1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn Ngữ Văn lớp 9 khi làm bài văn, đoạn văn nghị luận theo hướng mở.

24 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị luận về đời sống xã hội được coi trọng cùng đề văn mở đã đem lại sự thay đổi đáng kể trong nhận thức, suy nghĩ của cả người dạy và học văn; đặc biệt, giúp học sinh biết quan tâm, bày tỏ thái độ, suy nghĩ và có hành động đúng đắn trước những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội; tạo ra rất nhiều hứng thú đối với học sinh, giúp các em có cơ hội bày tỏ quan điểm và chính kiến của bản thân. Hơn nữa việc ra đề văn mở sẽ giúp bản thân mỗi em thể hiện sự hiểu biết đối với các vấn đề xã hội; đem văn học đến gần với cuộc sống hơn; phần nào làm giảm bớt căn bệnh “vô cảm” của một bộ phận học sinh hiện nay.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ……….

Tác giả sáng kiến:

 Mã sáng kiến

Trang 2

5 4 Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4

9 1 Hình thành cho học sinh khái niệm về “văn nghị luận

xã hội theo hướng mở

5

10 2 Giúp học sinh nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng

của nghi luận xã hội theo hướng mở

6

12 4 Củng cố phương pháp làm bài văn, đoạn văn nghị luận

xã hội cho học sinh

8

13 5 Hướng dẫn học sinh các bước làm bài văn nghị luận xã

hội theo hướng mở

9

15 7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp 19

16 7.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu

được do áp dụng giải pháp theo ý kiến của tác giả

19

17 7.2.Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu

được do áp dụng giải pháp theo ý kiến của tổ chức, cá

nhân

19

18 8.Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng

thử hoặc áp dụng giải pháp lần đầu

20

Trang 4

1 Giới thiệu:

Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu đối với sự nghiệp giáo dục nhằm đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong thời kì đẩy mạnh côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng đã tạo nên luồng sinh khí mới cho hoạt động giáo dục Trong đó việc đổi mới trong khâu

ra đề thi và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là hết sức quan trọng

Vài năm trở lại đây, xu hướng ra đề môn văn theo hướng mở ngày càngphổ biến, đặc biệt mảng nghị luận xã hội rất được quan tâm, điều đó đã đượcthể hiện trong tất cả các kì thi Học sinh giỏi THCS, THPT cũng như thi Tốtnghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng

Từ tầm quan trọng và tác dụng của vấn đề, Bộ Giáo dục và đào tạo phốihợp với Tạp chí Văn học và tuổi trẻ đã phát động cuộc thi “Ra đề và viết văntheo hướng mở”, thu hút được sự tham gia của đông đảo giáo viên và họcsinh trong cả nước

Nghị luận về đời sống xã hội được coi trọng cùng đề văn mở đã đem lại

sự thay đổi đáng kể trong nhận thức, suy nghĩ của cả người dạy và học văn;đặc biệt, giúp học sinh biết quan tâm, bày tỏ thái độ, suy nghĩ và có hànhđộng đúng đắn trước những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội; tạo ra rấtnhiều hứng thú đối với học sinh, giúp các em có cơ hội bày tỏ quan điểm vàchính kiến của bản thân Hơn nữa việc ra đề văn mở sẽ giúp bản thân mỗi emthể hiện sự hiểu biết đối với các vấn đề xã hội; đem văn học đến gần với cuộcsống hơn; phần nào làm giảm bớt căn bệnh “vô cảm” của một bộ phận họcsinh hiện nay

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn, đã nhiều năm dạy Ngữ vănlớp 9, vì vậy việc hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận xã hội theohướng mở đã đặt ra yêu cầu quan trọng cho người dạy học, vừa giúp học sinhrèn kĩ năng nghị luận, vừa phải phát huy được tính tích cực chủ động và sựsáng tạo, niềm hứng thú cho học sinh

Trong phần dành cho lớp 9, một nội dung vô cùng quan trọng, mang tínhthực tiễn và vô cùng ý nghĩa đó là nghị luận về một sự việc, hiện tượng vànghị luận về một tư tưởng đạo lý Xuất phát từ thực tế và kinh nghiệm giảngdạy, tôi đã tích lũy thành giải pháp “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh

Trang 5

làm bài văn, đoạn văn nghị luận xã hội theo hướng mở” Sáng kiến kinhnghiệm này đã được tôi áp dụng vào quá trình dạy Ngữ văn tại các lớp tôigiảng dạy và đem lại những hiệu quả tích cực.

