hưởng chênh lệch giá Tuy nhiên, theo một khía cạnh khác việc tăng tỷ giá hối đoái lại có tác động tiêu cực lên TTCK Khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ tác động đến các hoạt động xuất khẩu, gián tiếp tác động đến mức tăng trưởng kinh tế cũng như các hoạt động sản xuất của công ty từ đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty, và giảm giá cổ phiếu

Theo tác giả Nguyễn Văn Công (2008), tỷ giá hối đoái bao gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá hối đoái thực tế và tỷ giá hối đoái bình quân

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được quy ước là số đơn vị nội tệ đổi lấy một đơn vị ngoại tệ và ký hiệu là E

Trang 24

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong nước và nước ngoài được gọi là tỷ giá hối đoái thực tế Chúng ta có thể tính tỷ giá hối đoái thực tế theo công thức sau:

Ɛ =𝑻ỷ 𝒈𝒊á 𝒉ố𝒊 đ𝒐á𝒊 𝒅𝒂𝒏𝒉 𝒏𝒈𝒉ĩ𝒂 𝑿 𝑮𝒊á 𝒏ướ𝒄 𝒏𝒈𝒐à𝒊

𝑮𝒊á 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏ướ𝒄

Tỷ giá hối đoái bình quân được hiểu là bình quân gia quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó Công thức tính tỷ giá hối đoái bình quân được tính như sau:

EE= Ei x Wi

Tác giả Richards và Simpson (2009) đã thực hiện nghiên cứu về sự tương tác giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái ở Úc Tác giả thông qua việc kiểm định về đồng liên kết và mô hình Granger đã thấy được mức độ tương tác của tỷ giá hối đoái lên giá cổ phiếu Với quan sát trong giai đoạn 2003- 2006, thì nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn thì việc gia tăng tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến giá cổ phiếu của TTCK Úc Hơn thế nữa, khi tiến hành kiểm định đồng liên kết thì kết quả cũng cho thấy có sự tác động trong dài hạn của tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu khác thì lại cho kết quả trái ngược như Rahman và Uddin (2009) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá, bằng chứng

từ 3 quốc gia đang phát triển như Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan Kết quả cho thấy không có mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu ở các nước này trong dài hạn

Dự trữ ngoại hối:

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), định nghĩa dự trữ ngoại hối là tài sản ngoại tệ

mà cơ quan tiền tệ của một quốc gia có thể sử dụng để đáp ứng cân bằng nhu cầu thanh toán tài chính, có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trên thị trường tiền tệ và các mục đích khác có liên quan

Quản lý Ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm:

+ Giao dịch vãng lai,

Trang 25

+ Các giao dịch vốn,

+ Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam,

+ Thị trường ngoại tệ, cơ chế tỷ giá hối đoái, quản lý vàng là ngoại hối,

+ Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước,

+ Hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối

Thành phần dự trữ ngoại hối Nhà nước bao gồm:

+ Ngoại tệ tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài

+ Chứng khoán và các giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ do Chính phủ, tổ chức nước ngoài, tổ chức Quốc tế phát hành

+ Quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại quỹ tiền tệ Quốc tế

+ Vàng do Ngân hàng Nhà nước quản lý

+ Các loại ngoại hối khác

Nguồn hình thành dự trữ ngoại hối Nhà nước

+ Ngoại hối mua từ Ngân sách Nhà nước và thị trường ngoại hối

+ Ngoại hối từ các khoản vay Ngân hàng và tổ chức tài chính Quốc tế

+ Ngoại hối từ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng

+ Ngoại hối từ các nguồn khác

Theo giáo sư Andreas Hauskrecht cho rằng tỷ giá không phải vấn đề lớn đối với Việt Nam dù đồng Việt Nam giảm giá nhẹ so với USD trong thời gian gần đây Điều này cũng chỉ có tác động rất nhỏ đến lạm phát trong nước

Lượng dự trữ ngoại hối dồi dào sẽ giúp NHNN có nhiều dư địa và giải pháp phù hợp trong việc điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là việc điều hành linh hoạt

và ổn định tỷ giá, nâng cao giá trị tiền đồng, từ đó gia tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài cũng như đại bộ phận dân chúng trong nước

- Pan và cộng sự (2006) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Dynamic linkages between exchange rates and stock prices: Evidence from East Asian arkets” (Liên kết động giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu: Bằng chứng từ các thị trường Đông Á) với mẫu dữ liệu được lấy từ các nước Đông Á bao gồm Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm

1988 đến tháng 10 năm 1998 Phương pháp thử nghiệm thống kê mà Ming-Shiun

Trang 26

Pan và cộng sự của mình đã sử dụng bao gồm cả thử nghiệm quan hệ nhân quả Granger, phân tích phương sai và phân tích đáp ứng xung Không có mối quan hệ nhân quả đáng kể từ tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu trong thời gian khủng hoảng Châu Á Có mối quan hệ nhân quả đáng kể từ tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu của Hồng Kông, Nhật Bản, Malaysia và Thái Lan trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Các tác giả cũng tìm thấy một mối quan hệ nhân quả từ TTCK trong nước với thị trường trao đổi của các nước Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore Qua kiểm tra mối liên kết động giữa thị trường ngoại hối và TTCK và kết quả cho thấy: Không có quốc gia nào cho thấy có một quan hệ nhân quả đáng kể

từ giá cổ phiếu đến tỷ giá hối đoái trong cuộc khủng hoảng châu Á và một mối quan

hệ nhân quả từ tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu được tìm thấy cho tất cả các nước trừ Malaysia Qua nghiên cứu các tác giả có lưu ý rằng kết quả của nghiên cứu không hoàn toàn phù hợp với lý thuyết thị trường hàng hóa hoặc phương pháp tiếp cận danh mục đầu tư Có lẽ, các tương tác là hiệu ứng chung từ tất cả các lý thuyết Phát hiện của các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các mối liên kết có thể khác nhau đối với các nền kinh tế liên quan đến chế độ tỷ giá hối đoái, quy mô thương mại, mức độ kiểm soát vốn và quy mô thị trường vốn chủ sở hữu

- Pekkaya và cộng sự (2008) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ

nhân quả giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái: Một ứng dụng trên YTL / USD, ISE

100 và S & P500 Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung vào mối quan hệ nhân quả Granger giữa tỷ giá hối đoái YTL / USD, ISA 100 và chỉ số S & P 500 bằng cách sử dụng dữ liệu chỉ mục cho mỗi công cụ 1990-2007 Nghiên cứu này các tác giả cũng đã thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu hàng ngày để có được kết quả phù hợp hơn, theo đề xuất của nhiều nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này.Theo kết quả quan hệ nhân quả Granger, tỷ giá hối đoái và TTCK nói chung ảnh hưởng chủ yếu đến chỉ số S & P và chỉ số ISE 100, ngoại trừ trong thời kỳ khủng hoảng Theo những kết quả nghiên cứu của các tác giả thì tỷ giá USD cũng bị ảnh hưởng bởi TTCK và TTCK Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm gần đây, có thể khẳng định rằng hội nhập với TTCK Mỹ giữ vị trí quyết định trong TTCK Thổ Nhĩ Kỳ

- Hussain và cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu “Short run and Long

Trang 27

run Dynamics of Macroeconomics Variables and Stock prices: Case Study of KSE (Karachi Stock Exchange)” (Động lực ngắn hạn và dài hạn của biến kinh tế vĩ mô

và giá cổ phiếu: Nghiên cứu trường hợp của KSE) Mục tiêu chính của nghiên cứu

là tìm ra mối quan hệ lâu dài giữa biến kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu tại sàn giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) Số liệu được thu thập hàng tháng trong giai đoạn

từ năm 1987 đến năm 2008, 5 mối quan hệ lâu dài được tìm thấy giữa các biến số kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu của KSE Trong chỉ số sản xuất công nghiệp dài hạn, thực tế tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối, cung tiền và tổng vốn cố định đang tác động tích cực đến giá cổ phiếu trong khi lãi suất có mối quan hệ không đáng kể với giá cổ phiếu trong dài hạn và cuối cùng lạm phát là tác động tiêu cực của giá cổ phiếu trong dài hạn Các kết quả của Phân tích phương sai cho thấy rằng trong số các biến số kinh tế vĩ mô, lạm phát đang giải thích phương sai tối đa Phân tích VECM cho thấy hệ số của ecm1 (sàn1) và ecm2 (sàn1) có ý nghĩa cho thấy sự điều chỉnh nhanh chóng Nghiên cứu khuyến nghị rằng các biện pháp tài chính và tiền tệ phù hợp nên được các nhà quản lý tài chính và tiền tệ áp dụng nhằm kiểm soát lạm phát để có thể giảm thiểu sự bất ổn của TTCK, đồng thời làm giảm yếu tố rủi ro trên thị trường Nghiên cứu cho thấy lạm phát đóng góp lớn trong sự bất ổn giá cổ phiếu

Sự gia tăng trong sản xuất công nghiệp có thể đóng một vai trò tích cực, đáng kể trong việc phát triển thị trường vốn của Pakistan Vì vậy, khuyến nghị rằng các cơ quan chức năng nên xây dựng một chính sách nhằm hỗ trợ giá cổ phiếu thông qua việc thúc đẩy sản xuất công nghiệp

- Kollias và cộng sự (2010) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “The nexus

between exchange rates and stock markets: evidence from the euro-dollar rate and composite European stock indices using rolling analysis”( Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và TTCK: bằng chứng từ tỷ giá đồng euro và tổng hợp Chỉ số chứng khoán châu Âu sử dụng phân tích cán) Bài viết này, sử dụng dữ liệu hàng ngày, giải quyết vấn đề của các liên kết giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái trong trường hợp tỷ giá đồng euro và hai chỉ số TTCK tổng hợp châu Âu: FTSE Eurotop 300 và FTSE eTX All-Share Index Các tác giả sử dụng thử nghiệm hợp nhất và kiểm tra quan hệ nhân quả Granger Phương pháp này cho phép xuất hiện một bức tranh rõ ràng về động

