Liên quan đến hoạt động kinh doanh của thương nhân, những trường hợp pháp luật của quốc gia thường được áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm: + Thứ nhất, luật quốc gia được
Trang 1KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
-
TIỂU LUẬN LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
(THI BỔ SUNG)
ĐỀ SỐ 2: Hãy nêu và phân tích hệ thống quy phạm của
Luật thương mại quốc tế
Giảng viên: GS.TS Nguyễn Bá Diến Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Chuyên Ngày sinh: 16/09/2000
MSV: 18050876 Khóa: QH2019 LKD K9 Gmail: chuyenviethung@gmail.com
Hà Nội, 01/2021
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 PHÁP LUẬT QUỐC GIA 4
2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 5
2.1 Điều ước quốc tế 5
2.2 Các tập quán thương mại quốc tế 8
2.3 Án lệ 9
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh
tế Đối với mỗi quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, tham gia thương mại quốc tế tạo ra động lực cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy phân công lao động trong nước và quốc tế
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua tự do hóa thương mại đã đem lại những kết quả khả quan cho mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu đã thể hiện được vai trò quan trọng phục vụ có hiệu quả phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Tự do hóa thương mại vừa mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi quốc gia, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu, mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ quốc tế mà nước mình mong muốn thâm nhập vào thị trường nội địa dễ dàng hơn Toàn cầu hóa làm cho thị trường xuất nhập được mở rộng, cho phép các doanh nghiệp đẩy mạnh được hoạt động xuất nhập khẩu của mình Do đó, việc trao đổi thương mại ngày càng phát triển đặc biệt là thương mại có yếu tố nước ngoài Vì vậy, cần có những quy định, luật lệ để giám sát, bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp nói chung và nhà nước nói riêng
Việc tham gia thương mại quốc tế của mỗi quốc gia gặp không ít khó khăn một phần chính sách pháp luật trong nước chưa phù hợp với pháp luật quốc tế Do đó, tác giả
lựa chọn đề tài “Hãy nêu và phân tích hệ thống quy phạm của Luật thương mại quốc tế”
để tìm hiểu từ gốc rễ vấn đề, hệ thống quy phạm của Luật này
Trang 4NỘI DUNG
1 PHÁP LUẬT QUỐC GIA
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn của Luật thương mại quốc tế là hình thức chứa đựng quy phạm pháp luật do quốc gia ban hành điều chỉnh các hoạt dộng thương mại quốc tế Liên quan đến hoạt động kinh doanh của thương nhân, những trường hợp pháp luật của quốc gia thường được áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm:
+ Thứ nhất, luật quốc gia được áp dụng theo thoả thuận giữa các chủ thể
Theo đó, các bên có thể thỏa thuận mọi điều khoản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình bao gồm cả việc tự do thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng Các bên có thể chọn pháp luật trong nước của mỏi bên hoặc có thể chọn pháp luật của nước thứ ba, với điều kiện việc chọn pháp luật áp dụng này không trái với quy định của pháp luật nơi ký kết hợp đóng
+ Thứ hai, luật quốc gia sẽ được áp dụng nếu có quy phạm xung đột dẫn
chiếu đến Trong trường hợp, mặc dù các môn chủ thể không thỏa thuận
chọn pháp luật áp dụng nhưng trong các nguồn luật liên quan có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ được đem ra áp dụng để điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế Theo đó pháp luật của nước mà các bên mang quốc tịch sẽ là pháp luật quy định về năng lực pháp luật và năng lực hành vi giao kết hợp cùng của mỗi bên Như vậy trong trường hợp này, mặc dù các bên không thoả thuận pháp luật áp dụng nhưng khi xác định năng lực pháp luật của các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật thương mại quốc tế vẫn áp dụng luật của quốc gia do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến
Trang 5Pháp luật trong nước của Việt Nam là pháp luật thành văn luật trong nước với tư cách là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế là hình thức chứa đựng quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế Do đó, nếu văn bản pháp lý chứa đựng ít nhất một quy phạm điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế thì nó được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế
Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam có rất nhiều văn bản được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế Các văn bản này có thể chứa đựng một hoặc nhiều quy phạm điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế Có thể kể đến một số văn bản pháp lý quan trọng sau đây của Việt Nam được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế Việt Nam: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bộ luật dân sự Việt Nam; Luật thương mại Việt Nam; Luật hàng hải Việt Nam; Luật hàng không dân dụng Việt Nam; Luật thuế xuất nhập khẩu
Bên cạnh các văn bản pháp luật, một số văn bản dưới luật nhàm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế cũng được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế của Việt Nam cụ thể như: Nghị định của chính phủ số 57/1998/NĐ/CP ngày 31/7/1998 về quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý, mua bán hàng hoá với nước ngoài; Nghị định của Chính phủ số 44/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP
2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
2.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế song phương: Các điều ước quốc tế song phương tạo nền tảng
pháp lý cho các quan hệ dân sự, kinh tế - thương mại giữa nước ta với nước ngoài Hiện nay, Việt Nam đã ký trên 80 hiệp định thương mại, gần 50 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Các hiệp định này đều ghi nhận nguyên tắc tối huệ quốc
và nguyên tắc đối xử quốc gia để tạo điều kiện cho các bên, công dân của các bên phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam hiện có quan hệ buôn bán với
170 nước và vùng lãnh thổ Năm 2000, VN và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định Thương mại (BTA) với nội dung bao quát các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại
Trang 6dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các vấn đề đầu tư liên quan đến thương mại, là những lĩnh vực mà WTO điều chỉnh Năm 2004, Việt Nam ký Hiệp định tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản (BIT) BTA và BIT đã mở ra những
cơ hội to lớn trong phát triển xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Mới đây nhất, Việt Nam đã ký 02 hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới bao gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) nhằm mở rộng và mở cửa thị trường đối với một số mặt hàng nguyên vật liệu trọng điểm của Việt Nam thúc đẩy sản xuất tăng trưởng
Ngoài ra phải kể đến các hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và chính phủ các nước nhằm điều chỉnh thống nhất các xung đột pháp luật về pháp luật áp dụng và về thẩm quyền giải quyết các quan hệ pháp luật về quyền sở hữu, về hợp đồng dân sự, kinh tế - thương mại giữa công dân và pháp nhân Việt Nam với công dân và pháp nhân các nước ký kết Bên cạnh đó phải kể đến các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với các nước Các hiệp định này góp phần khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua việc loại bỏ việc đánh thuế trùng lặp giữa Việt Nam và các nước, tạo lập môi trường pháp lý ổn định cho các nhà đầu tư của hai bên, góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức và cá nhân thương nhân
Điều ước quốc tế đa phương: Các điều ước quốc tế đa phương là nguồn của pháp
luật thương mại quốc tế
Thứ nhất là các điều ước quốc tế quy định những nguyên tắc pháp lý chung, mang
tính chủ đạo đối với các hoạt động thương mại diễn ra giữa các quốc gia Trước tiên phải kể đến các hiệp định của WTO : GATT, GATS, TRIMs (Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại), TRIPS (Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ), Công ước New-York
1958 về Công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, Công ước
về thiết lập Tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên (MIGA năm 1985)
Thứ hai là các điều ước quốc tế quy định một cách trực tiếp một hoạt động thương
mại cụ thể trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia
Trang 7vào quan hệ thương mại quốc tế Ví dụ điển hình công ước của Liên hợp quốc: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Washington năm 1965 về giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và các kiều dân nước ngoài về đầu tư, Công ước Liên hợp Quốc về việc sử dụng chứng từ điện tử trong hợp đồng quốc tế do Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp quốc soạn thảo và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/11/2005, (ký kết ngày 6/7/2006 bởi 60 quốc gia thành viên của UNCITRAL và 10 nước quan sát viên trong đó có Việt Nam) một khung quy định chung cho những vấn đề cơ bản nhất của giao kết và thực hiện hợp đồng thông qua phương tiện điện tử, Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử
Bên cạnh đó còn có các điều ước quốc tế khu vực như : Hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN - Trung quốc, ASEAN - Ấn độ, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Úc và New Zealand…
Ngoài ra còn có các Luật mẫu được ban hành do các cơ quan của Liên hợp quốc: UNCITRAL (Luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21/6/1985, Luật mẫu UNCITRAL về thương mại điện tử ngày 16/12/1996, Luật mẫu UNCITRAL về việc sử dụng giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng do tổ chức phi chính phủ như Viện tư pháp thông nhất Rome ban hành UNIDROIT
Các điều ước quốc tế đã được các chính phủ tham gia ký kết hoặc dẫn chiếu tới, sẽ được áp dụng trong các hoạt động thương mại của thương nhân các nước
đó Các điều ước quốc tế chưa được quốc gia ký kết hoặc công nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể hoạt động thương mại quốc tế của họ trừ khi được các bên lựa chọn áp dụng trong các hợp đồng thương mại quốc tế
Theo quy định của pháp luật hiện hành Việt Nam có 2 phương thức áp dụng điều ước quốc tế về thương mại :
+ Thứ nhất, đối với các điều ước quốc tế về thương mại mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết và phê chuẩn thì sẽ áp dụng các điều ước quốc tế