2 Tên giải pháp: Một số giải pháp hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận

theo hướng mở

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 9 trong các trường THCS.

4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: :

Năm học 2019-2020 và 2020-2021 Học sinh khối 9 có 38 học sinh

PHẦN II NỘI DUNG I.Thực trạng

1 Thực trạng việc giảng dạy kĩ năng viết bài văn, đoạn văn nghị luận

của giáo viên:

Qua thực tế giảng dạy, qua trao đổi với các giáo viên trong tổ và qua việc

dự giờ trực tiếp các tiết dạy này của giáo viên, tôi thấy rằng: Phần lớn giáo viênđang sử dụng cách cho học sinh nhắc lại lý thuyết, rồi cho học sinh thực hiệncác bước như lý thuyết đã hướng dẫn Sau đó gọi học sinh đọc bài, các học sinhkhác nhận xét, bổ sung Cuối cùng là giáo viên nhận xét khái quát rồi đánh giá,cho điểm Cách dạy này thì nhàn cho giáo viên, còn học sinh thì phải tự mày mòviết đoạn Viết xong, nghe các bạn và cô giáo góp ý, rút kinh nghiệm, rồi đâu lạivào đấy, có khi bài sau lại mắc ngay lỗi của bài trước Bản thân tôi cũng đã từngdạy theo cách đó và thấy rằng nó không thực sự hiệu quả

2 Thực trạng trong việc viết bài văn , đoạn văn nghị luận của học sinh:

Ở cấp Tiểu học và chương trình lớp 6, 7 cấp THCS, học sinh được học văn

tự sự ,miêu tả và biểu cảm Đây là 3 dạng văn kích thích trí tưởng tượng phongphú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh Dạng bài này rất phù hợp vớitâm lí lứa tuổi luôn tò mò, thích tìm hiểu, khám phá Hơn nữa học sinh lại đượcrèn luyện nhiều từ Tiểu học nên việc làm dạng bài này không phải là khó đối vớihọc sinh Còn văn nghị luận, học sinh mới được làm quen từ lớp 7 Dạng bài nàynhằm hình thành và phát triển tư duy luận lí với khả năng lập luận chặt chẽ, giàusức thuyết phục Đây thực sự là một trở ngại đối với học sinh Nên trong quá

trình viết các em thường gặp phải những khó khăn như sau:

- Thiếu kiến thức về vấn đề nghị luận Cả kiến thức văn học và kiến thức

xã hội Gặp phải khó khăn này là do học sinh lười học bài, ít đọc, thậm chí có

em còn không đọc văn bản Cũng có những em rất mù mờ về kiến thức xã hội

do không thường xuyên hoặc chưa có ý thức cập nhật và ghi nhớ các thông tin

Do đó bài làm của học sinh thường rất sơ sài, nghèo ý

- Có em khả năng ghi nhớ thông tin không tốt nên thường nhầm lẫn, dẫnđến sai kiến thức Do đó bài viết cũng không có sức thuyết phục

Từ những khó khăn cơ bản của học sinh như trên, tôi đã đưa ra một số giảipháp để dần tìm biện pháp tháo gỡ

II Giải pháp

Trang 6

1 Hình thành cho học sinh khái niệm về “văn nghị luận xã hội theo hướng

mở”

Khái niệm văn nghị luận:

Nghị luận là phương thức biểu đạt nhằm xác lập cho người đọc, người nghemột quan điểm tư tưởng nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõràng, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục

Nghị luận xã hội:

Là một trong hai kiểu bài nghị luận (nghị luận văn học và nghị luận xãhội), trong đó người viết (nói) xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng,quan điểm trước vấn đề trong đời sống xã hội

Nghị luận xã hội được chia làm hai dạng bài: Nghị luận về vấn đề tư tưởngđạo lí và nghị luận về một hiện tượng, sự việc đời sống

Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí: là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực

tư tưởng, đạo đức, lối sống,… của con người

Nghị luận về một hiện tượng, sự việc đời sống: là bàn về một sự việc, hiện

tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suynghĩ

Khái niệm “đề mở”

“Đề mở” là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ

nêu đề tài đề viết văn tự sự, miêu tả…không nêu mệnh lệnh gì về thao tác lậpluận như: hãy chứng minh, phân tích,…hoặc phương thức biểu đạt như: hãy kể,hãy phát biểu cảm nghĩ…

“Đề mở” khác với loại đề có đầy đủ yếu tố, từ lời dẫn đến yêu cầu về thao tác cụ thể (còn gọi là đề “đóng”, đề “khép kín”), chẳng hạn: Hãy chứng minh rằng “Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta” Đặc điểm của đề văn

này là hướng dẫn học sinh suy nghĩ và viết về một vấn đề cụ thể, vận dụng một

số thao tác, huy động một phạm vi kiến thức nhất định Mặt khác, giáo viên cóthể quy định một đáp án để dùng cho tất cả học sinh cùng làm một đề Nhượcđiểm của nó là tính chất bắt buộc, gò bó, khả năng lựa chọn dành cho học sinh ít,chưa tạo cơ hội cho học sinh chủ động lựa chọn phương án và hào hứng làmvăn

Làm văn trong nhà trường là hình thức để học sinh luyện tập viết các vănbản theo một chương trình định sẵn Để học sinh luyện tập làm văn giáo viên

Trang 7

phải ra các đề văn Đề văn có tác dụng định hướng tư tưởng, tư duy, quy định

phạm vi vấn đề, tri thức, giới hạn tư liệu, thao tác lập luận và cũng có tác dụnggây hứng thú viết văn đối với học sinh, vì vậy nếu đề văn hay sẽ gây hứng thúcho học sinh; ngược lại đề văn khô khan, cứng nhắc có thể gây ức chế cho ngườilàm văn

Đề văn nào cũng có tính hạn định, nhưng đề mở độ hạn định giảm thiểu đểtạo khả năng cho học sinh tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề của

mình Đề mở là loại đề có khả năng tạo không gian thoáng cho học sinh suy nghĩ

và sáng tạo

Các dạng đề mở thường gặp:

Dạng đề cho đề tài

Đây là dạng đề chỉ nêu vấn đề chung mang tính khái quat, học sinh có thể

thể cụ thể hoá thành luận điểm chính hay nhan đề của bài viết

Ví dụ: - Cây xanh và con người.

- Một phẩm chất cần có của người học sinh.

- Ước mơ của em.

- Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn.

Dạng đề cho tài liệu

Đây là dạng đề cung cấp một bức tranh (ảnh) hoặc cho một truyện ngụngôn, truyện cười, một nhân vật lịch sử, một đoạn trích tác phẩm, một mẩu tintrên báo,…Yêu cầu học sinh tìm ra vấn đề vấn đề, chủ đề để viết bài nghị luận

Ví dụ:

Đề 1: Suy nghĩ của em về hành động của cậu bé trong câu chuyện dưới đây:

Tôi đang dạo bộ trên bãi biển khi hoàng hôn buông xuống Biển đôngngười nhưng tôi lại chú ý đến một cậu bé cứ liên tục cúi xuống, nhặt thứ gì lên

và ném xuống Tiến lại gần hơn, tôi chú ý thấy một cậu bé đang nhặt những consao biển bị thủy triều đánh giạt vào bờ và ném chúng trở lại với đại dương

- Cháu đang làm gì vậy? – Tôi làm quen

- Những con sao biển này sắp chết vì thiếu nước Cháu phải giúp chúng –Cậu bé trả lời

Trang 8

- Cháu có thấy là mình đang mất thời gian không Có hàng ngàn con saobiển như vậy Cháu không thể nào giúp được chúng Rồi chúng cũng phải chếtthôi Cậu bé vẫn tiếp tục nhặt một con sao biển khác và nhìn tôi mỉm cười trảlời:

- Cháu biết chứ Nhưng cháu nghĩ cháu có thể làm được điều gì đó Ít nhấtcháu đã cứu được những con sao biển này

(Hạt giống tâm hồn – Từ những điều bình dị)

(Đề thi hsg KHXH huyện Vĩnh Tường năm học 2018-2019)

2 Giúp học sinh nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của nghi luận

xã hội theo hướng mở.