Trang 28

lực có thể liên kết giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu Các kết quả thực nghiệm cung cấp bằng chứng về quan hệ nhân quả thay đổi theo thời gian giữa hai thị trường

- Tavakoli và cộng sự ( 2013) đã thực hiện nghiên cứu “Dynamic

Linkages between Exchange Rates and Stock Prices: Evidence from Iran and South Korea” (Liên kết động giữa tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu: Bằng chứng từ Iran và Hàn Quốc) Mục đích chính của nghiên cứu hiện tại là phân tích mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái ở hai quốc gia châu Á là Iran và Hàn Quốc Chuỗi dữ liệu được thu thập hàng tháng từ tháng 07/2002 đến tháng 03/2012 Dữ liệu được thu thập từ Ngân hàng Trung ương của mỗi quốc gia và WDI Phương pháp kinh tế lượng VECH nhiều phương pháp không đồng nhất có điều kiện tự phát (MGARCH) được áp dụng và phần mềm STATA được sử dụng để phân tích mối quan hệ hai chiều giữa hai biến ở mỗi quốc gia Lợi nhuận cổ phiếu tính toán và tỷ giá hối đoái thực được sử dụng trong phân tích Các kết quả ước tính cho thấy:

- Một mối quan hệ đơn phương từ lợi nhuận chứng khoán đến tỷ giá hối đoái ở nền kinh tế Hàn Quốc

- Không có mối quan hệ giữa hai biến trong nền kinh tế Iran

- Khi chính những cú sốc biến động được xem xét, các cú sốc trong quá khứ phát sinh từ thị trường trao đổi có tác động mạnh mẽ hơn đến sự biến động thị trường trong tương lai của chính nó trong nền kinh tế Hàn Quốc so với nền kinh tế Iran Hoạch định chính sách tài chính nên xem cả chứng khoán và thị trường trao đổi trong nền kinh tế Hàn Quốc để ngăn chặn sự chuyển đổi bất ổn của TTCK sang thị trường trao đổi

- Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) đã nghiên cứu “Quan hệ giữa các

yếu tố kinh tế vĩ mô và biến động TTCK: bằng chứng nghiên cứu từ thị trường Việt Nam” Nghiên cứu này nhằm đo lường mối quan hệ của bốn yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: chỉ số giá tiêu dùng (đo lường mức độ lạm phát), tỷ giá hối đoái VND/USD, cung tiền M2, giá vàng trong nước đến mức độ biến động của TTCK Việt Nam (thông qua chỉ số giá chứng khoán VNIndex) Dữ liệu được thu thập từ

Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (tháng 1/ 2004 đến tháng 12/2011)

Trang 29

Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong dài hạn, giữa chỉ số giá chứng khoán VNIndex với cung tiền M2 và giá vàng trong nước có mối quan hệ tích cực, với lạm phát có mối quan hệ tiêu cực; Trong khi đó tỷ giá hối đoái và chỉ số giá chứng khoán không

có mối liên hệ nào Trong ngắn hạn, chỉ số giá chứng khoán hiện tại có mối quan hệ cùng chiều với chỉ số giá chứng khoán tháng trước và quan hệ ngược chiều với tỷ giá hối đoái Tốc độ điều chỉnh dự kiến chỉ ra rằng: TTCK Việt Nam hội tụ đến trạng thái cân bằng trong dài hạn là chậm: Mất khoảng 8 tháng (điều chỉnh khoảng 13,04% mỗi tháng) để đạt đến trạng thái cân bằng dài hạn

- Phạm Đình Long và Nguyễn Thanh Huyền (2017) đã thực hiện nghiên

cứu “Kiểm định giả thuyết thị trường hiệu quả trên TTCK Việt Nam” Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm định giả thuyết thị trường hiệu quả tại TTCK Việt Nam Số liệu bao gồm chuỗi chỉ số VN-Index và chuỗi chỉ số HNX-Index với tần suất ngày, được thu thập trong khoảng thời gian từ khi sàn chứng khoán bắt đầu hoạt động (từ ngày 29/7/2000 đến ngày 22/8/2016 đối với Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE), từ ngày 23/5/2006 đến ngày 22/8/2016 đối với Sở Giao dịch Chứng khoán

Hà Nội (HNX)) Nghiên cứu sử dụng lý thuyết Thị trường hiệu quả và lý thuyết Bước đi ngẫu nhiên làm nền tảng, cùng với phương pháp nghiên cứu phi tham

số (kiểm định tính chuẩn, kiểm định tính dừng, kiểm định bằng đoạn mạch) và tham số (kiểm định tự tương quan) Kết quả cho thấy, sự thay đổi về giá của chỉ số TTCK là không ngẫu nhiên Điều này chỉ ra rằng, TTCK Việt Nam không hiệu quả ở mức độ yếu

- Huỳnh Thị Thúy Vy (2017) đã thực hiện nghiên cứu “Mối liên kết giữa tỷ

giá hối đoái và giá chứng khoán tại Việt Nam: Bằng chứng từ phép biến đổi Wavelet” Nghiên cứu phân tích mối liên kết giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2011 bằng việc sử dụng phép biến đổi Wavelet rời rạc phủ toàn diện và Wavelet Coherence Kết quả cho thấy, có sự phụ thuộc âm giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, sự biến động trong tỷ giá hối đoái gây nên sự thay đổi của giá chứng khoán nhưng chỉ

ở mức độ thấp Kết quả này đặc biệt hữu ích cho các nhà đầu tư, nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam trong việc giải thích các luồng thông tin

Trang 30

giữa thị trường ngoại hối và TTCK.