Trang 8+ Thứ hai, đối với các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta chưa tham gia hoặc công nhận, thì chỉ áp dụng các điều, khoản, không trái với pháp luật Việt Nam và khi có
sự thỏa thuận giữa các bên
2.2 Các tập quán thương mại quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự phổ biến được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định hay còn gọi là tập quán khu vực hoặc trên phạm vi toàn cầu gọi là tập quán toàn cầu
Những tập quán quốc tế là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế chủ yếu gồm các tập quán về thương mại và hàng hải quốc tế Ví dụ : Các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) được Phòng Thương mại quốc tế Paris (Paris ICC) tập hợp và ban hành từ năm 1936, và được sửa đổi cuối cùng vào năm 2000 Đây là tập hợp các tập quán thương mại quốc tế thông dụng được áp dụng trong thực tiễn ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm quy định quyền và nghĩa vụ của các bên về việc vận chuyển hàng hóa, trách nhiệm làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa, về phân chia rủi ro giữa các bên trong hợp đồng
Bên cạnh các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) còn có các tập quán thương mại quốc tế phổ biến như: Các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP- Uniform Customs and Practice for Documentary of Credits) của Phòng thương mại quốc tế Paris Đây là tập hợp các tập quán và thực tiễn ngân hàng trong phương thức tín dụng chứng từ được quốc tế thừa nhận, bao gồm những điều khoản mang tính chất hướng dẫn cho người sử dụng UCP được công bố lần đầu tiên năm 1933, được sửa đổi nhiều lần qua các năm
Ngoài ra còn có Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP).Văn bản này bổ sung cho UCP ISBP không sửa đổi UCP mà giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc UCP trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ Thông qua việc sử dụng ISBP, những người kiểm tra chứng từ có thể thực hiện các công việc của mình phù hợp với tập quán mà đồng nghiệp của họ đang sử
Trang 9dụng trên toàn thế giới, nhờ đó sẽ làm giảm đi đáng kể một số lượng chứng từ bị
từ chối thanh toán do có sự khác biệt khi xuất trình lần đầu tiên
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tập quán quốc tế cũng được coi là nguồn của luật trong trường hợp các quan hệ dân sự, kinh tế - thương mại có yếu
tố nước ngoài Tuy nhiên, việc áp dụng các tập quán này không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
2.3 Án lệ
Án lệ được coi là các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật do tòa án hoặc cơ quan trọng tài ban hành Ở các nước phát triển và các nước thuộc
hệ thống Common law, án lệ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh tế thương mại Cụ thể các vai trò ấy là:
+ Các án lệ khi được viện dẫn có ý nghĩa quan trọng làm sáng tỏ nội hàm của một khái niệm pháp lý trong luật quốc tế
+ Thông qua các án lệ những nội dung cơ bản của các nguyên tắc và quy phạm luật quôvs tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế được làm rõ + Các án lệ có ý nghĩa khắng định sự tồn tại một vấn đề cơ bản ở những lĩnh vực trong khoa học luật quốc tế mà hiện nay quá trình pháp điển hóa còn đang tiếp diễn như về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế
Tuy nhiên, ở Việt Nam pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật
về thương mại nói riêng chưa thừa nhận án lệ như là nguồn của luật Tuy nhiên, với đối với các quan hệ có yếu tố nước ngoài, việc thừa nhận pháp luật nước ngoài trong áp dụng luật cũng là một cơ sở để cơ quan giải quyết tranh chấp, mà thường
là trọng tài đưa ra những phán quyết dựa trên án lệ của một nước
Trang 10KẾT LUẬN
Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và những ảnh hưởng quan trọng của thương mại điện tử đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đòi hỏi phải có hành lang pháp lý
ổn định và an toàn cho sự tồn tại và phát triển của các hoạt động thương mại điện tử
Hệ thống quy phạm của Luật thương mại quốc tế nói chung và tại Việt Nam nói riêng vô cùng đa dạng với rất nhiều các quy phạm pháp luật, từ quy phạm điều ước quốc tế, quy phạm trong văn bản pháp luật quốc gia đến các quy phạm về tập quán thương mại trong nước và quốc tế cũng như các quy phạm về các loại án lệ
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thăng Long (2012), Vai trò của án lệ đối với sự phát triển của pháp luật quốc
tế và sự cần thiết của việc sử dụng án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế tại Việt Nam
2 Giáo trình Luật thương mại quốc tế (2017), NXB Công an nhân dân
3 Nguyễn Bá Diến (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế
4 Bộ Công Thương,
(https://moit.gov.vn/?page=home#:~:text=Hi%E1%BB%87n%20nay%2C%20Vi
%E1%BB%87t%20Nam%20%C4%91%C3%A3,minh%20ch%C3%A2u%20%C3
%82u%20(EVFTA))
5 Kiến thức về quan hệ quốc tế và nghiệp vụ ngoại giao
(http://www.mofahcm.gov.vn/vi/hoidap/ns060810163646/newsitem_print_previe w#:~:text=%C4%90%C3%A1p%3A%20Th%E1%BB%B1c%20hi%E1%BB%87 n%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%20l%E1%BB%91i,B%E1%BA%A3 o%20an%20Li%C3%AAn%20H%E1%BB%A3p%20qu%E1%BB%91c)
6 Elib ( https://www.elib.vn/huong-dan/bai-3-luat-thuong-mai-quoc-te-28836.html )
7 WTO, http://www.wto.org
8 Khoa học và Kỹ thuật (1999), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế