Trong vòng một thập niên qua, mặc dù bệnh ký sinh đường máu trên đàn bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh đã được Chi cục Thú y thực hiện giám sát qua các năm nhưng hầu như không có nghiên c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**************************
HUỲNH VIỆT HOÀI TRUNG
TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH ĐƯỜNG MÁU TRÊN ĐÀN
BÒ SỮA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 9/2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
**************************
HUỲNH VIỆT HOÀI TRUNG
TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH ĐƯỜNG MÁU TRÊN ĐÀN
BÒ SỮA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC
Trang 3TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH ĐƯỜNG MÁU TRÊN ĐÀN
BÒ SỮA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT SỐ THUỐC
HUỲNH VIỆT HOÀI TRUNG
Hội đồng chấm luận văn:
1 Chủ tịch hội đồng: PGS TS NGUYỄN VĂN KHANH
Hội Thú y Việt Nam
2 Thư ký: TS VÕ TẤN ĐẠI
Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3 Phản biện 1 : TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Hội Chăn nuôi Thú y
4 Phản biện 2: TS ĐƯỜNG CHI MAI
Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
5 Ủy viên : PGS TS NGUYỄN TẤT TOÀN
Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Trang 4Quá trình công tác (2007 - hiện nay): Nhân viên Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 10 năm 2013 theo học Cao học ngành Thú y tại trường Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: Số 661 Lý Thường Kiệt, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0908.010.839
Email (Fax): Trung.bstl@gmail.com
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Huỳnh Việt Hoài Trung
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Hữu Khương - Trường Đại học Nông Lâm đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm, các Thầy
Cô của Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm và Viện nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp
đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Trang 7TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Tình hình nhiễm ký sinh đường máu trên đàn bò sữa tại Thành Phố Hồ Chí Minh và hiệu quả điều trị của một số thuốc” được tiến hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2015 đến ngày 1 tháng 7 năm 2016 Mục tiêu của nghiên cứu là xác định hiện trạng nhiễm bệnh ký sinh đường máu và đánh giá hiệu quả điều trị của một số loại thuốc để làm cơ sở đề xuất việc phòng trị bệnh cho bò sữa
Kết quả xét nghiệm 1.309 mẫu máu bằng phương pháp phết kính và nhuộm
Giemsa phát hiện 2 giống ký sinh đường máu là Anaplasma và Babesia, không phát hiện Trypanosoma và Theileria Tỷ lệ nhiễm Anaplasma có khuynh hướng tăng dần theo nhóm tuổi nhưng tỷ lệ nhiễm Babesia có khuynh hướng giảm dần theo nhóm tuổi Đồng thời, tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia cũng tăng dần theo tỷ lệ máu lai
HF
Kết quả định danh loài dựa vào đặc điểm hình thái bằng phương pháp nhuộm
Giemsa và kỹ thuật PCR ghi nhận 2 loài là Anaplasma marginale và Anaplama centrale với tỷ lệ nhiễm lần lượt là 5,19% là 0,69% Babesia có loài là Babesia bigemina và Babesia bovis, tỷ lệ nhiễm Babesia bigemina cao so với Babesia bovis
Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý máu trên bò bình thường và bò nhiễm ký sinh máu cho thấy số lượng hồng cầu trung bình của bò nhiễm ký sinh là 6,18 triệu/mm3, hàm lượng haemoglobine trung bình là 8,8g% thấp hơn rõ so với bò không nhiễm
ký sinh
Kết quả điều trị 41 bò nhiễm Anaplasma bằng thuốc oxytetracycline (liều 10 mg/kg thể trọng) có hiệu quả là 95,74% Kết quả điều trị 24 bò nhiễm Babesia bằng
diminazene (liều 3,5 mg/kg thể trọng) có hiệu quả điều trị là 100%
