Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.Triết học chính trị xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa của hiện thời của nó.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ÁNH HỒNG MINH
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA JOHN STUART MILL
VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội – Năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ÁNH HỒNG MINH
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA JOHN STUART MILL
VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
Chuyên ngành: Triết học
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Nguyễn Vũ Hảo
Hà Nội – Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa hiện thời của nó” là công trính nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Vũ Hảo, có kế thừa một số kết quả liên quan đã được công bố Các tài liệu tham khảo và việc trìch dẫn các số liệu, tài liệu trong luận án là trung thực, đảm bảo tình khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận án của mính trước Hội đồng khoa học.
Tác giả luận án
Nguyễn Ánh Hồng Minh
Trang 4Tôi xin trân trọng cám ơn tất cả các nhà khoa học trong hội đồng đã đọc và cho ý kiến đóng góp một cách khách quan, xác đáng để tôi có thể hoàn thiện luận án của mính.
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đính và bạn bè đã luôn ở bên cạnh
hỗ trợ và ủng hộ tôi về mọi phương diện trong suốt quá trính thực hiện luận án.
Tôi xin trân trọng cám ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2021
Tác giả luận án
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của Luận án 6
6 Ý nghĩa của luận án 7
7 Kết cấu của Luận án 7
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Những công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề cho việc hình thành
triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill 9
1.2 Những công trình nghiên cứu về một số nội dung cơ bản trong triết học
chính trị - xã hội của John Stuart Mill 16
1.3 Những công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của triết học chính trị -
xã hội của John Stuart Mill 25
1.4 Khái quát kết quả của các công trình đã tổng quan và những vấn đề đặt ra trong luận án 36
CHƯƠNG 2 : NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO VIỆC HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA JOHN STUART MILL 38
2.1 Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội nước Anh thế kỷ XIX 39
2.2 Tiền đề tư tưởng 45
2.3 Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của John Stuart Mill 55
Tiểu kết chương 2 .62
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA JOHN STUART MILL 64
3.1 Quan niệm của John Stuart Mill về tự do 64
Trang 63.2 Quan niệm của John Stuart Mill về nguyên tắc công lợi, công bằng và
quyền bình đẳng của phụ nữ 81
3.3 Quan niệm của John Stuart Mill về hạn chế quyền lực nhà nước và hình
thức chính thể đại diện 101
Tiểu kết chương 3 120
CHƯƠNG 4 : Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ -XÃ HỘI JOHN STUART MILL 123
4.1 Một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học chính trị - xã hội của
John Stuart Mill 123
4.2 Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng tự do trong triết học chính trị - xã hội
John Stuart Mill 134
4.3 Ý nghĩa hiện thời của quan niệm về nguyên tắc công lợi, công bằng và
quyền bình đẳng của phụ nữ trong triết học chính trị - xã hội John Stuart
Mill 146
4.4 Ý nghĩa hiện thời của vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước và hình thức
chính thể đại diện trong triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill 157
Tiểu kết chương 4 .166
KẾT LUẬN 166
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 174
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ được Bộ Chình trị đề ra trong Nghị quyết số 34 ban hành ngày09/12/2014 về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 là “tiếp tục mở rộng và đi sâunghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ” [Xem: 137] đốivới những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới ngoài những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó phải kể đến lịch sử tư tưởng triết học nói chung cũngnhư tư tưởng triết học chình trị - xã hội nói riêng Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần và phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như Friedrich Engels (1820 –1895) đã nhận định: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thí không thể không có
tư duy lý luận” [53, tr.489] năng lực tư duy lý luận này “cần phải được phát triển hoàn thiện, vàmuốn hoàn thiện nó thí cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết họcthời trước” [53, tr.487] Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, hướng nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết họcđang được chú trọng và khuyến khìch Ngoài ra, từ trong văn kiện Báo cáo chình trị của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI cho đến nay, Đảng và Nhà nước taluôn khẳng định cần đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, dodân, ví dân hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Đây làcông việc không hề đơn giản, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu các quan niệm và học thuyết chình trị -
xã hội khác nhau trong lịch sử tư tưởng nhân loại để chắt lọc được tinh hoa tri thức và rút ra những bàihọc kinh nghiệm quan trọng cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Bên cạnh những yêu cầu đặt ra về công tác lý luận và nghiên cứu ở Việt Nam, một thực tế kháccho thấy trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốctế, chúng ta đã và đang phải đối mặt với nhiềuvấn đề mới và phức tạp thuộc mọi lĩnh vực kinh tế, chình trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, v.v Những vấn
đề cấp bách và quan trọng của thời cuộc như đảm bảo tự do và công bằng xã hội với tư cách là quyềncon người, đặc biệt là các quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tự do tôn giáo, tự do lập kế hoạch cuộcsống và tự do hội họp; mối quan hệ giữa lợi ích công và lợi ìch tư; vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước;bính đẳng giới; hình thức chình thể nào là lý tưởng cho nhân loại; v.v đều là những chủ đề quan trọngcủa triết học chình trị - xã hội hướng tới giải quyết những vấn đề cốt yếu của đời sống con người, đượccác nhà tư tưởng nghiên cứu, bàn luận nhiều và thu hút sự quan tâm của nhân loại trong mọi thời đại.Trong số đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill (1806 – 1873)
ví những lý do như sau:
Trước hết, John Stuart Mill là nhà triết học Anh có ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng phương
Tây thế kỷ XX và hiện nay Henry Sidgwick (1838 – 1900), nhà triết học theo thuyết công lợi đã nhậnxét rằng, trong khoảng thời gian 1860
Trang 88 – 1865, tư tưởng của John Stuart Mill đã lan tỏa và thống trị toàn nước Anh – điều mà rất ìt người cóthể làm được Bốn thập kỷ sau ngày mất của John Stuart Mill, cựu thủ tướng Anh Arthur Balfour (1848– 1930) đánh giá tầm ảnh hưởng của John Stuart Mill tại các trường đại học ở Anh có thể so sánh vớiHegel ở Đức và Aristotle thời cổ đại Nhà xã hội học người Đức, Leopold von Wiese (1876 – 1969)nhận định rằng trong lịch sử Âu Châu hiện đại, chỉ có một số ìt các học giả được nhiều ngành khoa họcxem trọng như trường hợp của Mill [Xem: 35, tr.3] Bằng chứng là các tác phẩm của John Stuart Mill
đã gây được tiếng vang trên toàn thế giới Năm 1859, tác phẩm Bàn về tự do lần đầu tiên xuất hiện đã
nhanh chóng giữ vị trì quan trọng trong lịch sử tư tưởng phương Tây giai đoạn hiện đại Năm 1868,
Bàn về tự do đã đánh dấu tầm ảnh hưởng của John Stuart Mill tại Nhật Bản khi con số phát hành lên
đến hàng triệu bản Tưtưởng về quyền tự do là một trong những đóng góp nổi bật nhất của ông đối với
lý thuyết tự do nói riêng và triết học chình trị - xã hội nói chung
Thứ hai, triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill có vai trò quan trọng trong lịch sử triết
học ví những tư tưởng của ông là cầu nối tư duy cổ điển và hiện đại, thể hiện nỗ lực giải quyết mâuthuẫn giữa chủ nghĩa tự do với tư cách là hệ tư tưởng của chế độ xã hội tư sản và chủ nghĩa tập thể với
tư cách là hệ tư tưởng của chế độ xã hội cộng sản Cụ thể hơn, những quan điểm của ông về các vấn đềchình trị - xã hội phản ánh mối quan hệ giữa tư và công, giữa cá nhân và tập thể, giữa tự do và côngbằng, chình thể lý tưởng nào sẽ thìch hợp để quản lý và điều tiết các hoạt động xã hội Đây là nhữngvấn đề cấp bách mà cho đến nay khoa học xã hội và nhân văn nói chung cũng như triết học chình trị -
xã hội nói riêng chưa giải quyết được thỏa đáng về mặt lý luận Chình ví vậy, việc nghiên cứu triết họcchình trị - xã hội của John Stuart Mill sẽ góp phần gợi mở ra hướng giải quyết những bài toán chình trị
- xã hội mà Việt Nam đang phải đối mặt, chẳng hạn như nguyên tắc tự do tư tưởng và thảo luận trongvăn hóa tranh luận trên mạng xã hội, mạng internet và cuộc sống; vấn đề công bằng xã hội, đặc biệt làcông bằng trong phân phối; vấn đề hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước; v.v…
Ngày nay, tư tưởng triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill trong tác phẩm Bàn về tự do,
Chính thể đại diện, Thuyết công lợi, Sự áp bức phụ nữ… vẫn còn nhiều giá trị đối với các vấn đề của
thời đại, được nghiên cứu, phân tìch, và tranh luận nhiều Điều này được thể hiện rõ qua số lượng cácbài viết và sách được phát hành những năm gần đây Ngoài ra, tại các trường đại học danh tiếng trên thếgiới như Cambridge, Harvard, Yale…, các bài giảng về tư tưởng của John Stuart Mill rất được chútrọng Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, những nghiên cứu về tư tưởng của John Stuart Mill nói chung
và triết học chình trị - xã hội của ông nói riêng còn chưa nhiều Nguyên nhân chủ yếu là do phần lớncáctác phẩm của John Stuart Mill chưa được dịch và xuất bản tại Việt Nam, do đó, việc tiếp cận tưtưởng triết học chình trị - xã hội của ông gặp phải nhiều trở ngại Như vậy, việc nghiên cứu tư tưởngtriết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill góp phần kế thừa giá trị tư tưởng của nhân loại, bổsung tri thức và hoàn thiện tư duy lý luận Là triết gia của thời đại cải cách với nhiều tư tưởng có ýnghĩa với thời đại ngay này, tư tưởng triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill sẽ gợi mở
Trang 9cho chúng ta những bài học quý báu khi phải đối mặt và giải quyết các vấn đế bức thiết của xã hộihiện đại, đặc biệt là về tự do, công
bằng, bính đẳng
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill
và ý nghĩa của hiện thời của nó” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đìch nghiên cứu của luận án là phân tìch và đánh giá một cách có hệ thống những nội dung
cơ bản của triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, từ đó làm rõ ý nghĩa hiện thời của nó
Để thực hiện mục đìch như trên, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ như sau:
- Phân tìch tổng quan các công trính nghiên cứu có liên quan đến đề tài triết học chình trị - xãhội của John Stuart Mill;
- Phân tìch các điều kiện và tiền đề cho sự hình thành triết học chình trị - xã hội của John StuartMill;
- Phân tích nội dung cơ bản trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, cụ thể là quanniệm về tự do, về nguyên tắc công lợi, mối quan hệ giữa công bằng với công lợi, về quyền bính đẳngcủa phụ nữ, về vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước và hính thức chình thể đại diện
- Đưa ra đánh giá về ý nghĩa hiện thời liên quan đến vấn đề tự do, quanniệm về nguyêntắc công lợi, công bằng và quyền bính đẳng của phụ nữ, quan niệm về hạn chế quyền lực nhànước và một số nội dung cơ bản về chình thể, chình thể đại diện
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩahiện thời của nó
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Triết học chình trị là lĩnh vực nghiên cứu các chủ đề về chình trị,
tự do, công bằng, tài sản, quyền, luật pháp và việc thực thi luật pháp của các cơ quan có thẩm quyền,v.v Triết học xã hội là nghiên cứu đời sống xã hội ở phương diện triết học, bao gồm các chuẩn mực xãhội, các vấn đề về hành vi xã hội và diễn giải về xã hội cũng như các thiết chế xã hội Trên cơ sở này,triết học chình trị - xã hội bàn về các vấn đề của cả hai lĩnh vực Trong luận án này, chúng tôi chỉ tậptrung trính bày quan niệm về tự do, về nguyên tắc công lợi, công bằng, quyền bính đẳng của phụ nữ, vềvấn đề hạn chế quyền lực nhà nước và hính thức chình thể đại diện trong triết học chình trị - xã hội của
John Stuart Mill qua các tác phẩm nổi tiếng của ông như Bàn về tự do, Chính thể đại diện, Thuyết công
lợi, Sự áp bức phụ nữ và ý nghĩa hiện thời của những tư tưởng này.
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill là một vấn đề cơ bản của lịch sử triết học Do
đó, luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của triết học, đặc biệt là phương
Trang 10pháp luận của triết học Mác – Lênin đóng vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, với việc phân tìch ý nghĩa hiệnthời trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill đối với tính hính Việt Nam, luận án bám sáttheo quan điểm, đường lối, chình sách và nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp, kỹ thuật
nghiên cứu cụ thể, như phân tìch và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, logic – lịch sử, hệ thống hóa,phương pháp văn bản học, phương pháp mác xìt nghiên cứu lịch sử triết học
5.Đóng góp mới của Luận án
Luận án đã tổng hợp nhiều công trính nước ngoài nghiên cứu về tư tưởng của John Stuart Mill.Luận án phân tìch một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong triết học chình trị - xã hộicủa John Stuart Mill và đánh giá ý nghĩa hiện thời của nó Logic trính bày của luận án là đi từ cơ sở lýluận của nguyên tắc tự do và nguyên tắc công lợi của John Stuart Mill để nghiên cứu các nội dung triếthọc chình trị - xã hội của ông, trong đó tự do và công bằng là những giá trị chuẩn mực quan trọng nhấtcủa nhân loại Từ đó, luận án xem xét các loại hính tự do, vấn đề công bằng xã hội như đảm bảo côngbằng phân phối và quyền bính đẳng của phụ nữ đều là biểu hiện cụ thể cho việc đảm bảo tự do và côngbằng Hai vấn đề tưởng chừng như khác biệt nhau nhưng lại liên hệ chặt chẽ với nhau khi cùng giảiquyết các vấn đề xã hội, tự do liên quan đến triết học chình trị, còn công bằng là vấn đề mà cả triết họcchình trị và triết học xã hội đều quan tâm Cuối cùng, luận án phân tìch vấn đề hạn chế quyền lực nhànước và hính thức chình thể đại diện trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, về thực chấtphân tích cách thức thực hiện dân chủ, đảm bảo tự do và công bằng trong xã hội Có thể nói, các vấn đềchình trị - xã hội trong tư tưởng của John Stuart Mill có sự đan xen, móc nối với nhau chứ không độclập và riêng biệt Qua đó, chúng ta nhín thấy logic của bộ ba vấn đề tự do – công bằng – dân chủ trongtriết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill
Luận án phân tìch làm rõ ý nghĩa hiện thời của các nội dung trong tư tưởng triết học chình trị
-xã hội của John Stuart Mill đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay, cụ thể là ở ba phương diện chính: thứ
nhất, ý nghĩa hiện thời của quanniệm về tự do, đặc biệt là tự do tư tưởng và tự do thảo luận; thứ hai, ý
nghĩa hiện thời của quan niệm về nguyên tắc công lợi, đảm bảo công bằng phân phối và quyền bính
đẳng của phụ nữ; thứ ba, ý nghĩa hiện thời của quan niệm hạn chế quyền lực nhà nước và hính thức
chình thể đại diện, cùng một số gợi mở cho việc thực hành dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
6.Ý nghĩa của luận án
Về mặt lý luận, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng triết học chình trị - xã hội của
John Stuart Mill Đây là hướng nghiên cứu cơ bản các vấn đề của lịch sử triết học dựa trên các tácphẩm tiêu biểu của ông; từ đó góp phần bổ sung và làm phong phú lý luận về triết học chình trị - xã hộinói chung, vấn đề tự do, công bằng, quyền bính đẳng cho phụ nữ, hạn chế quyền lực nhà nước và hínhthức chình thể đại diện nói riêng, cũng như chỉ ra ý nghĩa hiện thời của những tư tưởng này đối với xã
Trang 11hội Việt Nam hiện nay
Về mặt thực tiễn, luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên sau
đại học, những nhà nghiên cứu hoặc những độc giả quan tâm đến triết học phương Tây, triết học chìnhtrị - xã hội nói chung và tư tưởng của John Stuart Mill nói riêng
7.Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm có 4chương, 14 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
Khi nhắc đến triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, chúng tôi muốn nói đến những nộidung nghiên cứu của ông về quyền tự do, thực thi và hạn chế quyền lực nhà nước, đạo đức công lợi,công bằng xã hội, cải cách xã hội, nữ quyền, v.v Tuy nhiên, trong luận án này, chúng tôi chỉ tập trung
nghiên cứu ba vấn đề trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill: một là, nguyên tắc tự do và các quyền tự do; hai là, nguyên tắc công lợi, mối quan hệ giữa công lợi với công bằng và vấn đề quyền bính đẳng của phụ nữ; ba là, vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước và hính thức chình thể đại diện.
Những nội dung này tập trung chủ yếu trong các tác phẩm chình của John Stuart Mill bao gồm:
Bàn về tự do (1859), Chính thể đại diện (1861), Thuyết công lợi (1863), Sự áp bức phụ nữ (1878) Các
tác phẩm này của ông đã được xuất bản ở nhiều quốc gia, đặc biệt là cuốn sách Bàn về tự do Hiện nay,
ở Việt Nam đã có tác phẩm Bàn về tự do được dịch bởi Nguyễn Văn Trọng và xuất bản lần đầu vào
năm 2005 Đến năm 2007, dịch giả này tiếp tục giới thiệu tới độc giả trong nước bản dịch tác phẩm
Chính thể đại diện của John Stuart Mill với sự hiệu đình của Bùi Văn Nam Sơn Năm 2019, tác phẩm
tiếp theo của John Stuart Mill được xuất bản tại Việt Nam chình là Thuyết công lợi Như vậy, tại thời
điểm nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án, một số tác phẩm quan trọng của John Stuart Mill được thamkhảo chình trong luận án đã được dịch và xuất bản Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về tưtưởng của John Stuart Mill chưa có nhiều ở Việt Nam
Một số những công trính nghiên cứu trong và ngoài nước tiêu biểu về triết học chình trị - xã hộicủa John Stuart Mill có thể được phân loại như sau: Nhữngcông trính nghiên cứu về điều kiện và tiền
đề cho việc hính thành triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill; những công trính nghiên cứu vềmột số nội dung cơ bản trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill và những công trính nghiên cứu
về ý nghĩa hiện thời của triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill
1.1. Những công trình nghiên cứu về điều kiện và tiền đề cho việc hình thành triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill
Tài liệu nghiên cứu trong nước
Hiện nay, chúng ta chưa có nhiều công trính trong nước nghiên cứu trực tiếp về điều kiện vàtiền đề cho việc hính thành triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, chủ yếu vẫn là giới thiệu vềcuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của ông Tuy nhiên, trong số các tài liệu nghiên cứu gián tiếp về nhữngđiều kiện, tiền đề tư tưởng triết học giai đoạn thế kỷ XIX ở châu Âu nói chung và nước Anh nói riêng,
có thể kể đến một số công trính tiêu biểu như sau:
Trong cuốn sách Đại cương lịch sử triết học phương Tây (2006), các tác giả Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn đã phân tìch các vấn đề có tình nhập môn triết học, từ nền tảng đó
Trang 13Cuốn sách Diện mạo Triết học phương Tây hiện đại (2006) của tác giả Đỗ Minh Hợp đã trính
bày và phân tìch bối cảnh tinh thần phương Tây thời hiện đại qua những tiến bộ khoa học - kỹ thuật,sức mạnh của Nhà nước và vị thế của con người đại chúng Từ đó, tác giả có những đánh giá và nhậnxét đối với tinh thầnlạc quan của thời đại khi khẳng định “thời đại chúng ta tốt hơn mọi thời đại quákhứ nhưng đứng thấp hơn khả năng của mính” [36, tr.33] và cảnh báo những nguy cơ mà xã hộiphương Tây hiện đại sẽ phải đối mặt, như vấn đề chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến, tâm trạng chủ nghĩa thếgiới của đại chúng, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa cực quyền tôn giáo Trong bối cảnh tinh thần phươngTây hiện đại như vậy, tác giả Đỗ Minh Hợp phân tìch những vấn đề nổi bật làm nên diện mạo triết họcphương Tây hiện đại, đó là triết học ngôn ngữ, chú giải học và hiện tượng học; khoa học hậu cổ điển;triết học xã hội, triết học lịch sử; nhân học phổ quát; văn hóa học phổ quát; toàn cầu học phổ quát
Những nhận định của tác giả Đỗ Minh Hợp trong cuốn sách này về diện mạo triết học phươngTây hiện đại là nguồn tài liệu tham khảo hữu ìch cho những phân tìch ý nghĩa thời đại của tư tưởng triếthọc chình trị - xã hội John Stuart Mill với tư cách là một học thuyết trong dòng chảy lịch sử tư tưởngphương Tây Đặc biệt, nhận định của tác giả Đỗ Minh Hợp về truyền thống văn hóa nhân văn với tưcách tiền đề nghiên cứu triết học và các khoa học nhân văn là rất đáng lưu ý Một trong số đó là kếtluận về “Mối liên hệ mật thiết của tri thức nhân văn với toàn bộ truyền thống văn hóa - nghệ thuật, vănhọc, đạo đức, pháp luật, các quan điểm thẩm mỹ học, v.v,…là đặc điểm đặc trưng cho sự phát triển của
các khoa học nhân văn, kể cả ở thời hiện đại” [36, tr.369] Đây là đặc trưng rõ nét có thể thấy trong hệ
thống triết học của John Stuart Mill và ảnh hưởng của nó trong giai đoạn hiện đại thể hiện phong phútrên rất nhiều lĩnh vực
Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
Tài liệu sách về điều kiện và tiền đề ở Anh giai đoạn thế kỷ XIX nói riêng và châu Âu nóichung có liên quan đến việc hính thành triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill rất đa dạng vàphong phú Tuy nhiên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các công trính tiêu biểu như sau:
Cuốn sách A History of Western Political thought (Lịch sử tư tưởng chình trị phương Tây)
(1996) là một công trính đồ sộ của J.S.McClelland trình bày một số nội dung tư tưởng chình trị của cáctác gia phương Tây tiểu biểu từ giai đoạn Hy Lạp-La Mã cổ đại đến cận hiện đại; chẳng hạn nhưSocrates, Plato và Aristotle, Thánh Augustine và Thánh Thomas Aquinas; lý thuyết về khế ước xã hộicủa Hobbes, Locke và Rousseau; tư tưởng nhà nước hiện đại thời đại khai sáng với các đại biểu là
Trang 14Montesquieu, các nhà Khai sáng Mỹ như Jefferson, Crevecoeur, Hamilton, Jay, Madison, Paine… Đặcbiệt, tác giả đã trính bày và phân tìch sự trỗi dậy của chủ nghĩa tự do qua tư tưởng của Bentham và JohnStuart Mill, tiếp theo đó là Spencer, Sumner và Green Bên cạnh đó, J.S.McClelland còn nhấn mạnhnhững quan điểm phản bác đối với chủ nghĩa tự do của Hegel, chủ nghĩa xã hội và thuyết phi lý tình(irrationalism) J.S.Mc Clelland nhận định rằng, trong bối cảnh khủng hoảng quyền lực bắt đầu từ cuộccách mạng Pháp và trở thành vấn đề cấp bách cần phải được quan tâm sau cuộc cách mạng năm 1848,John Stuart Mill bày tỏ sự nghi ngại về nên dân chủ Thông qua những tư tưởng của Tocqueville trong
tác phẩm Nền dân trị Mỹ, John Stuart Mill thấy được mâu thuẫn trong xã hội Anh giữa mong muốn tự
do chình trị và khát khao ngày càng cao về nền chuyên chế xã hội Những luận điểm này đã được John
Stuart Mill trính bày trong tác phẩm nổi tiếng Bàn về tự do.
Theo tác giả cuốn sách, tư tưởng chình trị của John Stuart Mill được xây dựng trên nền tảng đạođức công lợi Trong giai đoạn đầu, John Stuart Mill kế thừa và giữ gín tình chình thống trong họcthuyết công lợi của Bentham và James Mill Tuy nhiên, bằng việc cho rằng có lúc số đông không phải
là những thẩm phán tốt nhất cho hạnh phúc của chình mính, John Stuart Mill đã đưa thuyết công lợi củamính đi theo một hướng khác biệt với phạm vi vốn có của chủ nghĩa công lợi và đặt ra vấn đề ranh giớigiữa chủ quyền cá nhân và chủ quyền của nhà nước và xã hội Tác giả cuốn sách nhận định, JohnStuart Millkhông khuyến khìch nhà nước can thiệp thái quá vào các vấn đề của cá nhân và Mill chorằng quá nhiều sự can thiệp ý chì của nhà nước về lâu dài sẽ làm giảm hạnh phúc của con người JohnStuart Mill đặc biệt nhấn mạnh việc để con người tự phát triển một cách tìch cực J.C.Mc Clelland cũng
dẫn những luận điểm của John Stuart Mill trong tác phẩm Chính thể đại diện về vai trò của nhà nước
trong việc khuyến khìch công dân tu dưỡng tinh thần Đối với John Stuart Mill, dân chủ không phải làquyền lực của số đông, không chỉ là về bầu người lãnh đạo, mà ông cho rằng nền chình trị dân chủ tự
nó mang đến tác động giáo dục đối với các cử tri và người dân cần thể hiện sự quan tâm riêng của mínhđến các vấn đề chình trị Những ý tưởng từ phìa người dân chình là nguồn nặng lượng cho hoạt độngcủa chình phủ
Nhìn chung, J.C.Mc Clelland đã phân tìch được một số luận điểm của John Stuart Mill về quyềnlực của cá nhân trong việc tối đa hóa lợi ìch và lựa chọn điều tốt đẹp nhất cho bản thân, cũng như chorằng cần xác định phạm vi quyền lực của nhà nước và nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc đảmbảo cho các cá nhân tự phát triển Có thể nói, tác giả cuốn sách tập trung vào vai trò chình trị của nhànước và có đưa ra những tư tưởng của các học giả tiếp sau John Stuart Mill Điều này giúp cho chúng
ta có một cái nhín xuyên suốt về vị trì, đóng góp và những điều còn tồn tại trong tư tưởng John StuartMill về vai trò chình trị của nhà nước khi đặt tư tưởng của ông trong lịch sử tư tưởng chình trị phươngTây Nghiên cứu sinh tiếp thu những đóng góp của công trính nghiên cứu này, đặc biệt là những phântìch và đánh giá của tác giả cuốn sách đối với quan điểm của John Stuart Mill về phạm vi quyền lực nhànước và sẽ phân tìch sâu hơn trong luận án của mính Ngoài ra, những vấn đề khác như vai trò xã hội
Trang 15của nhà nước, quan điểm mang tình quyết định luận của John Stuart Mill về khả năng tự do lựa chọncủa cá nhân và cộng đồng, mối quan hệ giữa quyền lực của cá nhân và quyền lực của nhà nước,…màcuốn sách chưa đề cập đến sẽ đượcnghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu trong luận án của mính
Bộ sách của Oxford về Lịch sử Đế chế Anh quốc (The Oxford History of the British Empire)
gồm 5 tập, trong đó, tập III về Thế kỷ XIX xuất bản năm 1999 do Andrew Porter biên soạn đã tổng hợp
các bài viết của nhiều tác giả khác nhau về tính hính kinh tế, chình trị, văn hóa, di dân, các sự kiện củanước Anh trong kỷ nguyên đế chế thực dân – đây cũng chình là giai đoạn mà John Stuart Mill sinhsống Tập III được chia thành hai phần Phần thứ nhất tập trung vào bối cảnh kinh tế, chình sách,thương mại, thể chế và nhà nước, các vấn đề xã hội, văn hóa, cuộc cách mạng khoa học và thay đổi kỹthuật Phần thứ hai tập trung vào các sự kiện liên quan đến vấn đề xâm lược của thực dân Anh, mốiquan hệ của đế chế Anh với các nước thuộc địa và một số quốc gia khác Nhín chung, bộ sách về lịch
sử nước Anh của Oxford là công trính tổng hợp công phu, nhiều thông tin để có cái nhín cụ thể vềnước Anh giai đoạn thế kỷ XIX Tuy nhiên, từng tập tổng hợp của bài viết của nhiều tác giả khác nhaunên chỉ có thể nhóm theo chủ đề, chưa có một mạch xuyên suốt Bộ sách là nguồn tài liệu tham khảohữu ìch để phân tìch về tính hính kinh tế, chình trị, văn hóa, xã hội của nước Anh thế kỷ XIX
Cuốn sách Lịch sử nước Anh giai đoạn 1815 – 1914 (British History 1815
– 1914) (2007) của hai tác giả Norman McCord và Bill Purdue nằm trong Bộ sách của Oxford về Lịch
sử ngắn của Thế giới Hiện đại (do J.M Roberts làm tổng biên tập) đã trính bày các sự kiện lịch sử liên
quan đến tiến trính chình trị, các vấn đề về nhà nước và hành chình, kinh tế và xã hội qua bốn giai đoạn
là 1815 – 1830, 1830 – 1850, 1850 – 1880 và 1880 – 1914 Với hơn 600 trang
sách, đây là công trính nghiên cứu lịch sử chi tiết và cụ thể về nước Anh thế kỷ
XIX Mỗi giai đoạn lại có những sự kiện và vấn đề nổi bật riêng Điểm nổi bật của cuốn sách là bàn vềlịch sử nước Anh từ năm 1815 – 1914 nhưng chia nhỏ thành 4 phần theo 4 giai đoạn khác nhau giúpcho người đọc có thể theo dõi tiếntrính, có sự so sánh và phân tìch những chuyển biến của nước Anhtrong một giai đoạn nhiều biến động Đây là nguồn thông tin lịch sử tham khảo hữu ìch cho việc nhínnhận, đánh giá tính hính kinh tế, chình trị và xã hội của Anh giai đoạn thế kỷ XIX mà John Stuart Millsinh sống
Cuốn sách Đọc về triết học chính trị: một số tác giả từ Machiavelli đến Mill (Reading Political
philosophy: Machiavelli to Mill – 2001) được nhà xuất bản Routledge phối hợp với Đại học Mở (TheOpen University) của Anh phát hành Đây có thể được coi là một cuốn giáo trính hướng dẫn nghiên cứu
về triết học chình trị qua các tác phẩm kinh điển của một số nhà tư tưởng nổi tiếng, cụ thể là Quân
vương của Niccolò Machiavelli; Leviathan của Thomas Hobbes; Khảo luận thứ hai về chính quyền của
John Locke; Bàn về khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau; Hệ tư tưởng Đức của Karl Marx; Bàn
về tự do và Sự áp bức phụ nữ của John Stuart Mill Bên cạnh đó, cuốn sách còn tập hợp các công trính
Trang 16của các nhà tư tưởng và các nhà nghiên cứu hiện đại về các tác giả, tác phẩm trên Có thể nói, cuốnsách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của triết học chình trị có đan xen với những vấn đề thuộc triếthọc xã hội, như bản chất của con người trong xã hội, vai trò của nhà nước, vấn đề quyền lực chình trị,
tự do và công bằng, ý chì chung và lợi ìch công, kinh tế thị trường, bính đẳng giới… Những nội dungnày trong tư tưởng của các triết gia được trính bày mang tình chất đặt vấn đề và hướng dẫn đọc sách,thảo luận Đối với các công trính nghiên cứu của các học giả hiện đại về triết học chình trị - xã hội của
John Stuart Mill qua hai tác phẩm Bàn về tự do và Sự áp bức phụ nữ, nội dung chình tập trung vào các
vấn đề về tự do, chủ nghĩa gia trưởng và bính đẳng giới Qua cuốn sách này, nghiên cứu sinh có đượcmột góc nhín cụ thể và nghiên cứu sâu hơn về giai đoạn phát triển của triết học chình trị phương Tâyqua một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu, từ Machiavelli đến Mill Tuy nhiên, cuốn sách này là một giáotrính có mục tiêu hướng dẫn bước đầu tím hiểu triết học chình trị thông quaviệc đọc cách tác phẩmkinh điển chứ chưa phân tìch cụ thể các vấn đề triết học chính trị - xã hội trong tư tưởng của John StuartMill cũng như những tiền đề tư tưởng của ông
Cuốn sách Những gương mặt triết học: Những suy ngẫm từ Plato đến Arendt (<The> many faces
of philosophy: Reflections from Plato to Arendt) (2003) do Amelie Oksenberg Rorty biên tập đã dựa trênlịch sử triết học để tuyển chọn ra những quan điểm, suy ngẫm, niềm tin và hy vọng của 44 gương mặttriết gia từ Plato đến Hannah Arendt (tiêu biểu là Augustine, Maimonides, AlGhazali, Descartes, Pascal,Leibniz, Voltaire, Rousseau, Hobbes, Hume, Kant, Nietzsche, Kierkegaard,Wittgenstein) và trong đó cóJeremy Bentham Đối với chủ biên cuốn sách, trong phần giới thiệu, Amelie Rorty đã tím ra các suyngẫm, phản tư (reflections) của các triết gia trong bối cảnh rộng lớn hơn trong các hoạt động ngoài triếthọc của họ
Trong lời giới thiệu cho cuốn sách Chủ nghĩa tự do truyền thống (2013) của Lugwid Von
Mises, Bettina Bien Greaves – làm việc tại Quỹ Giáo dục Kinh tế - đã đưa ra quan niệm của Thượngnghị sĩ Mĩ, Joseph S Clark con về một người tự do “là người tin vào việc sử dụng mọi lực lượng củachình phủ nhằm thúc đẩy sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế, chình trị và xã hội trên bính diện địaphương, bang, quốc gia và quốc tế…” [56, tr.12] Trong khi đó, Lugwid Von Mises cho rằng tất cả mọithứ đều là kết quả của hành động cá nhân dựa trên những giá trị, quan điểm mang tình chất chủ quancủa mỗi người Từ đó, Mises khẳng định, “xã hội cùng nền kinh tế thị trường là con đường duy nhấtđưa sự hài hòa và hòa bính cả trong nước lẫn trên trường quốc tế” [56, tr.17] và nhà nước có vai trò tuyhạn chế nhưng quan trọng trong việc đảm bảo sự hợp tác của xã hội Xuất phát từ lập trường đề cao tự
do cá nhân và coi việc chủ nghĩa toàn trị đang chiếm ưu thế trong xã hội hiện đại là một nguy cơ lớn,
Mises đã viết tác phẩm Chủ nghĩa tự do truyền thống nhằm tóm tắt tư tưởng và nguyên tắc củachủ
nghĩa tự do thế kỷ XIX với những nội dung căn bản trong phần dẫn nhập, cùng với đó là các nội dungchi tiết như: Nền tảng của chình sách tự do; Chình sách kinh tế tự do; Chình sách đối ngoại của chủnghĩa tự do; Chủ nghĩa tự do và các chình Đảng; Tương lai của chủ nghĩa tự do Thông qua cuốn sách
Trang 17Bên cạnh đó, trên các trang website điện tử như Encyclopedia Britannica (Bách khoa thư Britannica), Standford Encyclopedia of Philosophy (Bách khoa thư Standford về Triết học) hoặc cuối cuốn sách Bàn về tự do do Nhà xuất bản Tri thức phát hành tại Việt Nam, chúng ta đều có thể dễ dàng
tím kiếm được tiểu sử tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của John Stuart Mill Tuy nhiên, các tài liệu nàychủ yếu trính bày khái quát những mốc quan trọng trong cuộc đời và những nét chình trong tư tưởngcủa ông Tùy thuộc vào mối quan tâm của người viết mà từng tài liệu có sự nhấn mạnh khác nhau vào
các sự kiện chình trong cuộc đời của John Stuart Mill, chẳng hạn như trang Standford Encyclopedia of
Philosophy tập trung vào chi tiết về việc John Stuart Mill đã gặp gỡ, yêu và ngưỡng mộ Harriet Taylor
như thế nào, tuy nhiên lại không làm rõ điều đó có ý nghĩa gí đối với tư tưởng của ông Trong khi đó,
trang Encyclopedia Britannica chỉ trính bày những nét chình trong cuộc đời của John Stuart Mill và rất
chú ý đến các tác phẩm của John Stuart Mill, liệt kê chi tiết các giai đoạn ông đã đọc gí, gặp ai và quantâm đến những chủ đề nào
1.2.Những công trình nghiên cứu về một số nội dung cơ bản trong triết
học chính trị - xã hội của John Stuart Mill
Tài liệu nghiên cứu trong nước
Đối với tài liệu là sách, một số công trính nghiên cứu tiêu biểu về các nội dung cơ bản trongtriết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill có thể kể đến như sau:
Bộ sách Lịch sử triết học phương Tây gồm 3 tập của tác giả Đỗ Minh Hợp xuất bản năm 2014 là
một công trính công phu về tư tưởng triết học phương Tây với 3 giai đoạn chình là giai đoạn cổ đại,trung cổ và phục hưng (tập 1), giai đoạn cận hiện đại (tập 2) và giai đoạn hiện đại (tập 3) Đặc biệt,trong tập 3, tác giả trính bày khái quát về cuộc đời và tư tưởng của John Stuart Mill với tư cách là đạidiện của chủ nghĩa thực chứng Tác giả đã bàn tới lý thuyết quy nạp, học thuyết về tình nhân quả, tự do
và mối quan hệ với nguyên tắc công lợi, trong đó rất chú trọng tới vấn đề bảo vệ tự do ngôn luận và vănhóa giáo dục dân chủ [Dẫn theo tài liệu 41, tr.231] Từ đó, tác giả khẳng định “mặt mạnh trong quanđiểm của Mill là liên hệ nội tại giữa lôgìch học, đạo đức học, triết học xã hội và đường lối tự do trongchình trị” [41, tr.232] Có thể nói, bộ sách nói chung và tập 3 nói riêng là một tài liệu tham khảo quantrọng để có bức tranh toàn diện về triết học phương Tây thế kỷ XIX cũng như triết học thực chứng củaJohn Stuart Mill
Bàn về nội dung cơ bản trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, chúng ta có thể kể
Trang 18đến một số luận văn, luận án tiêu biểu đã bảo vệ thành công ở Việt Nam hiện nay như sau:
Trong luận văn thạc sĩ triết học với đề tài Quan điểm về tự do trong Bàn về tự do của John
Stuart Mill (2008), Nguyễn Hải Hoàng đã tập trung nghiên cứu quan điểm của John Stuart Mill về tự
do Tác giả đã đưa ra được quan điểm của John Stuart Mill nhấn mạnh tự do với tư cách là quyền côngdân, luận giải các cấp độ của tự do, đồng thời trính bày được các tư tưởng của Mill về tự do tưtưởng, tự
do thảo luận và tự do tôn giáo; tự do về sở thìch và tự do lập kế hoạch cho cuộc sống; tự do hội họp
trong tác phẩm Bàn về tự do, đồng thời Nguyễn Hải Hoàng đã đưa ra một số nhận xét về giá trị và hạn
chế trong quan điểm của John Stuart Mill về tự do Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc trính bày
và phân tìch quan niệm của John Stuart Mill về tự do và các quyền tự do trong tác phẩm Bàn về tự do.
Điều này được trính bày rõ trong mục đìch nghiên cứu của Nguyễn Hải Hoàng và tác giả này chưaphân tìch một cách có hệ thống nguyên tắc tự do của John Stuart Mill Ngoài ra, John Stuart Mill còn
có một tư tưởng quan trọng mang tình cốt lõi của triết học chình trị - xã hội đó là vấn đề phạm vi quyềnlực của nhà nước và giới hạn quyền uy của xã hội đối với các cá nhân Đây là những vấn đề mà nghiêncứu sinh sẽ đưa vào nghiên cứu và phân tích trong luận án của mính
Trong luận văn thạc sĩ triết học với đề tài Quan niệm về chính thể của John Stuart Mill trong
Chính thể đại diện (2012), Nguyễn Thị Thùy Linh đã trính bày một số nội dung cơ bản trong quan niệm
của John Stuart Mill về chình thể như hính thức chình thể, những đặc trưng của hính thức chình thểmang tình đại diện với vấn đề bầu cử, nền dân chủ đại diện, nền hành pháp, nghị viện và các cơ quanđại diện địa phương, đồng thời đưa ra những đánh giá về giá trị và hạn chế trong quan niệm của JohnStuart Mill về chình thể trong tác phẩm Chình thể đại diện Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh tập trungvào các chức năng chính trị của chình thể đại diện với tư cách một mô hính nhà nước lý tưởng trong tácphẩm của John Stuart Mill
Bên cạnh đó, một số bài viết, bài báo đăng trên các tạp chì uy tìn hoặc kỷ yếu có liên quan trựctiếp đến nội dung tư tưởng triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill có thể kể đến như sau:
Trong bài viết “Đọc lại Bàn về tự do của John Stuart Mill” (2006) trìch từ
Kỷ yếu Trong ngần bóng gương, Bùi Văn Nam Sơn đã giới thiệu khái quát vềtầm vóc của John Stuart
Mill và một số nội dung chình trong tác phẩm Bàn về tự do như tình công lợi, tự do với tư cách là quyền
con người, mối quan hệ giữa nguyên tắc tự do và nguyên tắc công lợi, từ đó tác giả đi tới bàn luận một
số vấn đề mang tình xã hội và thời đại như giáo dục, dân chủ, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa đế quốc…vớinội dung ngắn gọn, súc tìch trong khuôn khổ của một bài viết Tác giả chỉ trính bày khái quát những tưtưởng nổi bật của John Stuart Mill trong tác phẩm chứ không đi sâu vào đánh giá chi tiết Điểm độc đáonhất trong bài viết là tác giả trính bày hai lý do John Stuart Mill đưa ra để biện minh cho tình hữu ìchcủa sự tự do lựa chọn lối sống riêng đối với hạnh phúc tập thể, đó là: Cá nhân có thể sai lầm trong lựachọn của mính, nhưng theo Mill, xác suất ấy nhỏ hơn so với xã hội, và tự do lựa chọn ấy có lợi cho sựtiến bộ xã hội khi mà mọi người đều có cơ hội thử nghiệm và trải nghiệm cuộc sống theo cách của mính
Trang 19Tác giả Bùi Văn Nam Sơn trính bày rõ rằng do khuôn khổ bài viết nên không thể đi sâu bàn luận về mốiquan hệ giữa “nguyên tắc tự do” và “nguyên tắc công lợi”
Trong bài báo “Chủ nghĩa vị lợi nhín từ góc độ đạo đức học” (2010) đăng trên tạp chì Khoa học
ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn số 26, hai tác giả Đỗ Minh Hợp và Trần Thanh Giang đã bàn
về góc độ đạo đức của chủ nghĩa công lợi qua hai triết gia chình là J Bentham và John Stuart Mill Cáctác giả bài báo này đã đưa ra ý kiến phản đối chủ nghĩa công lợi gay gắt của J Moore và đánh giá đó làmột ý kiến phản đối có nhiều điểm xác đáng nhưng có phần phiến diện Từ đó, các tác giả này chỉ ra sựcần thiết phải đánh giá đúng chủ nghĩa công lợi cả về hạn chế lẫn ưu điểm của nó
Trong bài viết “John Stuart Mill với phong trào đòi bính quyền cho phụ nữ” đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Gia đình và Giới năm 2012, tác giả Ngô Thị Như trính bày những nội dung chình trong tư
tưởng của John Stuart Mill về bính quyền cho phụ nữ cụ thể như sau: Thứ nhất, về vai trò và vị trì của
nữ giới trongxã hội, tác giả chỉ ra rằng trong thời đại Victoria, phụ nữ bị lệ thuộc vào nam giới, bị tước
đi quyền chình trị và mang thân phận tầm gửi Điều này thể hiện ở một số điểm quan trọng như phụ nữkết hôn sẽ không có tài sản gí, bất kỳ của cải thừa kế nào cũng sẽ thuộc về sở hữu của chồng, nếu có thícũng không được phép sử dụng, đặc biệt là chồng và vợ được gọi chung là một người về mặt pháp lý,thậm chì người phụ nữ không có quyền hành gí với con cái và nếu bỏ chồng thí không được quyềnmang theo bất cứ thứ gí, kể cả con cái [68, tr.86] Giữa bối cảnh thời đại như vậy, John Stuart Mill đãkêu gọi bính đẳng nam nữ và theo tác giả, đây chình là “tiếng nói ủng hộ các quyền tự do cá nhân chìnhđáng của nữ giới” [68, tr.87], khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội
Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra một số hính thức khẳng định bính quyền cho nữ giới trong tưtưởng của John Stuart Mill, chẳng hạn như tháo gỡ những trói buộc trong hôn nhân đối với phụ nữ(không phải là loại bỏ mà là làm mới hôn nhân), thay đổi nhận thức ở nam giới, khẳng định vai trò củaphụ nữ và giải phóng họ trước hết ở bính đẳng giáo dục, sau đó mới đến bính đẳng về quyền chình trịthể hiện ở quyền bầu cử Nhín chung, bài viết là một tư liệu tham khảo hữu ìch khi nghiên cứu quanniệm về quyền bính đẳng của phụ nữ trong tư tưởng của John Stuart Mill Tác giả khẳng định tư tưởngbính đẳng giới của John Stuart Mill là “sự mở rộng tiếp nối từ chủ nghĩa tự do của ông” [68, tr.90].Chúng tôi kế thừa nhận định này trong bài viết của tác giả bài và tiếp tục nghiên cứu vấn đề quyền bínhđẳng của phụ nữ từ góc độ thuyết công lợi và quan niệm về công bằng
Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
Về công trình nghiên cứu là sách, có thể nói, bộ sách Sổ tay Cambridge về triết học do nhà xuất
bản Đại học Cambridge Anh quốc phát hành là loạt sách giới thiệu chi tiết về các tác giả, nhà tư tưởng,nghệ sĩ, chủ đề và giai đoạn triết học khác nhau Mỗi một tập bao gồm những bài viết của nhữnghọc giả hàngđầu nên đó là tập hợp các quan điểm khác nhau chứ không phải là ý kiến của một tác giả
duy nhất Bộ sách này có cuốn Sổ tay Cambridge về Mill (1998), John Skorupski cùng các học giả nổi
tiếng đã trính bày những bài viết độc đáo về triết học của John Stuart Mill Đây là công trính toàn diện
Trang 20Trong Giáo trình hướng tới thế kỷ 21 – Triết học phương Tây hiện đại (2004), Lưu Phóng Đồng
đã trính bày khái quát và phân tìch những tư tưởng chình của John Stuart Mill về tư duy logic quy nạp
với những dẫn chứng từ tác phẩm Hệ thống logic Đây là một trong những nguyên tắc nền tảng mà John
Stuart Mill dùng để xây dựng triết học chình trị - xã hội của mính Tuy nhiên, Lưu Phóng Đồng mới chỉdừng lại ở phương pháp logic quy nạp, chỉ ra những giá trị và hạn chế của phương pháp này; trính bàyquan điểm của John Stuart Mill giải thìch về vật chất và tinh thần, cũng như cuộc tranh luận về hệthống logic của John Stuart Mill đối với các nhà diễn dịch Tóm lại, trong giáo trính này, tác giả LưuPhóng Đồng chỉ tập trung phân tìch hệ thống logic và phương pháp quy nạp của John Stuart Mill chứkhông đề cập đến những nội dung khác trong triết học chình trị - xã hội của ông
Trong cuốn sách Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối (2007), Todd G Buchholz đã dành
chương V để viết về “trì tuệ mãnh liệt của John Stuart Mill” và khẳng định rằng, các nhà kinh tế thừanhận “Mill đặt ra những câu hỏi rắc rối về những cơ sở đạo đức của kinh tế học và chủ nghĩa tư bản [2,tr.173] Tác giả cuốn sách cũng đã trính bày về cuộc đời và hành trính tư tưởng của John Stuart Mill từgóc độ kinh tế - chình trị học Nội dung chương V của cuốn sách đi vào phân tìch phương pháp luậnkinh tế học của John Stuart Mill, trong đó chỉ rõ Mill chấp nhận phương pháp quy nạp như một công cụkhoa học đúng đắn, đặc biệt cho khoa học xã hội nhưng không loại bỏ phương pháp diễn dịch Tác giảBuchholz cũng cho rằng, cách tiếp cận của John Stuart Mill đối với vấn đề sản xuất và phân phối cóphần gay gắt và sai lầm, tuy nhiên phần về quản lý công ty, phương trính cung – cầu lại được JohnStuart Mill lập luận hết sức thuyết phục Ngoài ra, tác giả cuốn sách cũng trính bày khái quát nhữngđóng góp về mặt tư tưởng của Mill đối với kinh tế học cũng như các chình sách xã hội thực tế về thuế
và giáo dục Nghiên cứu sinh tiếp thu những quan điểm này khi phân tìch tư tưởng của John StuartMill về vấn đề công bằng xã hội trong việc đánh thuế và phân phối phúc lợi
Tác phẩm Đạo đức trong kinh tế (2010) của Francisco Vergana đã trính bày súc tìch chủ nghĩa
công lợi tự do của John Stuart Mill Điểm nổi bật trong cuốn sách là Francisco Vergana đã có sự sosánh đối chiếu với học thuyết công lý của John Rawls, đồng thời chỉ ra một số hạn chế của lý thuyếtcông lợi Tuy nhiên, Francisco Vergana không đề cập đến mối quan hệ giữa tình công lợi và công lý –
Trang 21một dấu ấn trong học thuyết công lợi của John Stuart Mill và đây là cơ sở cho sự liên kết giữa triết họcchình trị - xã hội của Mill với đạo đức học và học thuyết giá trị của ông
Trong tác phẩm Tôi là ai – và nếu vậy thì bao nhiêu? (2011), triết gia, nhà báo đương đại người
Đức Richard David Precht đã phân tìch thuyết công lợi củaJeremy Bentham và John Stuart Mill để giảiquyết vấn đề đạo đức thực tiễn như phân định giữa hạnh phúc và bất hạnh – điều này có liên quan chặtchẽ tới quan điểm về tự do và giới hạn quyền lực Theo đó, chúng ta được khuyến khìch làm tất cảnhững điều có thể để thúc đẩy hạnh phúc hay lợi ìch lớn nhất cho nhiều người nhất, ngoại trừ việc giếthại hoặc làm tổn hại đến người khác dù cho hành động đó có thể khiến cho rất nhiều người có thể thoátkhỏi sự bất hạnh Đây là một trong những quan điểm đánh dấu mốc rằng John Stuart Mill chình thứcbước khỏi phạm vi thuyết công lợi của Jeremy Bentham và là một trong những tiền đề để xây dựngquan điểm của ông về nguyên tắc tự do và giới hạn quyền lực của nhà nước Tuy nhiên, cuốn sách củaRichard David Precht được viết theo phong cách nhập môn triết học với lối viết kể chuyện hiện đạitrính bày tư tưởng của các triết gia từ cổ đại đến hiện đại với cách đặt vấn đề theo dạng thức ba câu hỏicủa Kant, ví vậy Precht đã không đi sâu vào phân tìch dấu mốc quan trọng trên
Trong tác phẩm Phải trái đúng sai (2012), giáo sư Michael Sandel đến từ đại học Havard đã
diễn giải tư tưởng của nhiều triết gia từ cổ đại tới hiện đại trong đó có J Bentham và John Stuart Mill.Michael Sandel đã so sánh học thuyết công lợi của hai ông nhằm chỉ rõ sự khác biệt về cách thức vàphương pháp lựa chọn giá trị giữa Bentham và Mill, từ đó, tham chiếu các vấn đề đạo đức, kinh tế dướilăng kình triết học Tuy nhiên, Michael Sandel chỉ tập trung vào học thuyết giá trị đạo đức của JohnStuart Mill, chưa chỉ ra được nguyên tắc công lợi vốn là nền tảng lý luận để John Stuart Mill xây dựng,chứng minh và bảo vệ các luận điểm triết học chình trị - xã hội của mính
Trong cuốn Sổ tay Cambridge về Thuyết công lợi (2014), Ben Eggleston và Dale Miller đồng
chủ biên và đã tập hợp các bài viết được đánh giá là nguồn tư liệu quan trọng cho các nghiên cứu vềtriết học đạo đức, triết học chình trị, lý luận chình trị và lịch sử tư tưởng Trong cuốn sách này, các tácgiả đã trính bàyđược các luận điểm đáng chú ý sau: Nguồn gốc và sự phát triển của chủ nghĩa công lợithông qua các tác phẩm của J.Bentham, John Stuart Mill, Henry Sidgwich và một số người khác; Cácvấn đề trong việc xây dựng thuyết công lợi; Chủ nghĩa công lợi được xem xét trong mối quan hệ vớitriết học Kant về đức hạnh đạo đức và về khả năng xung đột giữa thuyết công lợi và thuyết công bằng;Nghiên cứu những tác động của thuyết công lợi trong bối cảnh hiện đại bằng cách xem xét những tácđộng thực tế của nó đối với những vấn đề đương đại đang gây tranh cãi như xung đột quân sự và sựnóng lên toàn cầu Đây là những nền tảng quan trọng cho việc xây dựng triết học chình trị - xã hội củaJohn Stuart Mill
Bên cạnh đó, chúng tôi còn lưu ý đến một số bài viết về các quan điểm cơ bản trong triết họcchình trị - xã hội của John Stuart Mill có liên quan trực tiếp đến luận án, cụ thể như sau:
Bài viết “J.S Mill bàn về sự can thiệp của nhà nước” (J.S Mill on government intervention)
Trang 22đăng trên Tạp chí Lịch sử Tư tưởng Chính trị (History of Political Thought) năm 1989 của tác giả O.
Kurer đã phân tìch và phản biện các quan điểm của John Stuart Mill về vai trò của nhà nước, về hiếnpháp, và một số vấn đề khác như sự phát triển kinh tế, tài sản, giáo dục, đạo luật của nhà máy và hiệpđoàn và chủ nghĩa xã hội Trong đó, tác giả kết luận rằng John Stuart Mill đã đưa ra một lý thuyết mạchlạc và chặt chẽ về sự can thiệp của nhà nước và Mill nhấn mạnh rằng nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước
là nuôi dưỡng, hỗ trợ xã hội tiến bộ, công bằng hơn và phát triển con người ở tầm cao hơn Theo đó, tự
do, an ninh, bính đẳng, phong phú và loại trừ đói nghèo là công cụ để con người gián tiếp đạt được mụcđìch trên Mặc dù không phủ nhận việc John Stuart Mill đã tuyên bố hạn chế sự can thiệp của nhà nước
và bảo vệ tự do cá nhân trong tác phẩm Bàn về tự do, tác giả cho rằng John Stuart Mill vẫn ủng hộ sự
can thiệp của nhà nước trong chừng mực điều này gia tăng “sự tiến bộ”
(progress), đặc biệt khi điều này có liên quan đến các phúc lợi xã hội [Xem: 119, tr.480]
Trong bài báo “Lý thuyết về công bằng của John Stuart Mill” (John Stuart Mill‟s Theory of
Justice) (2001) đăng trên Tạp chí về Kinh tế xã hội (Review of Social Economy) số 59, hai tác giả Barry
S.Clark và John E Elliott đã trính bày và phân tìch lý thuyết về công lý của John Stuart Mill trên nềntảng kế thừa quan niệm công bằng lợi ìch của J.Bentham, đồng thời đưa ra một số cơ sở mà John StuartMill dựa vào để phát triển quan niệm về công bằng, trong đó quan trọng nhất là giả định một chân lýcho trước và các nguyên tắc tâm lý học Đây là một trong những luận điểm mà nghiên cứu sinh quantâm và kế thừa từ công trính nghiên cứu này Tuy nhiên, các tác giả bài báo tiếp cận lý thuyết côngbằng của John Stuart Mill từ góc độ kinh tế và có đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa công lợi và côngbằng nhưng chưa đi sâu vào phân tìch mà mới chỉ dừng lại ở việc – đây là một trong những nội dung
quan trọng mà John Stuart Mill nhấn mạnh trong tác phẩm Thuyết công lợi và có liên quan đến vấn đề
công bằng trong phân phối phúc lợi
Ngoài ra, triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill xuất hiện trong hầu hết các cuốn sáchnhập môn về triết học phương Tây hiện đại và được giảng dạy nhiều tại các trường đại học hàng đầutrên thế giới với các giảng viên danh tiếng như giáo sư Ian Shapiro và giáo sư Szelenyi của trung tâmnghiên cứu MacMillan, Đại học Yale; giáo sư Michael Sandel của Đại học Harvard
1.3.Những công trình nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của triết học chính trị
- xã hội của John Stuart Mill
Tài liệu nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu về ý nghĩa hiện thời của triết học chình trị - xã hội John StuartMill chủ yếu tập trung trong các luận văn, luận án có thể kể đến như sau:
Trong luận án tiến sĩ triết học với đề tài Triết học chính trị của John Stuart Mill: giá trị và bài
học lịch sử (2014), tác giả Ngô Thị Như đã tập trung nghiên cứu điều kiện hính thành và nội dung cơ
bản trong triết học chình trị của John Stuart Mill, đặc biệt là tư tưởng của John Stuart Mill về tự do,
Trang 23chình thể, nữ quyền trong ba tác phẩm chình là Bàn về tự do, Chính thể đại diện, Sự áp bức phụ nữ.
Ngô Thị Như xem xét “tư tưởng tự do và tư tưởng chình thể đại diện là hai vấn đề trọng tâm và nổi bậtnhất” [70, tr.123] trong triết học chình trị của John Stuart Mill Một số quan điểm của tác giả Ngô ThịNhư trong luận án được chúng tôi đồng tính và tiếp nối Trong đó, về tư tưởng tự do, Ngô Thị Như đãtrính bày vấn đề tự do cá nhân chủ yếu thông qua các quyền tự do mà John Stuart Mill đã thiết lập trong
tác phẩm Bàn về tự do, chẳng hạn như tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tự do sắp đặt kế hoạch cuộc sống
thông qua “lựa chọn”, tự do lựa chọn lối sống Đặc biệt, tác giả Như đã chỉ ra mối quan hệ giữa cá nhân
và xã hội về mặt nghĩa vụ và nguyên tắc khi dẫn chứng về nguyên tắc tổn hại (Harm principle) với nhậnđịnh rằng “John Stuart Mill đã giải quyết hài hòa mối quan hệ tất yếu giữa cá nhân và xã hội Ông đãđưa ra những nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc công lợi, nguyên tắc tự do, nguyên tắc tổn hại) để bảo vệ
tự do cá nhân, nhưng đồng thời đảm bảo lợi ìch chung cho xã hội” [70, tr.68]
Bên cạnh đó, tác giả Ngô Thị Như đã đánh giá được những giá trị, hạn chế chình trong tư tưởngtriết học chình trị của John Stuart Mill thông qua việc nghiên cứu 5 vấn đề chình bao gồm: tự do cánhân, vấn đề bính quyền phụ nữ, tiêu chuẩn đánh giá hính thức chình thể, chức năng và các cơ quanquyền lực hợp thành chình thể, dân chủ với quyền bầu cử Theo tác giả, giá trị tư tưởng tự do của JohnStuart Mill là đề cao khả năng phát triển và sáng tạo của con người về mọi mặt, là sự diễn giải tiếp nốichủ nghĩa tự do cổ điển vốn đề cao con người trong triết học phương Tây [Xem: 70, tr.129], nhận thấynguy cơ “chuyên chế của đa số” và bảo vệ cho quyền tự do dân sự của cá nhân bao gồm quyền tự
do thảo luận Có thể nói, tư tưởng tự do của John Stuart Mill có tầm ảnh hưởng lớn và là tiền đề lý luậncho các quan điểm sau này của ông về quyền bính đẳng cho nữ giới và giáo dục chình trị Bên cạnh đó,giá trị của tư tưởng chình thể đại diện của John Stuart Mill cũng được tác giả chỉ ra là có tinh thần biệnchứng khi luận giải các vấn đề liên quan đến hính thức chình thể Ông không phải người đầu tiên đặt raviệc phân chia quyền lực theo hính thức tam quyền nhưng đã xác nhận đó là phương thức bảo vệ chủquyền của nhân dân chứ không chỉ đơn thuần là kiểm soát quyền lực của các bên Bàn về những hạnchế trong triết học chình trị của John Stuart Mill, tác giả chỉ rõ tư tưởng của ông còn có những chỗ thểhiện lập trường giai cấp tư sản, cho thấy tình chủ quan, thiếu nhất quán và đánh giá thấp vai trò củaquần chúng nhân dân Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra bốn bài học lịch sử từ triết học chình trị của JohnStuart Mill Đó là bài học về phát huy vai trò của giáo dục; bài học về đề cao bính đẳng cho nữ giới; bàihọc về xây dựng hính thức chình thể dựa trên nền tảng là lợi ìch của người dân; bài học về xây dựngđội ngũ công chức chuyên nghiệp
Trong nghiên cứu triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill, chúng tôi nhận thấy rằng nộidung về tự do và chình thể đại diện là cần thiết và không thể không nhắc đến Chình ví vậy, chúng tôighi nhận các kết quả nghiên cứu từ luận án của Ngô Thị Như khi phân tìch quan niệm của John StuartMill về tự do và chình thể đại diện Tuy nhiên, công trính nghiên cứu của Ngô Thị Như tiếp cận từ góc
độ triết học chình trị với phạm vi nghiên cứu chỉ trong hai tác phẩm là Bàn về tự do và Chính thể đại
Trang 24diện Khi đánh giá về ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học chình trị John Stuart Mill, tác giả Ngô Thị
Như tập trung vào các vấn đề và bài học liên quan đến giáo dục, đề cao bính đẳng nữ giới, xây dựnghính thức chình thể đại diện dựa trên nền tảng là lợi ìch của người dân và xây dựng đội ngũ công chứcchuyên nghiệp Trong khi đó, từ góc độ liên ngành cũng như mối liên hệ giữa các vấn đề chình trị - xãhội trong tư tưởng của JohnStuart Mill, chúng tôi phân tìch quan niệm của John Stuart Mill về tự do vàcông lợi, trên cơ sở đó, nhín nhận quan điểm của ông trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như côngbằng phân phối, quyền bính đẳng cho phụ nữ, vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước và hính thức chìnhthể đại diện với tư cách là chình thể lý tưởng để thực hành dân chủ và điều phối các hoạt động xã hội,
từ đó, đánh giá ý nghĩa hiện thời của những tư tưởng này và gợi mở một số vấn đề chình trị - xã hội mà
Việt Nam đang đối mặt Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi cũng rộng hơn, bao gồm 4 tác phẩm là Bàn
về tự do, Chính thể đại diện, Thuyết công lợi và Sự áp bức của phụ nữ phản ánh cách tiếp cận vấn đề từ
cả góc độ chình trị và xã hội
Ngoài ra, một luận án tiến sĩ khác cũng nghiên cứu về John Stuart Mill và bảo vệ thành công
năm 2019, đó là công trính nghiên cứu của Nguyễn Thị Xiêm với tên gọi Quan điểm John Stuart Mill
về tự do và ý nghĩa của nó đối với việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay Trong đó, tác
giả Nguyễn Thị Xiêm chú trọng đến quan điểm của John Stuart Mill về tự do trong các tác phẩm Bàn
về tự do, Chính thể đại diện và Thuyết công lợi Tác giả khẳng định cách tiếp cận tự do của John Stuart
Mill là đề cập đến quyền tự do, cụ thể là tự do tư tưởng, tự do quan điểm và biểu đạt; tự do sở thìch; tự
do tìn ngưỡng và tôn giáo; tự do đặt kế hoạch cho cuộc sống; quyền tự do của cá nhân trong mối quan
hệ với xã hội Trong đó, về quyền tự do của cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, tác giả tập trung vàonguyên tắc tự do, nguyên tắc tổn hại, nguyên tắc vị lợi (hay còn gọi là nguyên tắc công lợi) để khái quátcác luận điểm về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, đồng thời chỉ ra rằng “thông qua việc bảo vệquyền tự do của cá nhân, J.S Mill lên tiếng chống lại mọi sự chuyên chế” [94, tr.94] Nhìn chung, đây
là một công trính nghiên cứu tập trung vào nội dung tư tưởng tự do trong John Stuart Mill nhưng đặttrong mối liên hệ giải quyết vấn đề đảm bảo quyền con người
Nguyễn Thị Xiêm đã chỉ ra một số giá trị và hạn chế trong quan điểm của John Stuart Mill về tự
do Cụ thể, về giá trị, tác giả cho rằng John Stuart Mill đã bảo vệ tự do cá nhân trước sự chuyên chế của
xã hội, đặc biệt là tự do tư tưởng và tự do thảo luận; quan điểm về quyền và tự do dân chủ về chình trịcủa John Stuart Mill thể hiện qua bầu cử và ý tưởng về một nền dân chủ đại diện cũng được tác giảnhận định một trong những đóng góp tiêu biểu của ông; giá trị tư tưởng giáo dục của John Stuart Milltrong việc thực hiện quyền tự do cho người dân và mở rộng nền dân chủ [Xem: 94, tr.118] Bên cạnh
đó, tác giả luận án này còn phân tìch một số hạn chế trong quan điểm tự do của John Stuart Mill nhưchủ trương đấu tranh cho quyền tự do của con người nhưng lại không bảo vệ sự bính đẳng của các dântộc có quyền tự do, độc lập; vẫn còn những luận điểm mang tình chủ quan và thiếu nhất quán; hạn chế
do lập trường giai cấp và hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân [Xem: 94, tr.131] Tác giả cũng trính
Trang 25bày ý nghĩa quan điểm của John Stuart Mill về tự do đối với việc thực hiện quyền con người ở ViệtNam hiện nay và rút ra ba bài học chình về việc đảm bảo các quyền tự do cá nhân, xây dựng hính thứcchình thể bảo đảm quyền của người dân tham gia vào đời sống chình trị và bảo đảm quyền bính đẳnggiới
Nhín chung, luận án của tác giả Nguyễn Thị Xiêm tập trung vào vấn đề tự do Có thể nói, tưtưởng về tự do của John Stuart Mill là một trong những nội dung quan trọng và khi bàn tới ông thí rấtkhó có thể bỏ qua ví quan niệm về tự do có mối liên hệ với các quan niệm, vấn đề khác trong tư tưởngtriết học của ông, đặc biệt là chình học chình trị - xã hội Trong phần đánh giá ý nghĩa, tác giả NguyễnThị Xiêm bám sát theo chủ đề và mục tiêu nghiên cứu của mính khi đưa ra những bài học từ tư tưởngcủa John Stuart Mill về tự do trong việc đảm bảo quyền con người, cụ thể là đảm bảo các quyền tự do
cá nhân, xây dựng hính thức chình thể đảm bảo các quyền tham gia vào đời sống chình trị của ngườidân và đảm bảo quyền bính đẳng giới Chình ở điểm này, chúng tôi có hướng tiếpcận vấn đề khácvới tác giả Nguyễn Thị Xiêm dù cùng bàn về quan niệm tự do của John Stuart Mill Tác giả NguyễnThị Xiêm chủ yếu bàn về tự do với tư cách quyền con người, còn trong luận án của mính, chúng tôi tậptrung vào vấn đề tự do trong tương quan với việc giải quyết các vấn đề xã hội như nguyên tắc tự do tưtưởng và tự do thảo luận nhằm phát huy tình sáng tạo của cá nhân, dân chủ trong phát biểu ý kiến vàvăn hóa tranh luận, đặc biệt là tinh thần không sợ nói sai mà chỉ sợ chân lý bị che giấu Bên cạnh đó,chúng tôi không chỉ dừng lại ở quan niệm tự do mà còn nghiên cứu nhiều vấn đề khác trong triết họcchình trị
- xã hội của John Stuart Mill như công bằng, hạn chế quyền lực nhà nước và đánh giá ý nghĩa hiện thờitrong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
Cuốn sách Chính trị, tôn giáo và kinh tế - chính trị cổ điển ở Anh: trường hợp John Stuart Mill
và các môn đệ (1999) được Jeff Lipkes viết dựa trên luận án đã thắng giải thưởng Dorfman dành cho
lĩnh vực lịch sử kinh tế xã hội vào năm 1995 Trong công trính này, tác giả đi sâu vào nghiên cứunhững giai đoạn cuối cùng trong sự nghiệp của John Stuart Mill với tư cách là nhà kinh tế học, triết gia
và nhà cải cách xã hội Những người được xem là “môn đệ” của John Stuart Mill gồm có John ElliotCairners, Henry Fawcett, William Thomas Thornton và T.E Cliffe Leslie Lipkes lập luận rằng, JohnStuart Mill không chỉ gây ảnh hưởng tới các môn đệ của mính, mà ngược lại, những người học trò nàycũng đã làm cho John Stuart Mill thay đổi một số quan điểm về kinh tế và tôn giáo vào giai đoạn cuốiđời mính, chẳng hạn như quan điểm “phát triển tôn giáo” và “gia tăng hoài nghi về pháp luật kinh tế”,hoặc khái quát hơn, “về tăng trưởng kinh tế không chình thống” [103, tr.13-14]
Cuốn sách gồm có hai phần Trong phần 1, tại chương Giới thiệu, Lipkes khẳng định để có đượcnhững thành tựu rực rỡ và trì tuệ thiên tài, John Stuart Mill đã rất tuân theo sự hướng dẫn của cha mính,ông James Mill; sau đó là đếnHarriet Taylor và cuối cùng là việc lắng nghe những người môn đệ trong
Trang 26nhóm của mính Các chương tiếp theo đó tập trung vào một mính John Stuart Mill và tư tưởng của ông.Chương 2 đánh giá về những người theo thuyết của Ricardo và nền tảng quy phạm cho vị thế của JohnStuart Mill về các vấn đề kiểm soát doanh nghiệp tư nông dân và trật tự xã hội quý tộc thống trị (là giaitầng mà Mill triệt để phản bác) Chương 3 xem xét cách thức Mill đặt ra nhằm theo đuổi cái gọi là “tôngiáo của nhân loại” với mục đìch thay thế vị trì của Kitô giáo Hai chiến lược ưa thìch nhất của ôngtrong những năm về sau đó là ví mục đìch “phát triển nhân loại” bằng việc giải phóng phụ nữ và traoquyền cho người lao động thông qua cải cách ruộng đất và sản xuất hợp tác xã Đây là những điểm cóliên quan đến luận án mà nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu một cách có chọn lọc đề phù hợp với những vấn
đề nghiên cứu của mính
Cuốn sách này của Lipkes là một công trính nghiên cứu có giá trị, đã được công nhận và traogiải thưởng Những nhận xét của Lipkes về những hạn chế trong tư tưởng của John Stuart Mill về chìnhtrị, tôn giáo và kinh tế là những điểm mà nghiên cứu sinh muốn tím hiểu thêm để có những đánh giákhách quan sau này về ý nghĩa triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill đối với lịch sử tư tưởngphương Tây
Trong cuốn sách Bốn tiểu luận về tự do (2014), Isaiah Berlin chủ trương đưa ra hai khái niệm về
tự do là “tự do phủ định” và “tự do khẳng định” Theo đó, Berlin cho rằng sự khác biệt về mặt logicgiữa hai câu hỏi “Ai cai trị tôi?” và “Chình phủ can thiệp tôi đến mức nào?” bao hàm sự tương phản tolớn giữa hai khái niệm tự do phủ định và tự do khẳng định của ông [Xem: 3, tr.60] Ý nghĩa “phủ định”của dự do xuất phát từ ý thức của cá nhân về việc ai là người có quyền cai trị tôi trong giới hạn nhấtđịnh và ý nghĩa “khẳng định” của tự do bắt nguồn từ mong ước của cá nhân muốn làm chủ bản thânmính Có thể nói, trong tác phẩm này, Berlin đã phân tìch “tự do phủ định” trên nền tảng của chủ nghĩa
tự do truyền thống và có sự phân tìch, phê phán quan điểm tự do của một số đại diện tiêu biểu, trong đó
có John Stuart Mill Berlin cho rằng John Stuart Mill đã lập ra những danh mục khác nhau về quyền tự
do và luận chứng cho nó nhằm tạo ra một không gian tối thiểu cho tự do cá nhân [Xem: 3, tr.51] Berlinnhắc đến John Stuart Mill là “người bênh vực tự do nổi tiếng nhất” khi trìch dẫn câu nói của Mill rằng
“Chỉ có tự do xứng đáng với tên gọi, ấy là tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của ta theo cách riêng của ta”[3, tr.52] Đồng thời, Berlin nhấn mạnh John Stuart Mill kiên quyết bảo vệ tự do là ví mục tiêu “phủđịnh” ngăn ngừa can thiệp Tuy nhiên, Berlin cho rằng quan điểm của John Stuart Mill không thực sựđồng nhất và bị lẫn lộn giữa việc những ép buộc có thể ngăn chặn những điều ác lớn hơn nhưng đồngthời cũng ngăn trở khát khao nhân bản Hai mục tiêu của John Stuart Mill về một chủ nghĩa công lợichặt chẽ và phiên bản đầy nhân bản của ông về công lợi là bất nhất [Xem: 3, tr.57] Nghiên cứu sinhtiếp thu những nhận định này của I Berlin trong việc đánh giá ý nghĩa tư tưởng tự do của John StuartMill đối với lịch sử tư tưởng tự do phương Tây
Trong tác phẩm Tất định luận và tự do lựa chọn (2015), Isaiah Berlin khẳng định những đóng
góp và những chình sách của John Stuart Mill trên những cương vị thực tế với tư cách một nhà báo,
Trang 27một nhà cải cách và một chình khách Ông thừa nhận John Stuart Mill đã cống hiến và chiến đấu khôngbiết mệt mỏi trong suốt cuộc đời mính, nhưng cũng chỉ ra một số thiếu sót trong tư tưởng của JohnStuart Mill, rằng Mill không bao giờ cho chúng ta biết thật rõ ràng về hạnh phúc hay tình công lợi,chúng ta không thể biết ông hàm ý gí khi nói về niềm vui sướng và hạnh phúc Điều này là do Mill đãbác bỏ quan điểm về bản chất con người là vị kỷ của Bentham và đưa vào đó những cứu cánh đa dạnghơn, chẳng hạn như chất lượng niềm vui hay động cơ của hành động là do những khao khát, mongmuốn Nói cách khác, theo I Berlin, John Stuart Mill chưa đưa ra quan điểm rõ ràng về thang giá trịcủa mính, điều đó dẫn đến một sốlập luận của ông không chắc chắn; còn nếu nhín vào cuộc đời củaMill thí “có thể nói giá trị cao nhất đối với ông trong đời sống cộng đồng…chình là tự do cá nhân, tình
đa dạng và sự công bằng” [4, tr.223]
Trong cuốn sách này, I Berlin đánh giá rằng John Stuart Mill không có sự nhạy bén hay tài tiênđoán với xu hướng biến đôi phức tạp chóng mặt của tương lai, nhưng ông lại “nhận thức được một cáchsâu sắc về những yếu tố phát hủy đang hoạt động trong chình thế giới của chình ông” [4, tr.226].I.Berlin cho rằng chình khả năng và sự nhạy cảm này đã giúp ông có những đóng góp lớn trong việcthiết lập nền móng cho sự phát triển của các trào lưu tư tưởng giai đoạn sau ông, đặc biệt là chủ nghĩa
tự dọ và chủ nghĩa công lợi Berlin là một triết gia phê phán nhiều quan điểm của John Stuart Mill,nhưng cũng từ đó mà Berlin xây dựng được những lý thuyết quan trọng của mính Nhận xét về JohnStuart Mill trong rất nhiều tác phẩm của mính, Berlin nhận định rằng, John Stuart Mill là một người cóniềm tin lớn vào tự do, một niềm tin đầy cảm xúc Dù John Stuart Mill có lúc thừa nhận nhà nước cóthể xâm phạm vào khu vực riêng tư của cá nhân nhằm xúc tiến giáo dục, vệ sinh, an ninh xã hội haycông bằng, nhưng niềm tin vào khả năng lựa chọn thiện – ác của con người là như nhau, thậm chì JohnStuart Mill cho rằng con người có quyền được sai lầm Ngoài ra, I Berlin đồng tính với quan điểm của
Richard Livingstone khi thừa nhận “Bàn về tự do là cuốn sách ngắn vĩ đại” [4, tr.203] Những phân tìch
của Berlin về tư tưởng của John Stuart Mill có tình phê phán và kế thừa, có luận cứ và luận điểm rõràng Nghiên cứu sinh có tiếp thu những nội dung này của Berlin vào trong công trính nghiên cứu củamính
Trong cuốn sách Tự do kinh tế và Chính thể đại diện (2015), F.A Hayek đã nhấn mạnh mối đe
dọa của chình phủ không giới hạn và đưa ra tranh luận về nguyên tắc đa số Hayek cho rằng, thực tếđáng lo ngại là “quan điểm của chủ nghĩa tự do truyền thống về sự cần thiết phải giới hạn mọi quyềnlực – bằngcách đòi hỏi cơ quan lập pháp phải tự mính tuân thủ các quy tức phổ quát – đã bị thay thếmột cách dần dần và gần như không thể nhận thấy được bởi một tư tưởng hoàn toàn khác…, theo đó sựchấp thuận của phái đa số là sự ràng buộc đầy đủ và duy nhất đối với hoạt động lập pháp” [32, tr.24].Trong tác phẩm này, Hayek phân tìch những nguy cơ trong xã hội hiện đại đi từ những nguyên lý nềntảng của truyền thống tự do như chuyên chế của đa số; ảo tưởng về “công bằng xã hội”; nhu cầu tậpthể,…; từ đó, đặt ra vấn đề phân tách quyền lực nhà nước qua việc giới hạn các biện pháp cưỡng chế và
Trang 28cần có chình phủ đại diện định hướng phục vụ lợi ìch cục bộ Những tư tưởng và quan niệm của Hayektrong tác phẩm này phần nào đã thể hiện được tinh thần của chủ nghĩa tự do John Stuart Mill và Hayekđều là những đại diện tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng phương Tây giai đoạn cận hiện đại và hiện đạiủng hộ chủ nghĩa tự do Tuy nhiên, nghiên cứu sinh tiếp thu một cách có chọn lọc tư tưởng này trongviệc nhận định về giá trị, hạn chế cũng như ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa tự do đối với giai đoạn hiệnnày mà Hayek đã đưa ra Bên cạnh đó, Hayek cũng là một nhà kinh tế học và nhà khoa học chình trị nổitiếng của thế kỷ XX Trong các tác phẩm của mính, Hayek đã nhiều lần đề cập, ca ngợi cũng như phêphán những tư tưởng của John Stuart Mill về tự do Điều này được nghiên cứu sinh quan tâm ví đây làmột trong những căn cứ để nhận định vị trì, vai trò cũng như ý nghĩa của các tư tưởng triết học chình trị
- xã hội của John Stuart Mill đối với lịch sử tư tưởng phương Tây, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ XX
Trong cuốn sách Why read Mill today? (Vì sao ngày nay còn cần đọc Mill?) (2006), tác giả
Skorupski đã giới thiệu bối cảnh lịch sử và điều kiện cho sự hính thành tư duy của John Stuart Mill vàchỉ ra được một số đặc trưng trong nhận thức luận của Mill Nghiên cứu sinh đặc biệt chú ý đến nhữngphân tìch của Skorupski về mối liên quan giữa tự do theo cách hiểu hiện đại và quan niệm tự do làmnền tảng cho triết học đạo đức và chình trị của John Stuart Mill, cũngnhư những nỗ lực bảo vệ nguyêntắc hạnh phúc cực đại của ông Bên cạnh đó, trong chương 3 của cuốn sách, Skorupski cũng trính bày
những lý luận cơ bản của John Stuart Mill trong tác phẩm Bàn về tự do và xem xét một số ứng dụng
thực tế của nó Nghiên cứu sinh chú trọng đến luận điểm cho rằng “Xã hội có trách nhiệm bắt buộc giáo
dục phổ thông, nhưng không có nghĩa là nhà nước nên cung cấp nó” [123, tr.51] Đây là một trong
những nội dung mà nghiên cứu sinh quan tâm khi triển khai một số nội dung cơ bản của John StuartMill về vai trò của nhà nước Nhín chung, Skorupski đã rất nỗ lực giới thiệu một cách rõ ràng và có hệthống triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill nhằm luận chứng cho việc các công trính nghiêncứu của Mill vẫn có giá trị trong thời hiện đại, tuy nhiên, những nghiên cứu của Skorupki vẫn chỉ ởmức độ khái quát mặc dù ông có đưa ra được một số nhận định đặc sắc khi ông đặt tư tưởng của JohnStuart Mill trong sự đối lập và so sánh với tư tưởng của Hegel và Marx
Tóm lại, các công trính nghiên cứu và đánh giá những giá trị, hạn chế về mặt tư tưởng của triết
học chình trị - xã hội John Stuart Mill chủ yếu được trính bày theo ba cách: một là, một nhà tư tưởng
cùng thời hoặc thuộc giai đoạn sau phân tìch, đánh giá những đóng góp và hạn chế một tư tưởng hoặc
luận điểm nào đó của John Stuart Mill; hai là, các học giả và nhà tư tưởng giai đoạn sau nghiên cứu
một tư tưởng, luận điểm nào đó trong sự so sánh giữa John Stuart Mill và một hoặc một số nhà tư tưởng
khác; ba là, các công trính nghiên cứu đặt tư tưởng của John Stuart Mill trong một trào lưu triết học,
chẳng hạn như lịch sử tư tưởng chình trị, tuy nhiên, các luận điểm của John Stuart Mill được trính bàyđộc lập hoặc được đặt vào một nhóm vấn đề, chưa đánh giá nổi bật lên được vai trò, vị trì của ông tronglịch sử tư tưởng phương Tây cũng như chưa làm rõ những tư tưởng nào của ông có giá trị trong thờihiện đại, đặc biệt là với bối cảnh Việt Nam hiện nay
Trang 29số các chủ đề về tự do, hệ thống chình trị, đạo đức, kinh tế chình trị, nữ quyền
Trong luận án của mính với tên gọi “Triết học chính trị - xã hội của John Stuart Mill và ý nghĩa
hiện thời của nó”, chúng tôi kế thừa và tiếp thu một cách có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của
các công trính trước đó về tư tưởng triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill Đồng thời, sau khi
đã tổng quan một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài của mính, chúng tôi hướng tới trình bày
và phân tích các vấn đề sau trong triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill:
Thứ nhất, về điều kiện và tiền đề hính thành nên triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill,
chúng tôi sẽ đi vào trính bày một cách có hệ thống bối cảnh nước Anh thế kỷ XIX và tiền đề tư tưởngđóng vai trò nền móng và truyền cảm hứng cho John Stuart Mill xây dựng nên lý thuyết chình trị - xãhội của mình
Thứ hai, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu ba nội dung chình trong triết học chình trị - xã hội
John Stuart Mill, cụ thể như sau:
Một là, quan niệm về tự do, bản chất của tự do, nguyên tắc tự do (hay còn gọi là nguyên tắc tổnhại) và nguyên tắc công lợi đóng vai trò xuất phát điểm cho các quan điểm chình trị - xã hộ khác củaJohn Start Mill Từ đó, chúng tôi đivào phân tìch quan niệm của ông về các loại hính tự do (quyền tự
do tư tưởng, tự do thảo luận, tự do tôn giáo, tự do sở thìch và lập kế hoạch cho cuộc sống, tự do hộihọp) Sau cùng, ranh giới giữa tự do cá nhân và sự can thiệp của xã hội cũng là vấn đề chúng tôi quantâm tím hiểu và nghiên cứu
Hai là, quan niệm về nguyên tắc công lợi, công bằng và quyền bính đẳng của phụ nữ Có thểthấy qua tổng quan nghiên cứu, vấn đề công bằng gắn với quyền tự do và nguyên tắc công lợi chưađược bàn nhiều trong các công trính nghiên cứu ở Việt Nam Ví vậy, trong luận án này, chúng tôi bướcđầu trính bày quan niệm của John Stuart Mill về công bằng và bất công, về công bằng phân phối và trên
cơ sở đó phân tìch quan điểm của ông về quyền bính đẳng của phụ nữ Đây là những vấn đề xã hội luônđược quan tâm ở bất kỳ thời đại nào
Ba là, vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước và hính thức chình thể đại diện trong tư tưởng củaJohn Stuart Mill Có thể nói, trong các công trính nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, quan điểm củaJohn Stuart Mill về chình thể đại diện luôn được đề cập và phân tìch cụ thể như quan niệm về chình thể,
về hoạt động của các bộ phận lập pháp – hành pháp – tư pháp và các cơ quan đại diện địa phương Tuy
Trang 30nhiên, những nội dung đó mới chỉ tóm lược những nét chình từ cuốn sách Chính thể đại diện hơn 500
trang của ông Bên cạnh việc kế thừa các nghiên cứu trước đây và đưa ra một bức tranh tổng quát vềchình thể đại diện, một vấn đề quan trọng mà trong luận án này chúng tôi muốn đi sâu bàn luận, đóchình là vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước
Thứ ba, để đánh giá ý nghĩa hiện thời của triết học chình trị - xã hội John Stuart Mill, trước hết,
chúng tôi sẽ phân tìch một số giá trị và hạn chế về mặt tư tưởng của John Stuart Mill trong triết họcchình trị - xã hội của ông Đặc biệt, từ quan niệm về tự do, công bằng, quyền bính đẳng của phụ nữ, hạnchế quyền lực nhà nước và hính thức chình thể đại diện của John Stuart Mill, chúng tôi xin được đưa ramột số vấn đề mang tình gợi mở cho thực tiễn Việt Nam hiện nay
Trang 31CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO VIỆC HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA JOHN STUART MILL
Triết học chình trị - xã hội bàn đến các chủ đề về chình trị như tự do, công bằng, tài sản, quyền,luật pháp và việc thực thi luật pháp của các cơ quan có thẩm quyền, cũng như các vấn đề xã hội nhưhành vi xã hội, diễn giải về xã hội và các thiết chế xã hội [Xem: 138] Trong bối cảnh hiện này khinhững nghiên cứu liên ngành ngày càng trở nên phổ biến, những vấn đề chình trị và xã hội thường diễn
ra đan xen, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau chứ không tách biệt nhau Chúng ta có thể xem triếthọc chình trị - xã hội là lịch sử phát triển của các nguyên tắc dùng để nhận định và đánh giá về các thểchế, trật tự chình trị - xã hội
Trong phạm vi luận án này, chúng tôi tập trung chủ yếu vào các vấn đề về tự do, công lợi, côngbằng, quyền bính đẳng của phụ nữ, hạn chế quyền lực nhà nước và chình thể đại diện trong triết họcchình trị - xã hội của John Stuart Mill Lý do chúng tôi tập trung vào những chủ điểm này, đó là ví cácvấn đề về tự do, hạn chế quyền lực nhà nước và chình thể đại diện là những nội dung tư tưởng chính trịtiêu biểu của John Stuart Mill, trong khi đó, các vấn đề về công lợi, công bằng và quyền bính đẳng củaphụ nữ lại liên quan trực tiếp đến chương trính cải cách xã hội của ông Những vấn đề chình trị và xãhội này trong tư tưởng của John Stuart Mill có liên quan chặt chẽ đến nhau John Stuart Mill coi tự donhư một giá trị xã hội tuyệt đối của con người trong việc khẳng định và phát triển bản thân, đồng thờinhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền tự do của cá nhân trong mối liên hệ với lợi ìch chung của xã hội,phân định ranh giới giữa tự do cá nhân và sự can thiệp của xã hội, của nhà nước trên cơ sở nguyên tắc
tự do và nguyên tắc công lợi, nhấn mạnh bổn phận, trách nhiệm xã hội của mỗi người, giải quyết vấn đềcông bằng trong phân phối và quyền bính đẳng cho một nửanhân loại là phụ nữ Từ đó, John StuartMill chủ trương đưa ra hính thức chình thể đại diện lý tưởng làm cơ chế phù hợp để bảo vệ các quyền
tự do và công bằng, bính đẳng đó và tránh sự tiếm quyền, xâm phạm vào quyền lợi chình đáng củacông dân Đây là logic triển khai hệ thống tư tưởng triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill màchúng tôi sẽ tập trung làm rõ trong luận án này
2.1.Điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội nước Anh thế kỷ XIX
John Stuart Mill sống ở Anh vào thế kỷ XIX, triều đại Victoria Trước đó, quá trính hính thànhcủa chủ nghĩa tư bản gắn với các cuộc cách mạng của giai cấp tư sản mà ở châu Âu tiêu biểu là cáchmạng Hà Lan vào thế kỷ XVI, cách mạng tư sản Anh giữa thế kỷ XVII và cách mạng tư sản Pháp cuốithế kỷ XVIII Đây được xem là “cuộc tấn công vào thành trí của chế độ cũ” [65, tr.9] nhằm lật đổ chế
độ phong kiến và mở đường cho chế độ tư bản phát triển trên phạm vi châu Âu và toàn thế giới Có thểnói, vào cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVII, giai cấp phong kiến đã bộc lộ toàn bộ những hạnchế không thể khắc phục của mính, trở nên lỗi thời không thể cải tạo và cần phải được thay thế Trongbối cảnh đó, giai cấp tư sản đã hính thành trong lòng xã hội và giờ trở thành nhân tố tiên phong lãnh
Trang 32đạo quần chúng làm cách mạng, lật đổ chế độ phong kiến và mở đường cho tư bản phát triển Cuộccách mạng tư sản Anh là sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Anh nói riêng và lịch sử thế giới nóichung khi giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi sau cùng vào giữa thế kỷ XVII, thiết lập nên chế độquân chủ lập hiến
Tuy nhiên, cuộc cách mạng tư sản Anh cũng đã phần nào bộc lộ bản chất của giai cấp tư sản,theo đó, “vấn đề đặt ra trước cuộc cách mạng tư sản là vấn đề ruộng đất và vấn đề giải phóng nông dânkhỏi gông cùm của chế độ phong kiến Nhưng giai cấp tư sản Anh sau khi giành được chình quyền thíđoạt luôn cả ruộng đất, nền sở hữu phong kiến về ruộng đất chuyển sang nền đại sở hữu tư sản màkhông về tay nông dân” [65, tr.29] Như vậy, sau cuộc cách mạng tư sản,mâu thuẫn vẫn tồn tại giữagiai cấp thống trị sở hữu toàn bộ của cải và giai cấp bị trị là những người dân vẫn không có gí trong tay.Đây là vấn đề cốt lõi mà triết học chình trị - xã hội của John Stuart Mill sau này bàn đến, đó là tự do cánhân với tư cách một quyền con người, vấn đề công bằng, mối quan hệ lợi ìch công và tư, vấn đề hạnhphúc lớn nhất cho nhiều người nhất Ông phân biệt rất rõ tự do, công bằng, dân chủ “thực sự” và nhữngthứ “giả hiệu”, lạm dụng quyền lực để đàn áp và kím tỏa con người phát triển
Về kinh tế, từ tiền đề các cuộc cách mạng tư sản kể trên, đến cuối thế kỷ XVII, phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa đã hoàn thiện và đến cuối thế kỷ XVIII đã bắt đầu công cuộc bành trướng tímthuộc địa Việc mở rộng thị trường sang các nước thuộc địa vào cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII đãđòi hỏi mở rộng và phát triển quy mô sản xuất – mà sản xuất thủ công lúc bấy giờ đã không còn đápứng được Chình điều này đã thôi thúc nước Anh bước vào giai đoạn “cách mạng công nghiệp” [Xem:
65, tr.35] Năm 1760, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại Anh đã mang đến một loạt cácthành tựu mới như phát minh “thoi bay” năm 1773 của John Kay, máy hơi nước của James Watt vàonăm 1784, chế tạo ra đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước năm 1814, v.v Đây là cuộc cách mạng côngnghiệp đầu tiên của thế giới mang ý nghĩa bước ngoặt lịch sử của văn minh nhân loại Bản chất củacuộc cách mạng công nghiệp này là cách mạng về kĩ thuật chuyển từ lao động thủ công bằng sức ngườisang lao động bằng máy móc Bên cạnh các phát minh về công cụ lao động, kĩ thuật sản xuất cũng ngàycàng được hoàn thiện hơn như luyện gang bằng phương pháp nấu than cốc, khai thác các mỏ kim loại
để phát triển công nghiệp nặng Ngoài ra, những khám phá lớn về mặt địa lì giai đoạn thế kỷ XV – XVI
ở châu Âu cũng đã đặt ra yêu cầu mở rộng thị trường, phát triển thương mại đòi hỏi phải phát triển giaothông vận tải đường biển Với ưu thế của cuộc cách mạng công nghiệp, nước Anh đã đi tiên phongtrong việc chuyển từ đóng tàu gỗ sang đóngtàu kim loại Những năm 60 của thế kỷ XIX, Anh đã đóngđược tàu chở khách viễn dương với trọng tải 3 vạn tấn Công nghiệp đóng tàu của họ ngày một hiện đạihơn và còn đóng tàu thuyền cho các nước khác Nhờ những ưu thế về phát triển kỹ thuật, công nghiệp,thương mại mà Anh đã thâu tóm phần lớn thuộc địa trên thế giới và chình thức bước sang giai đoạn chủnghĩa đế quốc thực dân [Xem: 61]
Có thể nói, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã gia tăng năng suất lao động và sản xuất, tạo
Trang 33nên những tiền đề kinh tế cần thiết để nước Anh phát triển kinh tế như vũ bão và khẳng định vị thế kinh
tế trên thế giới Những phát minh mới đã cải tiến phương thức sản xuất và nâng năng suất lao động xãhội lên mức cao, đi cùng với đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất để đáp ứng yêu cầu mới của xãhội Nền sản xuất sử dụng máy móc trên quy mô lớn với sự xuất hiện của các khu công nghiệp đã thaythế sản xuất lao động chân tay nhỏ lẻ trước đây Quá trính công nghiệp hóa đã ảnh hưởng đến mọi mặtcủa đời sống Đến thế kỷ XIX, vào năm 1851, nước Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm với quy mô lớnnhằm thông báo với toàn thế giới rằng kinh tế của Anh đã phát triển mạnh mẽ [Xem: 61]