Bằng nhiều kênh thông tin, giáo viên có thể giúp học sinh nhận thấy nhữngvấn đề bức thiết của đời sống xã hội hiện tại như: mối quan hệ giữa con người

và thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội, những quan điểm sốngcủa thanh niên hiện nay, những hành động việc làm của cá nhân hay tập thểđược xã hội quan tâm…, từ đó tác động đến tâm lí, tình cảm để học sinh thực sựcảm thấy hứng thú với vấn đề và muốn bày tỏ quan điểm, thái độ suy nghĩ củamình

Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới và hội nhập Quốc tế, giáo viên khôngchỉ giúp học sinh tiếp cận với những đề thi theo hướng mở qua các kì thi trongtỉnh, trong nước mà còn cả xu thế đề thi mở quốc tế, để các em chuẩn bị tâm líđón nhận đề văn nghị luận xã hội theo hướng mở là một yêu cầu tất yếu khi làmvăn nghị luận, tránh tâm lí ngại phải làm bài theo hướng mở

3 Ra đề và chuẩn bị đáp án:

Một đề văn nghị luận xã hội theo hướng mở được đánh giá là “hay” là đềnêu được vấn đề nghị luận có tính cập nhật thời sự và mang tính nhân văn, pháthuy được sự sáng tạo của học sinh, góp phần giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn

và hoàn thiện nhân cách

Để ra được một đề văn hay, người giáo viên phải biết “dự đoán” các nộidung nghị luận xã hội trong những thời điểm nhất định để định hướng cho họcsinh cách tìm hiểu thông tin liên quan đến vấn đề, có cơ sở lí lẽ và dẫn chứngthuyết phục

Trang 9

Chẳng hạn, hiện thực cuộc sống đang phải đối mặt với thiên tai khủngkhiếp, ô nhiễm môi trường…,người ra đề có thể hướng tới ra đề nghị luận mởnhư cung cấp bức ảnh chụp cảnh lũ lụt ở một vùng quê, một cảnh tượng rác thảilàm ô nhiễm môi trường… và yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ của mình về nộidung thể hiện trong bức ảnh Hay, trước tình hình biển đảo của đất nước đang làvấn đề được cả nước quan tâm, có thể định hướng cho học sinh một số những

đề bài liên quan đến “biển đảo” để các em hiểu biết thêm và bày tỏ những suynghĩ của mình về biển đảo của Tổ quốc thân yêu Ví dụ: Đọc đoạn trích (mộtphần trong lệnh truyền của Quang Trung với quân lính, trích Hoàng “Lê nhất

thống chí”, Ngữ văn 9, tập1): “Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều

đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (…) Các ngươi đều là những kẻ lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn” Từ đoạn trích trên, với những hiểu biết xã hội, em

hãy trình bày suy nghĩ về hình ảnh những người chiến sỹ ngày đêm bảo vệ biểnđảo thiêng liêng của Tổ quốc

(Trích đề thi vào lớp 10- TP Hà Nội, năm học 2013- 2014.)

Bên cạnh đó, giáo viên phải dự kiến các đáp án, tức là dự đoán được cácphương án bài làm của học sinh Yêu cầu này đòi hỏi người ra đề phải nắm chắcthông tin, sự việc, cập nhật tình hình, có hiểu biết thực tế sâu rộng, tránh tìnhtrạng “tụt hậu” so với bài làm của học sinh

4 Củng cố phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh Nghị luận xã hội gồm hai dạng bài: nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị

luận về một hiện tượng sự việc đời sống

Dù đề bài “đóng” hay “mở” vẫn phải dựa trên cơ sở đặc điểm và cách làmhai dạng bài này Cụ thể:

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường đề cập tới những vấn đề về đạo

đức, lối sống, quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay các danh nhânnổi tiếng, của một dân tộc hay một thế hệ Dấu hiệu để nhận biết kiểu đề nàythường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, cácdanh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, câu tục ngữ, ca dao, một ý kiến trích dẫntrong tác phẩm văn học, một câu truyện ngụ ngôn, một câu truyện trong“quà

tặng cuộc sống”…(Ví dụ: Triết lí nhân sinh qua bốn câu thơ: Nếu là con chim

Trang 10

chiếc lá/ Thì con chim phải hót chiếc lá phải xanh/ Lẽ nào vay mà không có trả/ Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình).