- Cheng Jiang (2018) trong đề tài nghiên cứu “The Reasons For Foreign

Exchange Reserves Accumulation In Hong Kong: A Cointegration And Vector Error Correction Approach” (Các lý do đối với các khoản tích lũy ngoại hối tại Hồng Kông: Một sự hợp nhất và phương pháp sửa lỗi Vector) Bài viết này xem xét các yếu tố quyết định của tích lũy dự trữ ngoại hối trong các tài liệu hiện có Dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 11 năm 2007, phân tích dài hạn và ngắn hạn mối quan hệ giữa các tổ chức nắm giữ ngoại hối, cung tiền rộng và tỷ giá hối đoái ở Hồng Kông Thông qua kết quả kiểm tra quan hệ nhân quả Granger cũng xác nhận các mối quan hệ này Việc gia tăng cung tiền ở Hồng Kông là giải thích lý do tại sao nó tích lũy một lượng lớn dự trữ ngoại hối Trong phần nghiên cứu của tác giả thì ông đã xây dựng một mô hình sửa lỗi véc tơ để đo động lực học ngắn hạn và

xu hướng của từng biến để khôi phục lại trạng thái cân bằng dài hạn của nó Tuy nhiên, chỉ 10% khởi hành từ trạng thái cân bằng dài hạn là bị loại mỗi tháng Kết quả thực tiễn cho thấy cơ quan tiền tệ của Hồng Kông phải nắm giữ một lượng lớn

dự trữ ngoại hối để chủ động can thiệp dự trữ ngoại hối và nhằm mục đích quản lý Cũng chính vì tốc độ điều chỉnh thấp là lý do thứ hai khiến Cơ quan tiền tệ Hồng Kông nắm giữ lượng dự trữ trao đổi tăng nhanh

2.2.2 Tác động của các biến lạm phát, cung tiền đến thị trường chứng khoán Lạm phát:

Theo Nguyễn Văn Công (2008), lạm phát được hiểu như sau: Lạm phát là sự suy giảm sức mua của đồng nội tệ Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít số đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Nói cách khác, khi có lạm phát Chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định

Theo Nguyễn Như Ý và cộng sự (2009), có thể chia lạm phát thành ba loại + Lạm phát vừa (còn gọi là lạm phát một con số): Khi giá cả hàng hóa và dịch

vụ tăng chậm, dưới 10%/ năm, đồng tiền tương đối ổn định, nền kinh tế ổn định + Lạm phát phi mã (còn gọi là lạm phát hai hay ba con số): Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng từ 10% đến 999%/ năm Nếu lạm phát phi mã xảy ra, đặc biệt ở

Trang 31

mức 3 con số một năm, chẳng hạn 400%, 700%/ năm; Đồng tiền sẽ mất giá nhanh chóng, thị trường tài chính bất ổn, nền kinh tế bất ổn Khi lạm phát càng cao, chi phí

cơ hội của việc giữ tiền càng lớn Người ta đã ví tiền mặt trong thời kỳ này như những hòn than đang rực cháy, ai giữ tiền càng nhiều và càng lâu thì càng bị thiệt hại Do vậy, khi lạm phát cao xảy ra, mọi người chỉ giữ một lượng tiền tối thiểu, tốc

độ lưu thông tiền tệ sẽ tăng lên nhanh chóng, vì mọi người không muốn giữ những đồng tiền đang mất giá, sẽ nhanh chóng chuyển sang cho người khác Sẽ có hiện tượng tiền tốt đuổi tiền xấu ra khỏi túi Người ta sẽ tránh giữ tài sản dưới dạng tiền,

mà chuyển sang giữ ngoại tệ mạnh, vàng, bất động sản hay hàng hóa sẽ có lợi hơn + Siêu lạm phát (lạm phát 4 con số trở lên): Khi tỷ lệ lạm phát từ 1000%/ năm trở lên, đồng tiền mất giá nghiêm trọng, nền kinh tế càng bất ổn, cuộc sống càng khó khăn, mọi thứ điều trở nên khang hiếm trừ tiền giấy

Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, trong đó có 2 nguyên nhân chính là lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy

Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo nghĩa đầu tiên thì người

ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó

Theo Dương Tấn Diệp (2006) nhận định sự tác động của lạm phát tới TTCKnhư sau:

+ Lạm phát ảnh hưởng gián tiếp tới TTCK thông qua thị trường hàng hóa Lạm phát tăng có nghĩa rằng chi phí của doanh nghiệp sẽ bị đẩy lên cao, giá hàng hóa theo đó mà tăng lên Nhưng cầu hàng hóa sẽ giảm xuống vì giá tăng lên, dẫn đến doanh thu của hàng hóa cũng theo đó mà giảm Doanh nghiệp không còn hấp dẫn đối với nhà đầu tư trên TTCK