Về chính trị, như đã trính bày ở trên, sau khi cách mạng tư sản giành thắng lợi, hệ thống chình
trị căn bản của nước Anh là quân chủ lập hiến Vào giữa thế kỷ XIX, các đảng phái chình trị ở Anh rađời và nổi bật nhất là hai đảng Bảo thủ và Tự do thay nhau thống trị đời sống chình trị ở Anh Cùng vớiviệc xuất hiện nhà nước tư sản, ở phương Tây, các trào lưu tưởng về nhân quyền, quyền công dân, cáchọc thuyết về thể chế chình trị và quyền tự do dân chủ đã được hính thành Chình phủ Anh đã thực hiện
“chủ nghĩa tự do”, ban hành một số quyền tự do dân chủ cho người dân và cả những người lưu vongchình trị nước ngoài được quyền lánh nạn đồng thời cũng ban hành chình sách tự do kinh tế, giảm thuếmậu dịch Bối cảnh này có tác động không nhỏ đến tư tưởng củaJohn Stuart Mill [Xem: 61]
Chúng ta cũng cần lưu ý rằng điều kiện chình trị ở Anh có điểm đặc thù khác biệt với các nướckhác ở phương Tây, đó là khi chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội tư sản, nước Anh đã thiết lậpchế độ quân chủ lập hiến Đây là chế độ phù hợp với điều kiện và sự phát triển ở Anh lúc bấy giờ Vềđiều kiện tự nhiên, Anh là một quốc đảo với khì hậu ôn hòa và phát triển hằng hài từ sớm nên vừakhông bị chi phối quá nhiều bởi các cuộc chiến tranh ở lục địa, vừa có thể đón nhận và tiếp thu nhữnglàn sóng văn minh từ khắp nơi Bên cạnh đó, chủ nghĩa công lợi có thể phát triển ở Anh đó là nhờtruyền thống tư duy kinh nghiệm và coi trọng tự do, dân chủ Chình ví vậy, ngay từ thời trung cổ,
“vương quyền nước Anh đã nhuốm màu sắc dân chủ có thể nói, ngay từ xa xưa, vương quyền ở Anhquốc không hẳn là một vương quyền chuyên chế” [55, tr.394] Có thể nói, truyền thống thừa nhận việc
“đa số thắng thiểu số” từ ngàn xưa và tập tục này đã thấm sâu vào lối suy nghĩ của người dân nướcAnh Đây cũng chình là lý do ví sao John Stuart Mill lo ngại và muốn đề phòng “sự chuyên chế của đasố” mà trong thời đại ngày nay, một trong những hiện tượng tiêu biểu đó là “tâm lý đám đông” Sốđông có phải lúc nào cũng là chân lý là câu hỏi mà John Stuart Mill luôn trăn trở mặc dù không thể phủnhận chình nhờ tập tục đa số thắng thiểu số đó mà nước Anh đã có được tình kỷ luật, kết hợp với khoahọc kỹ thuật và quân sự để tạo ra sức mạnh đạt được vị trì dẫn đầu thế giới trong giai đoạn cuối thế kỷXVIII đến nửa đầu XIX [Xem: 55, tr.395]
Về xã hội, cách mạng công nghiệp đã tạo ra một nền văn minh vật chất hoàn toàn khác trước,
nhưng đồng thời cũng gây ra chuyển biến sâu sắc về quan hệ xã hội [Xem: 65, tr.38] Quá trính côngnghiệp hóa diễn ra nhanh, mạnh và sâu rộng, lao động thủ công hoàn toàn yếu thế trước sức sản xuất
Trang 34của máy móc, họ buộc phải lao động trong các nhà máy với tiền lương rẻ mạt Chỉ từ khi xây dựng nềncông nghiệp đại cơ khì, giai cấp vô sản công nghiệp mới hính thành[Xem: 65, tr.39] như một kết quả tấtyếu của cách mạng công nghiệp Chủ nghĩa tư bản lớn mạnh cùng các thành phố đông đúc, sầm uấtkhông làm cho cuộc sống của những người lao động tốt đẹp hơn, thậm chì còn đẩy những mâu thuẫnđối kháng gay gắt về mặt lợi ìch giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản lên cao Người lao động đã bắtđầu có ý thức phản kháng và đấu tranh đòi quyền lợi Ban đầu, người lao động lầm tưởng khổ đau của
họ là do có máy móc hiện đại nên tiến hành các phong trào phản kháng như đập phá máy móc, phá hủynhà xưởng các phong trào trong những năm 70 của thế kỷ XVIII đã trở thành những sự kiện nổi tiếngtrong lịch sử nước Anh Giai cấp thống trị tím mọi cách ngăn chặn, đàn áp các phong trào đấu tranhnhưng điều đó không thể nào ngăn nổi một thực tế là quá trính phân hóa xã hội ngày càng diễn ra nhanhhơn Xã hội càng phân hóa, giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh cho giai cấpmính
Như vậy, John Stuart Mill sống trong giai đoạn kinh tế Anh đang hưng thịnh nhất, nắm giữ vị trì
số một thế giới cả về kinh tế và thuộc địa, được xem là “thế kỷ đế chế” của nước Anh (1815 – 1914).Trong thời kỳ này, không một quốc gia nào trên thế giới có thể vượt qua nước Anh về kinh tế và phạm
vi thuộc địa của Anh đã mở rộng khắp toàn cầu Trong đó, công ty Đông Ấn chình là dấu ấn của Đế chếAnh tại châu Á Từ năm 17 tuổi, John Stuart Mill đã bắt đầu làm việc tại công ty này - nơi mà cha ông
là một trong những viên chức kỳ cựu nhất
- và ở đó cho tới khi công ty ngừng hoạt động Với tư chất thông minh cùng nền tảng kiển thức đồ sộcủa mính, lại được làm việc trong một môi trường tư bản chuyên về thương mại, John Stuart Mill đãsớm nhận thấy những mặt trái, tiêu cực, hạn chế đằng sau vẻ hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt
là từ cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên năm 1825 với hậu quả hết sức nghiêm trọng cho tới nhữngcuộc chiến tranh phi nghĩa giành thuộc địa Bởi vậy, ta có thể hiểu tại sao John Stuart Mill lại đặc biệtquan tâm tới quyền tự do, công bằng và bínhđẳng của con người, tới chình thể đại diện và tư tưởngđạo đức của thuyết công lợi – một trong những học thuyết có ảnh hưởng lớn tới đường lối cai trị ởVương quốc Anh lúc bấy giờ
Tóm lại, bối cảnh nước Anh thế kỷ XIX là kết quả của hai sự kiện lớn trong lịch sử, đó là cuộc
cách mạng tư sản Anh và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Hai cuộc cách mạng này đã cải tổ
xã hội và tạo ra những biến chuyển nhanh chóng để rồi một loạt các vấn đề quan trọng lại được đặt ra,đặc biệt là vấn đề đạo đức, tự do, công bằng, bính đẳng, quyền lực Phương thức sản xuất thay đổi đãtạo ra những chuyển biến trong cơ cấu và đời sống xã hội Sự gia tăng dân số, phát triển đô thị và quantrọng nhất là việc hính thành giai cấp mới – giai cấp tư sản công thương và giai cấp vô sản công nghiệp
là kết quả tất yếu của cách mạng công nghiệp Đây là hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩavới những mâu thuẫn đối kháng gay gắt về mặt lợi ìch Sự phồn vinh về kinh tế dường như chỉ thấy ởtầng lớp các nhà tư bản, còn phần đông công nhân thí vẫn sống trong cảnh thất nghiệp, bần cùng và đói
Trang 35rét Sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn trở thành một đặc điểm của xã hội tư bản Trong tính cảnh ấy,nhà tư bản lại vẫn tiếp tục bóc lột người lao động thậm tệ và tàn nhẫn Để sinh tồn, người lao động phảilàm việc cật lực, sống khổ cực với đồng lương ìt ỏi Tuy nhiên, họ đã bắt đầu có ý thức phản kháng Từ
đó, những phong trào phản kháng của người công nhân như đập phá máy móc, phá hủy nhà xưởng trởnên nổi tiếng trong lịch sử nước Anh Việc những phong trào này bị đàn áp đẫm máu càng làm chonhững người công nhân hận thù nhà tư bản tới tận xương tủy Mâu thuẫn giai cấp đẩy lên đỉnh điểm
Có thể nói, cách mạng công nghiệp đã tạo ra một nền văn minh vật chất hoàn toàn khác trước,nhưng cũng không thể che giấu được mâu thuẫn nội tại và những hạn chế đã bộc lộ rõ của chủ nghĩa tưbản Bối cảnh này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trính hính thành tư tưởng chình trị - xã hội của
John StuartMill Trong tác phẩm Bàn về tự do, ông chủ trương quyền tự do cho mỗi cá nhân được phép
định đoạt cuộc sống của mính, hạn chế sự can thiệp của xã hội và nhà nước Thực tế, ông cho rằng nhànước có thể lạm dụng quyền lực để trói buộc người dân, người lao động vào những thứ tạo ra lợi ìchcho giai cấp thống trị hơn là ví sự phát triển tốt đẹp cho các cá nhân Chình ví vậy, trong tác phẩm tiếp
theo sau đó là Thuyết công lợi, John Stuart Mill đề cập nhiều đến vấn đề công bằng và bất công, mối
quan hệ giữa công bằng và công lợi, giữa lợi ìch công và tư Bối cảnh thời đại nhiều biến động cũng lýgiải ví sao các nhà tư tưởng Anh giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX rất quan tâm đến vấn đề cảicách xã hội, đặc biệt là cải cách về pháp luật nhằm đảm bảo quyền con người
2.2.Tiền đề tư tưởng
2.2.1. Tư tưởng chính trị của John Locke (1632 – 1704)
Có thể nói, một trong những đại diện tiêu biểu có ảnh hưởng đến việc hính thành tư tưởng củaJohn Stuart Mill về tự do và dân chủ chình là John Locke Bản thân John Stuart Mill được tiếp nhậnmột lượng kiến thức khổng lồ từ khi còn bé cũng chình ví cha ông, James Mill, rất tin tưởng vàonguyên lý “tấm bảng trắng” của Locke Chình ví vậy, John Stuart Mill đã sớm tiếp xúc với các tácphẩm của Locke và đặc biệt chú tâm đến các vấn đề trong triết học chình trị của Locke như quyền tựnhiên, các khảo luận về chình quyền…
Quan niệm về tự do của John Stuart Mill có nhiều điểm tương đồng với tư tưởng của Locke.Đầu tiên, Locke khẳng định tự do là quyền tự nhiên của con người và quyền này chỉ mất đi khi người takhông còn quyền quyết định đối với mạng sống của chình mình, từ đó dẫn tới việc trở thành nô lệ chongười khác Ông viết: “Không ai được phép làm hại đến sinh mạng, sức khỏe, tự do, tài sản của ngườikhác” [49, tr.36] Locke cũng phân biệt tự do ý chì với tự do hành động, trong đó, tự do ý chì là cơ sởcủa tự do hành động vì con người có ý chì mới nhận thức được các luật tự nhiên, từ đó hành động phùhợp với các luật ấyđể không làm tổn hại đến quyền tự nhiên của những người khác Như vậy, Locke đềcao tự do ý chì coi đây là điểm căn bản để con người có thể đạt tới tự do hành động
Bên cạnh đó, Locke còn cho rằng dù một người có quyền tự do lựa chọn hành động của chìnhmính nhưng những hành động đó không được làm tổn hại bất kí ai Ông qua niệm rằng con người và
Trang 36sinh vật sống, cũng như toàn bộ của cải trên trái đất này, đều là sản phẩm của tạo hóa quyền năng Mọithứ tồn tại bên cạnh nhau và bính đẳng độc lập với nhau, không ai hoặc không thế lực nào có thể lấy đisinh mạng, sức khỏe của người khác ví điều đó là sự vi phạm nghiêm trọng vào “quyền sống” – quyền
tự nhiên của con người [Xem: 49, tr.36-37] Có thể nói, quyền sống, quyền tự do, quyền bính đẳngđược xem là “thế hệ thứ nhất về quyền con người” chủ yếu thiên về các quyền dân sự, chình trị Trongtriết học của Locke, các quyền này gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản lật đổ chế độ phongkiến và là tiếng nói của giai tầng mới trong xã hội muốn thoát khỏi xiềng xìch kím kẹp của nhà nướcphong kiến Anh cách đây năm thế kỷ Có thể nói, John Stuart Mill đã kế thừa quan niệm tự do của JohnLocke khi bảo vệ cho tự do cá nhân, cho phép con người hoàn toàn tự do, bính đẳng và độc lập vớinhau về mặt nhân quyền, đặc biệt là không được xâm phạm tới tự do của người khác “trừ phi để thựchiện công lý với kẻ phạm tội” [49, tr.37] Điều này được thể hiện rõ nét trong tư tưởng của John StuartMill về tự do khi tuyên bố chỉ được phép can thiệp vào tự do của cá nhân khi hành vi của anh ta gây tổnhại đến quyền và lợi ìch chình đáng, hợp pháp của người khác hoặc lợi ìch chung của cộng đồng
Bàn về vấn đề quyền lực nhà nước, về bản chất, John Locke nhấn mạnh quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, do nhân dân ủy nhiệm Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền tự nhiên của conngười, thực hiện đúng vai trò của nhân dân giao phó Locke nhận định rằng, chình quyền chỉ là công cụcủa dân vàkhông thể giữ vai trò ngang hàng hay cao hơn vai trò của nhân dân Đối với dân, nhà nướckhông có quyền mà chỉ có nhiệm vụ Dân giao thác cho nhà nước một số trách nhiệm và chình quyềnphải thi hành theo đúng ý dân Nếu trong trường hợp nhà nước tước đoạt quyền tự do của công dân thí
họ có quyền xóa bỏ nhà nước đó Theo John Locke, tự do của con người vừa là mục đìch vừa là giớihạn quyền lực của nhà nước và nhân dân là lực lượng quan trọng nhất trong việc giới hạn quyền lực nhànước Nhân dân sẽ là trọng tài phân xử nếu có xảy ra tranh chấp giữa lực lượng lập pháp và hành phápcũng như giữa lập pháp, hành pháp với dân chúng Chỉ nhân dân mới là chủ thể tối cao trong xã hội cóthể cách chức hoặc thay đổi chình quyền lập pháp khi các cơ quan này hoạt động trái với lợi ìch của họ.Khi đó, nhân dân lấy lại quyền lực để trao vào tay các nhà lập pháp mới để đảm bảo lợi ìch của họ
Locke viết: “vẫn còn lại ở nhân dân một quyền lực tối cao, để xóa bỏ hay thay đổi quan lập pháp, khi
nhận thấy cơ quan này hành động trái với sự ủy thác được đặt vào nó” [49, tr.211] và luật pháp “phải
được thiết kế không vì mục đìch tối thượng nào khác ngoài lợi ích của nhân dân” [49, tr.205] Như vậy,
quan điểm của Locke cho rằng quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân được John Stuart
Mill tiếp nối trong tác phẩm Chính thể đại diện khi Mill cho rằng quyền lực kiểm soát tối thượng thuộc
về nhân dân được thực thi thông qua các đại diện
2.2.2. Học thuyết công lợi của Jeremy Bentham (1748 – 1832)
Jeremy Bentham là người có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của John Stuart Mill về nguyên tắccông lợi Ông là luật sư, triết gia, đồng thời là nhà cải cánh pháp luật và xã hội người Anh, người màJames Mill – cha của John Stuart Mill
Trang 37-luôn ủng hộ nhiệt thành
Jeremy Bentham quan niệm rằng con người bị chế ngự bởi hai chủ nhân tối cao là khoái lạc và
đau khổ Mục tiêu của chúng ta là đi tím kiếm khoái lạc, niềm vui, hạnh phúc và tránh đau khổ Có thể