Yêu cầu của bài: giải thích, khẳng định tính đúng sai, phân tích, chứngminh làm sáng tỏ vấn đề, bàn luận, mở rộng vấn đề

Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội thường đề cập tới nhiều

vấn đề trong cuộc sống hằng ngày và mang tính chất thời sự, thu hút sự quantâm của nhiều người như: ô nhiễm môi trường, gian lận trong thi cử, vấn đề tainạn giao thông, bạo lực học đường, quan điểm sống, văn hóa ứng xử,…v…v Cóthể nói, đây là dạng bài mà nhiều năm gần đây Bộ Giáo dục đã hướng đến đểhọc sinh tiếp cận Dấu hiệu nhận biết dạng bài này thường là một mẩu tin, một

sự việc mang tính thời sự, một sự kiện, một đề tài có tính khái quát…(Ví dụ:

Cây xanh với cuộc sống con người; Biển đảo Việt Nam trong suy nghĩ của em; Hiện tượng quay cóp trong thi cử; Học sinh và trò chơi điện tử v v…) Để làm

dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi thí sinh phải có vốn hiểu biết nhất định vềđời sống xã hội để vận dụng vào bài làm

Nghị luận về một hiện tượng, sự việc đời sống: Yêu cầu phải nêu rõ được sựviệc, hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi (hại) của nó; chỉ

ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết

5 Một số kĩ thuật làm bài văn, đoạn văn nghị luận xã hội theo hướng

mở.

Bước 1 tìm hiểu đề, tìm ý:

Đặc điểm của đề mở là không có những từ ngữ mang tính chỉ dẫn cụ thể, cóthể chỉ nêu đề tài, thậm chí chỉ là một mẩu tin, một câu thơ, đoạn văn, câuchuyện mà không nêu vấn đề cần nghị luận, hoặc có thể nêu vấn đề nghị luận

mà không có định hướng nội dung và thao tác nghị luận Vì vậy tìm hiểu đề làyêu cầu quan trọng số một

Đọc kĩ đề, tìm ra vấn đề cần nghị luận, xác định được kiểu bài nghị luận (về sự việc, hiện tượng đời sống hay về tư tưởng đạo lí) và “độ mở” của đề

(nội dung nghị luận, phạm vi và thao tác nghị luận)

Tìm những luận điểm phụ, luận cứ để làm rõ vấn đề (tìm ý): Để tìm được

ý cho một đề văn, cần biết đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời Việc đặt ra cáccâu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật đi lật lại

Trang 11

vấn đề để tìm hiểu, xem xét cho kỹ càng và thấu đáo hơn Một số câu hỏi thườngđặt ra là:

- Vấn đề (hiện tượng) ấy nghĩa là gì?

- Hiện tương (vấn đề ) ấy xảy ra ở những đâu, như thế nào? Tại sao có những hiện tượng, vấn đề ấy?

- Ảnh hưởng, tác động của hiện tượng (vấn đề) ấy đến cuộc sống của những người xung quanh, với xã hội như thế nào?

- Những suy nghĩ và hướng giải quyết về hiện tượng (vấn đề) đó? Làm thế nào

để phát huy (nếu là vấn đề tốt) và hạn chế (nếu là vấn đề chưa tốt, chưa đúng).

- Vấn đề đó đã tác động đến bản thân mình như thế nào? Đã hiểu ra điều gì, có ước muốn, quyết định gì?