Như vậy, hiện nay có hai mầm bệnh ký sinh đường máu là Anaplasma và Babesia đang lưu hành trên đàn bò sữa của Tp Hồ Chí Minh và hai loại thuốc
oxytetracycline hoặc diminzazene có thể dùng để điều trị tương ứng cho hai mầm bệnh nói trên
Trang 8SUMMARY
Research topic “Situation of blood parasites infection in dairy cows at Ho Chi Minh city and evaluation of the therapeutic efficacy of some drugs” was conducted from July 1st 2015 to July 1st2016 The aim of study was to determine the current status of blood parasite infection in dairy cow and to evaluate the herapeutic efficacy of some drugs in order to suggest a solution for prevention and treatment of blood parasites in dairy cows
Collected blood samples from 1.039 individual cows was examined under
microsope after Giemsa staning The results showed that Anaplasma and Babesia were detected, however, we did not detect Trypanosoma and Theileria We also found that the prevalence of Anaplasma trended to increase with age, while the incidence of Babesia trended to decrease with age Besides, the prevalence of Anaplasma and Babesia also increase when increased HF blood ratio
Identification of blood parasites species based on morphology and PCR
technique indicated that Anaplasma marginale and Anaplasma centrale were detected in dairy cows with 5.19% and 0.69%, respectively Two Babesia species such as Babesia bigemina and Babesia bovis were detected and the prevalence of Babesia bigemina was higher than Babesia bovis
Evaluation of physiological parameters in blood from collected samples, the results showed that average number of red blood cells of parasitic infected cows was 6.18 mil./mm3, average value of haemoglobine from parasitic infected cows was 8.8g% which was lower than those from healthy cows
The result of treatment of 41 infected cows with Anaplasma by
oxytetracycline (10mg/kg body weight) was found to has 95,74% efficacy The
result of treatment of 41 infected cows with Babesia by diminazene (3.5mg/kg body
weight) was found to has 100% efficacy
In conclusion, Anaplasma and Babesia, blood parasite pathogens, are
prevalence in dairy cows at Ho Chi Minh City and two kinds of drug such as
oxytetracycline or diminzazene can be used to treat Anaplasma or Babesia infected
Trang 9MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa
Trang chuẩn y i
Lý lịch cá nhân iii
Lời cam đoan iv
Lời cảm ơn v
Tóm tắt vi
Summary vii
Mục lục viii
Danh mục các chữ viết tắt xi
Danh mục các bảng xii
Danh mục các hình xiii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Thành Phố Hồ Chí Minh 3
1.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa 3
1.1.2 Tình hình dịch bệnh và kiểm soát dịch bệnh 4
1.1.3 Phương hướng phát triển bò sữa giai đoạn 2016 - 2020 5
1.2 Các bệnh ký sinh ở máu trên bò sữa 5
1.2.1 Bệnh do Anaplasma 5
1.2.2 Bệnh do Babesia 10
1.2.3 Bệnh do Trypanosoma evansi 13
1.2.4 Bệnh do Theileria 17
1.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh ký sinh đường máu 19
1.3.1 Phương pháp xem tươi 19
1.3.2 Phương pháp phết kính nhuộm Giemsa 19
Trang 101.3.3 Phương pháp tiêm truyền chuột bạch 21
1.3.4 Phương pháp tập trung 21
1.3.5 Phương pháp ngưng kết (card agglutination test - CAT) 21
1.3.6 Phương pháp huỳnh quang gián tiếp (indirect immunofluorescen test – IFA) 22
1.3.7 Phản ứng ELISA (enzyme - linked immuno sorbent assay) 22
1.3.8 Kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) 22
1.4 Một số biện pháp phòng và trị bệnh ký sinh đường máu trên bò 23
1.4.1 Một số biện pháp phòng bệnh 23
1.4.2 Một số thuốc trị ký sinh đường máu trên bò 24
1.5 Tóm lược một số công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh đường máu trên trâu bò 27
1.5.1 Một số công trình nghiên cứu trong nước 27
1.5.2 Một số công trình nghiên cứu trên thế giới 29
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Thời gian và địa điểm 31
2.2 Đối tượng khảo sát 32
2.3 Vật liệu, hóa chất và thiết bị PCR 32
2.4 Nội dung nghiên cứu 32
2.4.1 Nội dung 1 Tình hình nhiễm ký sinh đường máu qua phương pháp nhuộm Giemsa 32
2.4.2 Nội dung 2 Định danh loài dựa vào đặc điểm hình thái và kỹ thuật PCR 34
2.4.3 Nội dung 3 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý máu trên bò bình thường và bò nhiễm ký sinh máu 35
2.4.4 Nội dung 4 Đánh giá hiệu quả của thuốc điều trị Anaplasma và Babesia 36
2.5 Công thức tính và xử lý số liệu 36
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Tình hình nhiễm ký sinh đường máu qua phương pháp nhuộm Giemsa 37
3.1.1 Các giống ký sinh đường máu ở bò 37
3.1.2 Tỷ lệ nhiễm chung ký sinh đường máu trên bò sữa 39
Trang 113.1.3 Tình hình nhiễm Anaplasma và Babesia 41
3.2 Kết quả định danh loài ký sinh 47
3.2.1 Kết quả định danh loài theo đặc điểm hình thái 47
3.2.2 Định danh Babesia bằng phương pháp PCR 50
3.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu bò 53
3.4 Hiệu quả điều trị Anaplasma và Babesia 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 64
Trang 12DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A marginale: Anaplasma marginale
Babesia spp.: Babesia species
B bigemina: Babesia bigemina
B bovis: Babesia bovis
FAO: Food and Agriculture Organization - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc OIE: World Organisation for Animal Health - Tổ chức Thú y Thế giới
SS rRNA: Small subunit ribosomal RNA
T.evansi: Trypanosoma evansi
T equiperdum: Trypanosoma equiperdum
T theileria: Trypanosoma theileria
T galinarum: Trypanosoma galinarum
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố mẫu khảo sát 33
Bảng 2.2 Thành phần phản ứng PCR 35
Bảng 2.3 Chu trình nhiệt phản ứng 35
Bảng 3.1 Các giống ký sinh đường máu ở bò 37
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm chung theo quận huyện 40
Bảng 3.3a Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia theo địa bàn quận huyện 41
Bảng 3.3b Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia theo khu vực 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia theo tuổi 43
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia ở bò theo nhóm máu lai 45
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia theo quy mô chăn nuôi 46
Bảng 3.7 Kết quả định danh loài theo đặc điểm hình thái 47
Bảng 3.8 Kết quả nhiễm Babesia qua phương pháp PCR 52
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu sinh lý máu bò nhiễm và không nhiễm ký sinh 53
Bảng 3.10 Hiệu quả điều trị Anaplasma và Babesia 55
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
TRANG
Hình 1.1 Tiêu bản máu nhiễm Anaplasma marginale (hình a) và Anaplasma
centrale (hình b) 6
Hình 1.2 Chu kỳ phát triển của Anaplasma marginale 7
Hình 1.3 Tiêu bản máu nhiễm Babesia bovis 10
Hình 1.4 Chu kỳ phát triển của Babesia bigemina 11
Hình 1.5 Tiêu bản máu nhiễm Trypanosoma evansi 14
Hình 1.6 Chu kỳ phát triển chung của Trypanosoma spp 14
Hình 1.7 Tiêu bản máu nhiễm Theileria 17
Hình 1.8 Công thức cấu tạo của thuốc oxytetracycline 24
Hình 1.9 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene 25
Hình 1.10 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene aceturate 26
Hình 1.11 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene diaceturate 26
Hình 2.1 Phân chia khu vực nuôi bò sữa theo quy hoạch của thành phố 31
Hình 3.1 Tiêu bản máu bị nhiễm Anaplasma spp trên bò sữa 38
Hình 3.2 Tiêu bản máu bị nhiễm Babesia spp trên bò sữa 38
Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm Anaplasma và Babesia theo nhóm tuổi 44
Hình 3.4 Hồng cầu nhiễm Anaplasma marginale 48
Hình 3.5 Mẫu nhiễm Anaplasma centrale 48
Hình 3.6 Mẫu máu nhiễm Babesia và các vật lạ 49
Hình 3.7a Kết quả mẫu dương tính với B bigemina 50
Hình 3.7b Kết quả mẫu dương tính với B bovis 51
Trang 15Trong vòng một thập niên qua, mặc dù bệnh ký sinh đường máu trên đàn bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh đã được Chi cục Thú y thực hiện giám sát qua các năm nhưng hầu như không có nghiên cứu nào được triển khai thực hiện bằng phương pháp PCR để kiểm tra hiện trạng loài ký sinh đường máu nhiễm trên đàn bò tại thành phố Hồ Chí Minh Trong khi đó, ở tầm khu vực Đông Nam Á và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu không những đánh giá được mức độ nhiễm
mà còn phát triển các kỹ thuật hỗ trợ giúp chẩn đoán nhanh và hiệu quả hơn so với
kỹ thuật chẩn đoán truyền thống Một số nghiên cứu trên thế giới đã thành công trong việc ứng dụng các kỹ thuật PCR, phân tích trình tự gen để định danh loài của các loại ký sinh trùng đường máu (Chaudhry và cs, 2010; Mtshali và cs, 2013; El-Ashker và cs, 2014)
Bên cạnh đó, thuốc phòng trị bệnh ký sinh đường máu đang sử dụng chủ yếu
là nhóm tetracycline dùng cho bò nhiễm Anaplasma và diminazene khi bò nhiễm Babesia, nhưng hiện nay chưa biết được tình trạng kháng thuốc của các mầm bệnh
Trang 16này với những thuốc thường hay sử dụng trong thời gian khá dài này thế nào do có
ít nghiên cứu được triển khai trong vòng 10 năm Nếu có nghiên cứu theo dõi cho thấy thuốc không còn hiệu quả trong điều trị sẽ có những khuyến cáo thử nghiệm các loại thuốc khác để thay thế trong phòng trị Vì thế việc đánh giá hiện trạng nhiễm ký sinh đường máu và nghiên cứu để ứng dụng kỹ thuật PCR phục vụ chẩn đoán ký sinh đường máu là nhu cầu cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Tình hình nhiễm ký sinh đường máu trên đàn
bò sữa tại Thành Phố Hồ Chí Minh và hiệu quả điều trị của một số thuốc” được thực hiện với sự hướng dẫn của PGS TS Lê Hữu Khương, bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng thuộc Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại học Nông lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Mục đích
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu xác định hiện trạng nhiễm bệnh ký sinh ở máu trên đàn bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh, xác định loài gây bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị của một số loại thuốc để làm cơ sở đề xuất việc phòng trị bệnh cho bò sữa
Yêu cầu
- Xác định tình hình nhiễm ký sinh đường máu qua phương pháp nhuộm Giemsa
- Định danh loài qua hình thái;
- Định danh loài Babesia bằng phương pháp PCR;
- Một số chỉ tiêu sinh lý máu trên bò nhiễm và không nhiễm ký sinh;
- Đánh giá hiệu quả điều trị Anaplasma bằng oxytetracycline và điều trị Babesia bằng diminazene
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Thành Phố Hồ Chí Minh
1.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa
Tính đến thời điểm 1/10/2015, tổng đàn bò sữa trên địa bàn là 117.765 con/9.604 hộ (trong đó số bò sữa cái là 100.738 con; số bò sữa sinh sản là 57.078 con chiếm 56,66% / tổng đàn bò cái sữa) Theo số liệu thống kê (1/10/2016), đàn bò sữa tại thành phố Hồ Chi Minh chiếm khoảng 31,85% tổng đàn bò sữa của cả nước nhưng chiếm hơn 35% tổng sản lượng sữa của cả nước (Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi) Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang phát triển ngành chăn nuôi bò sữa dẫn đầu cả nước
Về qui mô có sự dịch chuyển gia tăng số cá thể trên từng hộ chăn nuôi Ở quy
mô chăn nuôi bò sữa từ 20 - 50 con trong 6tháng đầu năm 2015 là 1.487 hộ (so với cùng kỳ năm 2010 tăng 896 hộ), số hộ có qui mô đàn trên 50 con cũng tăng nhẹ (năm
2015 là 168 hộ, so với cùng kỳ năm 2010 là 55 hộ) Khu vực chăn nuôi bò sữa tập trung chủ yếu tại các huyện ngoại thành, đặc biệt là huyện Củ Chi, chiếm số lượng khoảng 66,43% tổng đàn bò sữa và chiếm khoảng 70,83% số cơ sở chăn nuôi bò sữa của thành phố
Với qui mô bình quân đàn bò sữa tăng dần: Năm 2015 là 12,26 con/hộ so với năm 2010 là 8,97 con/hộ (tăng bình quân 0,66%/năm), trong đó số hộ dưới 5 con/hộ
là 2.105 hộ chiếm tỷ lệ khoảng 21,92% giảm so với năm 2010 do hộ chăn nuôi từng bước nhận thức chăn nuôi tập trung mới đạt hiệu quả
Hộ chăn nuôi đã từng bước cải thiện về quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, các khẩu phần phù hợp cho từng lứa tuổi, từng giai đoạn sản xuất, áp dụng các biện pháp thú y phòng và trị bệnh cho đàn bò sữa, nhiều hộ chăn nuôi mạnh dạn đầu tư vào hệ
Trang 18thống chuồng trại, trang thiết bị và ứng dụng khoa học kỹ thuật…góp phần nâng cao
về năng suất, chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế, giúp ổn định ngành phát triển chăn nuôi bò sữa hiện nay Bên cạnh, đảm bảo tình hình dịch tễ an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc trên địa bàn thành phố, nhất là đàn bò sữa
1.1.2 Tình hình dịch bệnh và kiểm soát dịch bệnh
Hàng năm, Chi cục Thú y xây dựng kế hoạch và triển khai tiêm phòng bệnh truyền nhiễm (Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng) cho đàn bò trên địa bàn Thành phố, tiêm phòng bệnh đạt tỷ lệ trên 80% tổng đàn và 100% diện tiêm phòng; Để phục vụ công tác quản lý dịch tễ việc kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng đối với vắc xin Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng được thực hiện định kỳ 2 đợt /năm nhằm đánh giá hiệu quả công tác tiêm phòng gia súc và tỷ lệ bảo hộ trên đàn
bò sữa Nhìn chung, kết quả tỷ lệ bảo hộ bình quân đối với vắc xin Lở mồm long
móng đạt 96,47% và Tụ huyết trùng đạt trên 80%
Hiện nay, điều kiện chăn nuôi như chuồng trại, vệ sinh chăn nuôi trên địa bàn thành phố trong những năm qua có nhiều cải thiện nhưng chưa đồng bộ Phần lớn các hộ chăn nuôi bò sữa chưa có hệ thống xử lý phân, chất thải nên ảnh hưởng đến môi trường chăn nuôi và sức khỏe con người Bên cạnh đó, việc chưa kiểm soát được nguồn thức ăn do nguồn thức ăn thô xanh chủ yếu khai thác từ nguồn cỏ tươi
ở sông rạch hoặc cỏ ruộng ngập nước cũng là một trong những nguyên nhân chưa làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh ký sinh trùng trên đàn bò sữa Mặc dù hầu hết các hộ chăn nuôi bò sữa trên địa bàn thành phố đã được tập huấn các kiến thức cơ bản về kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh và được trang bị sổ quản lý dịch tễ tại hộ nhưng việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vẫn chưa được người chăn nuôi thật sự quan tâm Công tác tiêu độc khử trùng chuồng trại, diệt côn trùng định kỳ chưa thực hiện tốt, nhiều trường hợp chủ bò không đồng ý điều trị bò bị nhiễm ký sinh đường máu do không muốn phải hủy sữa trong thời gian điều trị làm ảnh hưởng đến thu nhập, nhất là đối với những hộ có nhiều bò mang mầm bệnh Việc người chăn nuôi chưa mạnh dạn loại thải đàn bò sữa, chưa tuân thủ tốt việc khai báo tình hình nhập, xuất đàn bò sữa tại nông hộ, nhất là việc nhập đàn giống không có
Trang 19giấy chứng nhận kiểm dịch, là mối nguy hiểm cho tình hình dịch tễ đàn bò sữa trên địa bàn thành phố
1.1.3 Phương hướng phát triển bò sữa giai đoạn 2016 - 2020
Thực hiện Đề án nâng cao chất lượng đàn bò sữa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2020 đã được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt theo Quyết định số 4697/QĐ-UBND ngày 08 tháng 9 năm 2016 với các mục tiêu cụ thể như sau:
- Quản lý tình hình chăn nuôi, dịch tễ và đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn bò sữa; tỷ lệ tiêm phòng bệnh Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng đạt tỷ lệ trên 80% tổng đàn và 100% diện tiêm;
- Giám sát tình hình dịch bệnh trên đàn bò sữa thành phố và hỗ trợ người chăn nuôi trong chẩn đoán, xét nghiệm và điều trị các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, viêm vú tiềm ẩn và các bệnh sinh sản với tỷ lệ bệnh giảm so với giai đoạn 2011 -
2015 Cụ thể: tỷ lệ nhiễm xoắn khuẩn < 12% (giảm 0,5% / năm), tỷ lệ nhiễm mầm bệnh ở máu < 10% (giảm 0,3 %/ năm), tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn dưới 45% (giảm 0,3 % 0,5% / năm), trong đó tỷ lệ 3+, 4+ dưới 20% (giảm 1 % / năm);
- Duy trì 22 cơ sở và xây dựng mới 10 cơ sở an toàn đối với bệnh Lở mồm long móng và duy trì vùng thành phố Hồ Chí Minh an toàn đối với bệnh Lao và Sẩy thai truyền nhiễm;
- Áp dụng các tiêu chí thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) trong chăn nuôi bò sữa tại nông hộ Duy trì 20 hộ mô hình điểm và nhân rộng 10 hộ mô hình điểm, phát triển 05 mô hình mẫu theo hướng cơ giới hóa, hiện đại hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ mới
1.2 Các bệnh ký sinh ở máu trên bò sữa
1.2.1 Bệnh do Anaplasma
Hình thái
Theo OIE (2015) các loài Anaplasma ban đầu được coi là các ký sinh trùng
thuộc nguyên sinh động vật, nhưng các nghiên cứu sau này cho thấy chúng không
có đặc tính rõ rệt theo mô tả này Từ tái bản cuối cùng được chấp nhận của phân
Trang 20loài vào năm 2001, họ Anaplasmataceae (bộ Rickettsiales) Bệnh biên trùng do nhiễm với loài Anaplasma marginale Một loài thứ nhì, A centrale, cũng đã được ghi nhận từ trước
Năm 1996, Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương mô tả rằng Anaplasma có
dạng như cầu khuẩn, chấm tròn, có khi hình bầu dục Kích thước 0,5 - 0,6 µm có
khi 0,2 - 0,5 µm A marginale gây bệnh nặng hơn, kích thước 0,2 - 0,5 µm, ký sinh chủ yếu ở rìa hồng cầu A centrale có kích thước lớn hơn 0,4 - 0,95 µm, 90% ký
sinh giữa hồng cầu
Hình 1.1 Tiêu bản máu nhiễm Anaplasma marginale (hình a) và Anaplasma
centrale (hình b)
(Shinobu và cs, 2000) Theo một số tác giả nghiên cứu tại Việt nam:
Anaplasma có dạng hình cầu, chấm tròn, có khi hình bầu dục Kích thước 0,2 - 0,5 µm A marginale gây bệnh nặng hơn, ký sinh chủ yếu ở rìa hồng cầu A centrale ký sinh ở giữa hồng cầu (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996)
Rất khó phân loại hai loài này bằng hình thể, người ta chỉ phân biệt chúng qua vị
trí ký sinh Quan sát dưới kính hiển vi điện tử thấy Anaplasma có một màng bao bọc mỏng, bên trong nhân gồm sáu khối nhiễm sắc Khi nhuộm Anaplasma bắt màu đỏ, thường chỉ có một Anaplasma trong một hồng cầu Trường hợp những con mắc bệnh
nặng sẽ có tới 70% hồng cầu bị phá vỡ (Phạm Sỹ Lăng và và Phan Địch Lân, 2000)
Trang 21Chu kỳ phát triển
Anaplasma tồn tại một thời gian dài trong ve, khi ve hút máu hoặc thay đổi vật chủ, Anaplasma sẽ xâm nhập vào máu, vào hồng cầu và gây bệnh Ve và ruồi truyền Anaplasma một cách cơ học Ngoài ra, Anaplasma có thể được truyền từ gia súc
này cho gia súc khác do dùng kim chích sát trùng chưa kỹ, do truyền máu hoặc do chuyển cấy phôi …
Vòng đời của Anaplasma có hai giai đoạn phát triển:
Giai đoạn phát triển vô tính xảy ra ở cơ thể của vật chủ cuối cùng (bò và một số thú nhai lại) Sự sinh sản của chúng trong hồng cầu theo phương thức phân đôi
Giai đoạn phát triển hữu tính ở vật chủ trung gian là một số loại ve cứng
(Ixodidae) Khi ve hút máu bò bệnh Anaplasma xâm nhập vào ve, chúng sẽ phát triển
về số lượng trong ống tiêu hóa và hệ bạch huyết của ve, sau đó mầm bệnh lên tuyến nước bọt và buồng trứng của ve Khi vào buồng trứng, mầm bệnh sẽ truyền sang thế hệ
ve đời sau và vẫn truyền lây được cho bò Tóm lược giai đoạn phát triển ở hình 1.2