nói, thuyết công lợi của Benthamxác định hạnh phúc dưới hính thức khoái lạc như phái Epicurus nhưngnguyên tắc hơn: nó phải mang lại “hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất”- đây là “nguyên tắc hạnhphúc cực đại”, hay chình là nguyên tắc công lợi với tư cách là nguyên tắc đạo đức cao nhất trong họcthuyết công lợi của Bentham Nguyên tắc này của Bentham gồm 4 nội dung chình: Một là, khẳng địnhvai trò cơ bản của đau khổ và khoái lạc trong đời sống con người; Hai là, để xác định một hành độngđược tán thành hay phản đối, chúng ta cần xem xét và căn cứ trên số lượng khoái lạc và khổ đau mà kếtquả của hành động đó mang lại để đưa ra nhận định; Ba là, coi khoái lạc chình là cái tốt, là điều thiện,cần hướng tới và đau khổ là cái xấu, là điều ác, là cái phải tránh; Bốn là, có thể định lượng được khoáilạc và khổ đau bằng các phương thức khác nhau Bentham cho rằng mọi hành vi được xem là đúng khi
nó tối đa hóa sự hữu ìch và ông coi “hữu ìch” (utility) là bất cứ điều gí tạo ra hạnh phúc hay hạnh phúc,
và bất cứ điều gí ngăn cản đau khổ hoặc bất hạnh [Xem: 76, tr.51] Đặc biệt, Bentham nhấn mạnh “mọihành vi” ở đây không chỉ nói tới các cá nhân riêng lẻ mà còn bao hàm cả chình phủ, nhà nước Cần lưu
ý là trong quan điểm của Bentham, hạnh phúc và lợi ìch của cộng đồng không phải là lợi ìch chungchung mà chình là tổng lợi ìch của các thành viên trong đó
Nhín chung, John Stuart Mill đồng tính với nguyên tắc công lợi của Jeremy Bentham khi theođuổi hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất Giống như Bentham, John Stuart Mill cũng hiểu hạnhphúc là sự sung sướng, không có khổ đau Hành vi của con người được xem xét là đúng khi nó hỗ trợcho hạnh phúc và là sai khi nó tạo ra cái đối lập với hạnh phúc Bên cạnh đó, John Stuart Mill kế thừaquan điểm của Bentham coi nguyên tắc công lợi là tiêu chuẩn của hành động, theo đó, hành động đượcchấp thuận khi chúng thúc đẩy hạnh phúc hay khoái lạc và không được chấp nhận khi chúng có xuhướng tạo ra sự bất hạnh hoặc nỗi đau Ta có thể nói khoái lạc là xuất phát điểm chung của Bentham
và John Stuart Mill
Tuy nhiên, khi bàn về phương pháp đánh giá khoái lạc và đau khổ, Bentham đã đưa ra 7 tiêuchuẩn “phân lượng khoái lạc” (tương tự như thế với việc định lượng đau khổ) - tức là khi đứng trướctính huống phải đánh giá để lựa chọn một trong hai thú vui nào đó, một người sẽ dùng 7 tiêu chuẩn nàylàm nền tảng cơ sở để quyết định, bao gồm: Cường độ khoái lạc; Thời gian diễn ra khoái lạc; Xác địnhhay bất định; Sự gần gũi hay xa cách (về mặt không gian và thời gian); Sự phong phú: khả năng tiếpcận với các khoái lạc khác; Độ thuần khiết: mức độ loại trừ các yếu tố gây bất hạnh, đau đớn và theoBentham, theo sau một khoái lạc không được là đau khổ và ngược lại; Phạm vi: khả năng chia sẻ khoáilạc với người khác cũng như mức độ ảnh hưởng của kết quả hành động Trên cơ sở thang đánh giá này,Bentham đề xuất phép tình lợi ìch – phì tổn, theo đó, ông coi các khoái lạc và đau khổ có giá trị như
Trang 38nhau và có thể thực hiện phép tình cộng các đơn vị của khoái lạc cũng như các đơn vị của đau khổ chotất cả những người bị ảnh hưởng bởi khoái lạc và đau khổ đó, sau đó so sánh hai kết quả nhận được đểđánh giá xu hướng của một hành động là tốt hay xấu dựa trên số lượng khoái lạc và đau khổ mà nó tạo
ra Trong khi đó, John Stuart Mill lựa chọn một phương pháp khác để đo lường khoái lạc và khổ đaudựa trên đánh giá về chất lượng và trải nghiệm của các chuyên gia
Có thể nói, khác với quan niệm của Bentham cho rằng hạnh phúc có thể đo lường được và chỉhướng tới tri giác cảm tình đơn thuần, John Stuart Mill chủ trương một khái niệm hạnh phúc rộng hơn,dành cho niềm vui của trì tuệ, của tính cảm cũng như của cảm nhận luân lì một chất lượng cao hơn hẳnnhững khoái lạc đơn thuần cảm tình Với Bentham, con người cùng lắm chỉ có khả năng nhận định điều
gí là có lợi cho hạnh phúc của riêng bản thân mính Ví thế, thuyết công lợi của Bentham nghiêng vềtinh thần của chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ nhiều hơn ví Bentham chịu ảnh hưởng từ nền tảng lý thuyếttâm lý vị kỷ củaHobbes Điều này cũng mang lại mâu thuẫn trong tư tưởng của Bentham khi giảiquyết vấn đề làm sao có thể hướng tới hạnh phúc cho nhiều người nhất khi con người giữ tâm lý vị kỷ
Về cuối đời, để giữ được sự chặt chẽ và nhất quán cho nguyên tắc công lợi, Bentham đã từ bỏ lý thuyếttâm lý vị kỷ Chình ở điểm này, John Stuart Mill không giống với Bentham Ông không chỉ quan tâmđến hạnh phúc của cá nhân riêng lẻ mà luôn nghĩ đến hạnh phúc cho những người khác, thậm chì chotoàn bộ nhân loại Ông quan niệm hạnh phúc đìch thực là hướng đến hạnh phúc của cả những ngườikhác, hướng tới việc đem lại tiến bộ cho nhân loại Xét trong bối cảnh lịch sử cụ thể, thuyết công lợicủa Bentham chỉ giới hạn trong phạm vi tầng lớp trung lưu tư sản trong khi thuyết công lợi của JohnStuart Mill bao hàm cả tầng lớp những người lao động đang ngày một lớn dần trong lòng cuộc cáchmạng công nghiệp đương thời Học thuyết ấy mang tầm vóc xã hội lớn hơn và cũng thể hiện sự khácnhau căn bản giữa John Stuart Mill và Jeremy Bentham
Tóm lại, John Stuart Mill đã tiếp thu và phát triển thuyết công lợi của Jeremy Bentham – người
thầy được cha ông ủng hộ – để hính thành nên quan điểm riêng của mính Thuyết công lợi của JohnStuart Mill là một trong hai nguyên tắc để xây dựng các nội dung cơ bản trong triết học chình trị - xãhội của ông, chẳng hạn như các vấn đề về tự do, công bằng, nền tảng để phân định giới hạn của quyềnlực của nhà nước, của xã hội đối với cá nhân con người, v.v
2.2.3. Tư tưởng chính trị của Alexis de Tocqueville (1805 – 1859)
Alexis de Tocqueville là một nhà sử học, nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Pháp Ngoài ra,ông được coi là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu cho lĩnh vực triết học chình trị Là người chịuảnh hưởng bởi những tư tưởng triết học khai sáng của các bậc tiền bối của Pháp, chẳng hạn nhưMontesquieu (1689 – 1755), Rousseau (1712 – 1778) cùng với người thầy trực tiếp của mính làFrançois Pierre Guillaume Guizot (1787 – 1874) – người theo chủ nghĩa tự dotrong chình trị và cùngvới sự khảo cứu hiện thực một nền dân chủ đang tồn tại ở Tân thế giới (Bắc Mỹ), Tocqueville đã xâydựng cho mính những quan điểm mới về những vấn đề liên quan đến triết học chình trị, tiêu biểu là
Trang 39nguyên lý “nhân dân tối thượng” và quan niệm tự do, bính đẳng
Trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ, Tocqueville đã mô tả cụ thể hệ thống chình trị nước Mỹ với
định chế dân chủ từ dưới lên trên, theo thứ tự từ công xã, quận, bang và các liên bang với sự kết hợpnhịp nhàng giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Theo Tocqueville, nền dân chủ Mỹ đã đạt đượcnhững thành công nhất định trong việc phân quyền, nhưng việc kiểm soát bằng Hiến pháp lại chưa đủhiệu nghiệm Hệ thống này không bất biến ví ngoài định chế và hính thức ví chủ quyền tối cao thuộc vềnhân dân và nhân dân có thể xóa bỏ, thay đổi nó dễ dàng Tocqueville cho rằng các chình đảng, tự dobáo chì, hội đoàn chình trị và hính thức bầu cử phổ thông đầu phiếu đều là những lĩnh vực biểu hiện cụthể cho chủ quyền của nhân dân Trong đó, các chình đảng ở Mỹ có sự phân chia rất lớn, lợi ìchthường xuyên đối lập nhau, cơ sự khác nhau giữa chình đảng lớn và chình đảng nhỏ; bên cạnh đó, cácvấn đề về việc thành lập Đảng phái cũng được Tocqueville đề cập trong tác phẩm Về tự do báo chì ở
Mỹ, Tocqueville bày tỏ lòng yêu mến đối với báo chì không phải ví những điều tốt đẹp do nó tạo ra màchủ yếu ví chức năng thông báo và ngăn chặn cái xấu, điều không tốt Ông cho rằng tự do báo chì cósức mạnh đặc biệt với công luận và tất cả các quan điểm, ý kiến của con người [Xem: 82, tr.236] Khicông nhận tự do báo chì là biểu hiện cho quyền lực tối cao của nhân dân, báo chì cần phải được độc lập,theo đó, việc kiểm duyệt báo chì sẽ là một nguy cơ Đối với quyền lập đoàn thể, Tocqueville mô tả batầng bậc: thứ nhất, chỉ thành lập đoàn thể khi có sự tham gia công khai của một số cá nhân theo mộthọc thuyết nào đó và cam kết bằng cách nào đó thực hiện học thuyết đó; thứ hai, con người có quyềnhội họp và một đoàn thể chình trị dùng những trọng điểm nhất định của đất nướclàm tiêu điểmhành động; thứ ba, những người cùng theo một ý kiến hội họp lại với nhau thành đoàn cử tri và cử rangười ủy nhiệm thay mặt mính đi bầu tại một đại hội trung tâm được gọi là hệ thống đại diện áp dụngcho một đảng [Xem: 82, tr.246] Về vấn đề phổ thông đầu phiếu, theo Tocqueville, đây là lĩnh vực thểhiện quyền lực lớn nhất của nhân dân nhưng thực tiễn ở Mỹ thời điểm bấy giờ cho thấy, phổ thông đầuphiếu cũng chưa tạo được những điều tốt đẹp nhất như mong đợi [Xem: 82, tr.252]
Ngoài ra, Tocqueville cũng phác họa chân dung con người dân chủ hiện đại trên 3 phương diệntinh thần, cảm xúc và tập tục trong nền dân trị Về tinh thần hay tư duy dân chủ, phương pháp triết họccủa người Mỹ coi truyền thống chỉ như một nguồn cung cấp thông tin, coi sự kiện như một sự xem xéthữu ìch để đi từ hành động này sang hành động khác, hướng tới kết quả chứ không bị trói buộc bởiphương tiện và nhắm vào gốc vấn đề hơn biểu hiện bên ngoài Do đó, theo Tocqueville, lối tư duy củangười Mỹ có xu hướng thoát khỏi tinh thần hệ thống, thoát khỏi thói quen, lối sống gia đính và thoátkhỏi quan điểm giai cấp (ở mức độ nào đó là thoát khỏi cả với định kiến dân tộc) Người Mỹ chỉ trôngcậy vào nỗ lực lý tình cá nhân, đưa ra những phán xét từ ngay trong bản thân, sẵn sàng khước từ những
gí không có khả năng hiểu, thìch bóc tách và nhín tường tận mọi việc Tocqueville cho rằng trong xãhội dân chủ, đời sống tinh thần bị thấp đi, con người đượ ca ngợi không phải bởi tài năng mà nhờ khảnăng sinh lợi Tuy tin vào khả năng hoàn thiện của con người, ông vẫn cho rằng khả năng phát huy sự
Trang 40“vĩ đại đìch thực” của con người bị hạn chế nghiêm trọng Sự bính đẳng trong xã hội buộc con ngườilao động phải nâng cao trính độ văn hóa, giáo dục nói chung nhưng lại không còn chỗ cho những tàinăng lớn và toàn diện
Về mặt cảm xúc trong nền dân trị, Tocqueville chỉ ra rằng con người ta luôn đi tìm tự do và đấutranh khi tự do bị tước đoạt, nhưng theo ông, tự do chỉcó được khi mọi người ngày càng bính đẳng vớinhau hơn Tuy vậy, tự do và bính đẳng không đồng nhất, không ngang bằng nhau và Tocqueville chorằng con người có xu hướng đam mê bính đẳng hơn tự do ví cảm xúc dành cho sự bính đẳng vừa mãnhliệt, vừa phổ biến Ông nhận định con người không thể hưởng thụ quyền tự do chình trị mà không phảiđổi bằng đôi ba điều hi sinh và muôn vàn nỗ lực, trong khi đó, niềm vui do quyền bính đẳng mang lạithí tự chúng tím đến với chúng ta [Xem: 82, tr.563] Ông viết: “Trong nền dân trị, những con người dânchủ yêu tự do và đam mê nồng nhiệt quyền bính đẳng Họ muốn có quyền bính đẳng bên trong quyền
tự do và nếu không đạt được thí dù sống trong cảnh nô lệ họ vẫn muốn có sự bính đẳng Họ sẽ chịucảnh nghèo, nô dịch, man rợ nhưng sẽ không chịu đựng nền quý tộc trị” [82, tr.564] Bên cạnh đó,Tocqueville cũng khẳng định người Mỹ dùng quyền tự do chình trị để chống chủ nghĩa cá nhân: “Họdùng sự tự do để chiến đấu chống lại chủ nghĩa cá nhân do sự bính đẳng tạo ra và họ đã đánh bại chủnghĩa cá nhân đó” [82, tr.571] Có thể nói, Tocqueville nhín nhận chủ nghĩa cá nhân với nghĩa tiêu cực
và cho đây là hậu quả của việc theo đuổi sự giàu có về vật chất Ông cho rằng đây là mặt trái của nềndân trị và chủ nghĩa cá nhân sẽ không ngừng đẩy con người vào thế cô độc, vô cảm chình trị, chỉ sốngtrong thế giới riêng, mối liên hệ giữa những con người và giữa các thế hệ sẽ bị phá vỡ, ai lo phận ngườinấy
Về phương diện tập tục trong nền dân trị, Tocqueville cho rằng đây là những quy tắc và tậpquán ứng xử trong xã hội, trong gia đính và trong giáo dục Bính đẳng về lối sống và cương vị xã hội sẽlàm cho tập tụ trong nền dân trị ôn hòa hơn các xã hội trước, đồng thời, “tình giống nhau” là đặc điểmbản chất của xã hội dân chủ giúp cho các mối quan hệ trở nên gần gũi, thoải mái, trực tiếp và đơn giảnhơn Nhín chung, Tocqueville miêu tả rất chi tiết và cụ thể về nền dân trị Mỹ với những giá trị đáng cangợi, nhưng cũng có những điểm hạn chế khiến ông băn khoăn, e ngại, cụ thể là tình đơn điệu làm chủ,làm giàu được xem làđam mê lớn nhất trong xã hội Mỹ, áp lực “đồng phục hóa” của công luận, sựchuyên chế của tình riêng tư và sự bất mãn chình trị, nguy cơ về sự chuyên hế của đa số và cột chặt conngười trong mối dây liên kết tự nhiên Có thể nói, tư tưởng chình trị chủ đạo của Tocqueville chình lànhững quan điểm về thiết chế dân chủ Tocqueville nhín nhận nền dân chủ như “một người bạn” và chỉ
ra những ưu, nhược điểm của nó Tocqueville coi trọng và nể phục sự vận hành trơn tru của thiết chếdân chủ Mỹ, tuy nhiên, ông không đánh giá cao nền dân chủ, có thể ví lập trường quý tộc trong ông,nhưng cũng có thể ví những nguy cơ mà ông đã nhín thấy từ nền dân chủ
Sống cùng thời đại với Tocqueville và có chung mối quan tâm đến nền dân chủ, John StuartMill đã có một khoảng thời gian trao đổi thư từ và bàn luận các vấn đề chình trị với Tocqueville Ngoài