Tuy nhiên, tùy thuộc vào kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng cuộcsống hay nghị luận về một tư tưởng đạo lí; tùy thuộc vào độ “mở” của đề để đặtcâu hỏi cho phù hợp

- Ở dạng đề cho đề tài nghị luận: phải tìm ra những từ ngữ then chốt, từ đó

xác định đối tượng vấn đề cần nghị luận, nội dung và phạm vi nghị luận

Ví dụ 1: Cây xanh với cuộc sống con người

Tìm hiểu và phân tích đề văn trên, qua từ ngữ then chốt, dễ dàng nhận ravấn đề trọng tâm cần làm sáng tỏ ở đây là: vai trò to lớn của cây xanh đối vớiđời sống con người Để tìm ý cho bài viết, có thể đặt ra các câu hỏi như:

- Cây xanh mang lại những lợi ích gì đối với con người?

- Cần phải có có tình cảm gvà hành động như thế nào đối với cây xanh v …v

Trong mỗi câu hỏi lớn trên, có thể đặt tiếp các câu hỏi nhỏ để triển khai các ýlớn Chẳng hạn: Để triển khai những lợi ích của rừng, có thể đặt tiếp các câu hỏi

nhỏ như: Cây xanh mang lại ích kinh tế như thế nào? Cây xanh có ý nghĩa về văn hóa, về môi trường và sức khỏe con người ra sao? …

Đề 2: Rừng và con người

Đề vẫn thuộc kiểu nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống, đối tượngnghị luận là “rừng”, nhưng vấn đề nghị luận là mối quan hệ giữa rừng và conngười, phạm vi nghị luận rộng hơn so với đề trước, do khác nhau ở từ “và”, nhưvậy độ “mở” của đề cũng rộng hơn Đề yêu cầu không chỉ làm sáng tỏ tác dụngcủa rừng trong đời sống con người mà còn phân tích rõ thực trạng rừng trong

Trang 12

đời sống hiện nay (rừng bị con người đối xử tệ bạc, chặt phá bừa bãi dẫn đến lũlụt tàn phá, biến đổi khí hậu…gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống củacon người); bày tỏ thái độ của bản thân về cách đối xử (đúng và chưa đúng) củacon người đối với rừng từ đó nêu phương hướng hành động bảo vệ rừng

Có thể hướng dẫn học sinh đặt các câu hỏi để tìm ý như sau:

- Rừng mang lại những lợi ích gì cho con người?

- Hiện nay, thực trạng rừng ra sao?

- Những nguyên nhân nào khiến rừng bị tàn phá?

- Những hậu quả to lớn do rừng bị tàn phá là gì?

- Cần phải làm gì để cứu lấy rừng?

- Suy nghĩ và có tình cảm gì trước cảnh rừng bị tàn phá ? ước mơ về tương lai của rừng như thế nào? v …v

Đề 3: Biển đảo Việt Nam trong suy nghĩ của em: Đề thuộc kiểu nghị luận về

sự việc hiện tượng đời sống, đối tượng nghị luận là “biển đảo” Độ “mở” của đềrộng, có thể phát huy những hiểu biết thực tế của học sinh về biển đảo, đồngthời học sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình về biển đảo theo nhiều hướngkhác nhau, chẳng hạn về vẻ đẹp của biển đảo, vai trò và tầm quan trọng của biểnđảo, về ý nghĩa thiêng liêng gắn với chủ quyền của Tổ Quốc, về cách ứng xử của

Việt Nam đối với vấn đề biển đảo…

Có thể đặt những câu hỏi để tìm ý như:

- Em có hiểu biết gì về biển đảo nước ta?

- Biển đảo có vai trò to lớn như thế nào đối với đất nước? (về giá tri kinh tế, về

ý nghĩa chủ quyền…?)

- Qua thời sự, em biết gì về vấn đề biển đảo của chúng ta hiện nay?

- Tình cảm, thái độ của em với biển đảo thế nào?

- Sẽ làm gì để thể hiện trách nhiệm và tình cảm với biển đảo của Tổ quốc?

- Ở dạng đề cho tài liệu: cần phải đọc kĩ tài liệu, tìm ra nội dung ý nghĩa của

câu (đoạn) thơ (văn) hoặc bài học gửi gắm kín đáo trong trong câu chuyện hoặc

sự việc để xác định vấn đề cần nghị luận Đặt các câu hỏi theo nội dung nghịluận để tìm ý

Ví dụ:

Ngày đăng: 21/01/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w