+ Lạm phát cao là dấu hiệu cho nền kinh tế bất ổn Điều này làm cho người dân, nhà đầu tư mất niềm tin vào nền kinh tế “Tâm lý bầy đàn” xuất hiện, kéo theo việc rút vốn ồ ạt trên TTCK

Cung tiền:

Trang 32

- Theo Thân Thị Thu Thủy và cộng sự (2015), Cung ứng tiền tệ còn được gọi tắt là cung tiền (M2) là lượng tiền được đưa vào nền kinh tế để đáp ứng các nhu cầu như phương tiện thanh toán, nhu cầu cất trữ của các chủ thể trong nền kinh tế Các thước đo lượng cung tiền gồm có :

M0: Bao gồm tiền mặt, là bộ phận tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng

M1: Bao gồm M0 và tiền gửi không kỳ hạn, những khoản tiền gửi này có thể rút

ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, có thể tồn tại dưới tài khoản phát séc hoặc không phát séc

M2: Bao gồm M1, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng

M3: Bao gồm M2, các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác ngoài ngân hàng

L: Là thước đo rộng nhất, bao gồm M3, các chứng khoán có giá như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chấp phiếu ngân hàng…

Nếu lượng cung tiền mở rộng sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong tiêu dùng hàng hóa cũng như làm gia tăng việc sử dụng các tài sản tài chính mà chứng khoán là một trong số đó Khi lượng cung tiền tăng, thanh khoản vượt trội sẽ ảnh hưởng đến TTCK khá mạnh do tác động của chính sách tiền tệ tương đối nhanh và trực tiếp Chính sách mở rộng tiền tệ làm giảm lãi suất của nền kinh tế, làm giảm lãi suất chiết khấu của chứng khoán qua đó làm tăng giá kỳ vọng và tăng thu nhập

Ngoài ra, một sự gia tăng trong cung tiền sẽ làm gia tăng thanh khoản và tín dụng cho nhà đầu tư cổ phiếu dẫn đến giá các chứng khoán cao hơn, nghĩa là cung tiền tăng lên sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và phát triển ổn định hơn cho TTCK

Sau đây là một số nghiên cứu trước về tác động của các biến lạm phát, cung tiền đến TTCK:

- Asmy và cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu “Effects of

Macroeconomic Variables on Stock Prices in Malaysia: An Approach of Error Correction Model” (Ảnh hưởng của biến kinh tế vĩ mô đến Giá cổ phiếu ở Malaysia: Cách tiếp cận của mô hình sửa lỗi) Bài viết này cố gắng kiểm tra nguyên nhân ngắn hạn và dài hạn mối quan hệ giữa chỉ số tổng hợp Kuala Lumpur (KLCI)

Trang 33

và được chọn biến kinh tế vĩ mô cụ thể là lạm phát, cung tiền và hiệu quả tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong giai đoạn trước và sau khủng hoảng từ năm 1987 đến 1995 và

từ 1999 đến 2007 bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu này là các kỹ thuật kinh tế lượng theo chuỗi thời gian, tức là kiểm tra gốc đơn vị, kiểm tra phối hợp, mô hình sửa lỗi (ECM), phân tích phương sai và chức năng đáp ứng xung Các phát hiện cho thấy có sự hợp nhất giữa giá cổ phiếu và các biến kinh tế vĩ mô Kết quả cho thấy lạm phát, cung tiền và tỷ giá hối đoái dường như ảnh hưởng đáng kể đến KLCI Các biến này được nhấn mạnh là công cụ chính sách của Chính phủ nhằm ổn định giá cổ phiếu

- Hussainey và Lê Khánh Ngọc (2009) với nghiên cứu “The impact of macroeconomic indicators on Vietnamese stock prices” (Tác động của những chỉ

số kinh tế vĩ mô lên giá cổ phiếu của Việt Nam) TTCK Việt Nam được thành lập vào tháng 7 năm 2000 Do đó, nghiên cứu của các tác giả tập trung vào dữ liệu có sẵn từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 4 năm 2008 Song song đó thì các tác giả cũng thu thập dữ liệu hàng tháng cho thị trường Mỹ trong cùng thời kỳ Qua nghiên cứu các tác giả đã xem xét tác động của các chỉ số kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế đến giá cổ phiếu Việt Nam Các tác giả thấy rằng sản xuất công nghiệp có tác động tích cực đến giá cổ phiếu Việt Nam và họ cũng nhận thấy rằng lãi suất dài hạn và ngắn hạn không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu theo cùng một hướng Cuối cùng, các tác giả thấy rằng hoạt động sản xuất thực tế của Hoa Kỳ có tác động mạnh mẽ hơn đến giá cổ phiếu Việt Nam so với thị trường tiền điện tử Hoa Kỳ

- Phan Thị Bích Nguyệt và Dương Thị Phương Thảo (2013) đã nghiên

cứu đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK VN” Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định tại Việt Nam (VN) có tồn tại mối tương quan giữa những nhân tố kinh tế vĩ mô với TTCK VN hay không? Dữ liệu thể hiện tình hình của TTCK là chỉ số VN-Index theo tháng trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 9/

2011, chỉ số VN-Index theo tháng được tính là trung bình của chỉ số VN-Index đóng cửa cuối mỗi ngày giao dịch trong tháng, để phản ánh xác thực và giảm sự sai lệch

so với việc lấy chỉ số đầu tháng hoặc cuối tháng

Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến: cung tiền, lạm phát, sản lượng công nghiệp

Trang 34

(đại diện cho hoạt động kinh tế thực, giá dầu thế giới thể hiện mối tương quan cùng chiều với TTCK; còn các biến lãi suất và tỉ giá hối đoái giữa VND/USD thể hiện mối tương quan ngược chiều với TTCK Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các gợi ý chính sách cho điều hành kinh tế vĩ mô và cho thị trường với mục tiêu hướng tới phát triển một TTCK chuyên nghiệp

- Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015) đã thực hiện nghiên

cứu “Sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến các chỉ số giá cổ phiếu tại

HOSE” Nghiên cứu này nhằm đo lường sự tác động của sáu nhân tố kinh tế vĩ mô

bao gồm: lạm phát (đại diện bằng chỉ số giá tiêu dùng), lãi suất, cung tiền M2, tỷ giá hối đoái VND/USD, giá trị sản lượng công nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các chỉ số giá cổ phiếu đang được áp dụng tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Các chỉ số giá cổ phiếu có thời gian áp dụng tại HOSE khác nhau như VN-Index được áp dụng vào tháng 7/2000, VN30-Index được áp dụng vào tháng 2/2012 còn lại VNMidcap-Index, VN100-Index, VNSmallcap-Index, VNAllshare-Index thì được áp dụng từ tháng 01/2014 Các nguồn dữ liệu này không đồng nhất với nhau, do đó để đồng nhất thời gian nghiên cứu sẽ sử dụng thêm bộ dữ liệu mà HOSE cung cấp để phục vụ cho việc nghiên cứu Đây là số liệu

mà HOSE đã tiến hành chạy thử các chỉ số trong 05 năm từ 02/01/2009 đến 24/01/2014 Các chỉ số đều được trải qua 10 kỳ xem xét thành phần và chuyển đổi theo đúng các tiêu chí trong quy tắc chỉ số hiện hành Do bộ dữ liệu này chỉ cung cấp số liệu từ năm 2009 nên dữ liệu sử dụng là nguồn dữ liệu theo tháng và khung thời gian chọn mẫu là từ tháng 1/2009 đến tháng 6/2014

Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số giá cổ phiếu chịu sự tác động tích cực hoặc tiêu cực của các nhân tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, cung tiền, tỷ giá hối đoái, lãi suất và giá trị sản lượng công nghiệp Tuy nhiên, sự tác động này là khác nhau đối với từng chỉ số giá cổ phiếu Trên cơ sở này, nghiên cứu gợi ý một số chính sách nhằm gia tăng sự tác động tích cực và hạn chế sự tác động tiêu cực của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE Một số chính sách được

đề ra trong nghiên cứu như: Kiểm soát tình trạng lạm phát, ổn định tỉ giá hối đoái, điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ,

Trang 35

- Để xem xét tác động của biến vĩ mô lên sàn giao dịch chứng khoán

Karachi, Rabia và Khakan (2015) đã nghiên cứu “ Impact of Macro Variables on

Karachi Stock Exchange” Trong bài báo này, các tác giả đã nghiên cứu tác động của các biến vĩ mô lên sàn giao dịch chứng khoán Karachi Sàn giao dịch chứng khoán Karachi là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất của Pakistan Sàn giao dịch chứng khoán Karachi là các biến phụ thuộc và lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái và GDP là các biến độc lập Dữ liệu được lấy từ giai đoạn 1992 đến 2012 Các tác giả

đã thấy rằng có 80% biến thể Vì vậy, có thể nói có một mối quan hệ mạnh mẽ trong số các biến Trong khi các biến số khác đã chỉ ra rằng GDP, lãi suất và lạm phát có mối quan hệ chặt chẽ với chỉ số chứng khoán kse trong khi lãi suất có mối quan hệ tiêu cực với sàn giao dịch chứng khoán Karachi Sự tăng giảm giá cổ phiếu

sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất của nền kinh tế Theo mô hình hệ số tương quan Pearson, cho thấy tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu có mối tương quan tích cực Đây là một mối tương quan tích cực vừa phải giữa lạm phát và trao đổi chứng khoán Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là âm Tất cả các những mối quan hệ này đã cho thấy rằng không có mối tương quan mạnh mẽ giữa các biến Các đề xuất của tác giả: Các học viên và nhà phân tích nên cố gắng dự đoán về giá cổ phiếu trong tương lai, họ nên loại bỏ phong trào TTCK, Các nhà đầu tư nên dự báo sự thay đổi của thị trường tài chính

2.2.3 Tác động của GDP thực đến TTCK

Theo Nguyễn Văn Công (2008), GDP thực tế và GDP danh nghĩa được hiểu như sau:

GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh

tế được đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc) hay là tổng của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của các hàng hóa và dịch vụ ấy trong năm cơ sở (năm gốc)

Đó là: 𝐺𝐷𝑃𝑟𝑡 = ∑𝑛𝑖=1𝑞𝑖 𝑡 𝑝𝑖0

(với giả định rằng t=o ở năm cơ sở hay năm gốc)

Thông qua việc đánh giá sản lượng hiện hành theo các mức giá quá khứ cố định GDP thực tế cho biết sản lượng hàng hóa nói chung của nền kinh tế thay đổi

Trang 36

như thế nào theo thời gian

GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ tính theo giá hiện

hành hay là tổng của lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá của các hàng hóa dịch vụ ấy trong năm đó

Cũng có thể thể hiện GDP danh nghĩa dưới dạng công thức như sau:

𝐺𝐷𝑃𝑟𝑡 = ∑ 𝑞𝑖 𝑡

𝑛

𝑖=1

𝑝𝑖𝑡Trong đó: i – biểu thị mặt hàng cuối cùng thứ i với i=1, 2, , n

t – biểu thị cho thời kỳ tính toán

Theo trang davinci.edu.vn nhận định sự tác động của GDP tới TTCK như sau: + GDP tăng trưởng sẽ tác động tích cực tới TTCK về lượng và chất

+ Nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI và vốn gián tiếp FII Khi có nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia, thị trường

sẽ trở nên minh bạch và chuyên nghiệp hơn

+ Tăng trưởng kinh tế chung thể hiện sự ổn định của TTCK Cổ phiếu lên giá

và sàn tràn ngập sắc xanh tích cực

+ Tăng trưởng kinh tế tạo ra nhu cầu cho các loại dịch vụ tài chính khác nhau

Từ đó, các công ty cần vốn để phát triển sẽ có nhiều cơ hội vay vốn và tìm kiếm cơ hội thu hút đầu tư Đứng trước cơ hội lên sàn

Cách hiểu về GDP đơn giản nhất về mặt kinh tế: GDP = C + I + G + X – M

Trong đó:

• Tiêu dùng - consumption (C) bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ

Trang 37

• Đầu tư - investment (I) là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân Nó bao gồm các khoản chi tiêu của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng hay sự xây dựng, mua nhà mới của hộ gia đình

• Chi tiêu chính phủ - government purchases (G) bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho các cấp chính quyền từ Trung ưng đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp, đường sá, cầu cống, giáo dục, y tế, Chi tiêu Chính phủ không bao gồm các khoản chuyển giao thu nhập như các khoản trợ cấp cho người tàn tật, người nghèo,

• Xuất khẩu ròng - net exports (NX)= Giá trị xuất khẩu (X)- Giá trị nhập khẩu (M)

Sau đây là một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây của một số tác giả trong

và ngoài nước về tác động của GDP thực đến TTCK

- Rizwan và cộng sự (2016) đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Macroeconomic

Factors and the Pakistani Equity Market: A Relationship Analysis” (Các yếu tố kinh

tế vĩ mô và thị trường vốn cổ phần Pakistan: Phân tích mối quan hệ) Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận của TTCK (Chỉ số KSE-100) và tỷ giá hối đoái, lãi suất thực, tổng sản phẩm trong nước, cung tiền (M1) Nghiên cứu này đã

sử dụng dữ liệu hàng tháng của tất cả các biến từ 2003 đến 2013 Các công cụ phân tích được áp dụng là thống kê mô tả, kiểm tra gốc đơn vị (Phillips-Perron Test) và phương pháp ARDL Kết quả tiếp cận ARDL cho thấy tỷ giá hối đoái, cung tiền và lãi suất thực không có tác động đáng kể đến lợi nhuận TTCK Tuy nhiên, có một tác động tích cực đáng kể của GDP hiện tại đối với lợi nhuận của TTCK và tác động tiêu cực đáng kể của GDP đối với lợi nhuận của TTCK

Trong ngắn hạn, có một tác động tích cực đáng kể của tổng sản phẩm trong nước đến lợi nhuận TTCK Tác động tích cực của GDP đến lợi nhuận của TTCK phù hợp với một số nghiên cứu trước đây Nghiên cứu này kết luận rằng GDP là yếu tố quan trọng nhất trong số các biến số kinh tế vĩ mô được lựa chọn để phân tích ảnh hưởng của lợi nhuận Sở giao dịch chứng khoán Karachi (Chỉ số KSE 100) Tổng số sản phẩm trong nước nên được tập trung để tăng giá trị cổ phiếu của các công ty Pakistan Nghiên cứu cũng giúp nhà đầu tư tham gia quyết định đầu tư bằng

Trang 38

cách đánh giá sự chuyển động của GDP và sự chuyển động của lợi nhuận TTCK

- Sehrawat và Giri (2017) đã thực hiện nghiên cứu “A Sectoral Analysis of

the Role of Stock Market Development on Economic Growth: Empirical Evidence from Indian Economy” (Phân tích ngành về vai trò của phát triển TTCK trên tăng trưởng kinh tế: Theo kinh nghiệm bằng chứng từ nền kinh tế Ấn Độ) Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa TTCK Ấn Độ và tăng trưởng kinh tế từ viễn cảnh ngành,

sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý từ quý 4/2003 đến quý 4/2014 Kết quả của Thử nghiệm giới hạn tiếp cận độ trễ phân tán tự động (ARDL) xác nhận sự tồn tại của một sự kết hợp mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số chứng khoán cụ thể theo ngành Kết quả thực nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế đặc thù của ngành chịu ảnh hưởng đáng kể của thay đổi trong các chỉ số giá chứng khoán cụ thể của ngành tương ứng trong dài hạn cũng như trong ngắn hạn Bài kiểm tra quan hệ nhân quả Granger chứng minh có mối quan hệ nhân quả dài hạn cũng như ngắn hạn chạy từ giá cổ phiếu đặc thù của ngành đến GDP ngành tương ứng

- Faisal và cộng sự (2017) đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Impact of

Economic Growth, Foreign Direct Investment and Financial Development on Stock Prices in China: Empirical Evidence from Time Series Analysis” (Tác động của tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển tài chính trên giá cổ phiếu ở Trung Quốc: Theo kinh nghiệm Bằng chứng từ phân tích chuỗi thời gian) Nghiên cứu nhằm kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ năng động giữa tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giá cổ phiếu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân của Trung Quốc bằng cách sử dụng phương pháp mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) trong giai đoạn quý 1/1999 đến quý 1/2015 Nghiên cứu đã xác nhận sự hợp nhất dài hạn giữa các biến Kết quả thực nghiệm cho thấy giá cổ phiếu và các biến hồi quy liên quan nằm trong một mối quan hệ cân bằng dài hạn; giá cổ phiếu hội tụ đến vị trí cân bằng dài hạn với tốc độ điều chỉnh 18,6% thông qua kênh GDP, giá cả chứng khoán, FDI, và tín dụng trong nước cho khu vực

tư nhân Những phát hiện của nghiên cứu tiết lộ thêm rằng FDI có tác động tích cực đến giá cổ phiếu trong dài hạn, trong khi phát triển tài chính có tác động tiêu cực

Trang 39

- Alexius và Daniel (2018) đã thực hiện nghiên cứu “Stock prices and GDP

in the long run” (giá cổ phiếu và GDP trong dài hạn) Thời gian lấy mẫu dữ liệu từ quý 1/1969 đến quý 4/2014 Trong nghiên cứu này tác giả đã nghiên cứu mối quan

hệ cân bằng dài hạn giữa chứng khoán, giá cả, GDP trong nước và GDP nước ngoài Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có một nửa số nước thể hiện mối quan hệ tích cực đáng kể giữa giá cổ phiếu trong nước và GDP nước ngoài Bảng ước tính mang lại một hệ số dương, không đáng kể Giả sử rằng ở các nước có GDP tương đối cao cũng có giá cổ phiếu tương đối cao Nghiên cứu không tìm thấy mối quan

hệ cân bằng dài hạn giữa GDP tương đối và giá cổ phiếu tương đối ở các nước G7 Các thử nghiệm hợp nhất bảng điều khiển chỉ ra rằng giá cổ phiếu tương đối và GDP tương đối được hợp nhất Hệ số ngụ ý rằng giá cổ phiếu trong nước tăng hơn 1,84% so với giá cổ phiếu nước ngoài khi GDP trong nước tăng hơn một phần trăm

so với GDP nước ngoài Một bảng nghiên cứu rộng hơn bao gồm nhiều quốc gia hơn sẽ được yêu cầu điều tra cho ý tưởng này kỹ lưỡng hơn Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa giá cổ phiếu và sản lượng hơn những gì thường được tìm thấy

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu về các yếu tố vĩ mô tác động đến thị

khủng hoảng Châu Á

Pan và cộng sự (2006)

Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan (1/1988 – 10/1998)

Pekkaya và Thổ Nhĩ Kỳ (1990-2007)

Trang 40

Tỷ giá hối đoái, dự trữ

ngoại hối, cung tiền và

tổng vốn cố định đang

tác động tích cực đến giá

cổ phiếu

Hussain và cộng sự (2009)

Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) (1987 –

2008)

Quan hệ nhân quả thay

đổi theo thời gian giữa

tỷ giá hối đoái và TTCK

Kollias và cộng sự (2010)

Châu Âu ( 01/2002 đến

12/2008)

Có mối quan hệ đơn

phương từ lợi nhuận

chứng khoán đến tỷ giá

hối đoái ở nền kinh tế

Hàn Quốc

Tavakoli và cộng sự ( 2013)

Iran và Hàn Quốc (từ tháng 07/2002 đến tháng 03/2012)

Không có mối quan hệ

giữa tỷ giá hối đoái và

dự trữ ngoại hối trong

dài hạn

Cheng Jiang (2018)

Hồng Kông (từ tháng 1/2000 đến tháng 11/2007)

Sở giao dịch chứng khoán

Tp Hồ Chí Minh (1/ 2004 đến tháng 12/2011)

Ngày đăng: 21/01/2022, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w