Hình 1.2 Chu kỳ phát triển của Anaplasma marginale
(Zahid, 2014)
Dịch tễ học
Từ tái bản cuối cùng được chấp nhận của phân loài vào năm 2001, họ
Anaplasmataceae (bộ Rickettsiales) được biết là gồm có bốn giống là Anaplasma, Ehrlichia, Neorickettsia, và Wolbachia Giống được sửa đổi của Anaplasma hiện
Trang 22nay gồm có Anaplasma marginale là loài thuộc giống này, A phagocytophilum (trước kia là Ehrlichia phagocytophila, E equi và tác nhân không phân loại của bệnh granulocytic ehrlichiosis ở người), A platys và A bovis Bệnh biên trùng là kết quả của bị nhiễm với Anaplasma marginale và A centrale Việc chúng thực sự
là đại diện cho hai loài, thì chưa được nghiên cứu rõ
Các loài Anaplasma truyền lây cả theo cơ học lẫn theo sinh học, bởi các trung
gian truyền lây là loài chân đốt Các xem xét dựa vào nghiên cứu cẩn thận về các thực nghiệm gây nhiễm, đã báo cáo có đến 19 loài ve khác nhau có khả năng truyền
lây A marginale (Kocan và cs, 2004) Các loài ve này gồm: Argas persicus, Ornithodoros lahorensis, Boophilus annulatus, B calcaratus, B decoloratus, B microplus, Dermacentor albipictus, D andersoni, D hunteri, D occidentalis, D variabilis, Hyalomma excavatum, H rufipes, Ixodes ricinus, I scapularis, Rhipicephalus bursa, R evertsi, R sanguineus và R simus
Các ổ dịch Anaplasmosis trên bò thường do bị nhiễm bởi Anaplasma marginale Anaplasma centrale có khả năng gây ra mức độ thiếu máu trung bình, nhưng các ổ dịch lâm sàng trên thực địa thì cực kỳ hiếm Loài mới của Anaplasma,
A phagocytophilum và A.bovis (Dumler và cs, 2001), với nguồn lây nhiễm là các
động vật gặm nhấm, gần đây được báo cáo là gây nhiễm ở gia súc, tuy nhiên không gây bệnh lâm sàng
Anaplasma marginale hiện diện trong hầu hết các quốc gia vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, và trong một số vùng ôn đới Anaplasma centrale được mô tả đầu tiên
ở Nam Phi Vi sinh vật này sau đó đã được báo cáo ở các quốc gia khác - bao gồm
Úc và một số quốc gia ở Nam Mỹ, Đông Nam Á và Trung Đông (Gualito, 2010)
Một số loài côn trùng có thể truyền Anaplasma bằng phương pháp cơ giới Các loài mòng thuộc họ Tabanidae, các loài ruồi hút máu cũng có thể truyền được Anaplasma
Các loài động vật nhai lại cảm nhiễm với Anaplasma bao gồm: trâu, bò, dê,
cừu, hươu, nai, lạc đà Bệnh được tìm thấy ở Nam Trung Bộ, Bắc Bộ, nông trường
Ba Vì, nông trường Mộc Châu, vùng ven thành phố Hồ Chí Minh, Đức Trọng và
Trang 23Sông Bé (Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch Lân, 1999)
Cơ chế tác động
Trong quá trình ký sinh, Anaplasma gây bệnh trên trâu bò bằng cách:
Chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng trong hồng cầu để phát triển và sinh sản, làm cho hồng cầu biến dạng, nhạt màu và tan vỡ
Độc tố của Anaplasma tác động lên hệ thần kinh của bò dẫn đến thú bị sốt cao
(40 - 41oC) kéo dài trong suốt thời kỳ bệnh (Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch Lân, 1999)
Triệu chứng lâm sàng
Thể cấp tính: thời gian nung bệnh của Anaplasma từ 5 - 17 ngày Nhiệt độ cơ
thể thú có thể tăng lên đến 40 - 41o C, sốt gián đoạn, tim đập nhanh 100 - 115 lần/ phút, bò thở nhanh, khó thở, nước mũi chảy liên tục, lượng sữa giảm đột ngột hoặc giảm hẳn Niêm mạc lúc đầu đỏ sậm sau nhợt nhạt, hoàng đản Nước tiểu có màu vàng Thú thường chết trong giai đoạn này (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996)
Trong thời gian nung bệnh, các hồng cầu bị nhiễm gia tăng và bị loại thải bởi các tế bào lưới nội mô, gây ra thiếu máu và hoàng đản mà không tăng huyết sắc tố niệu Bệnh nhiễm gây ra thêm các triệu chứng lâm sàng như sốt, giảm thể trọng, sẩy thai và lờ đờ (Rymaszewska và Grenda, 2008)
Brumpt (1982) qua nghiên cứu cho thấy một số trường hợp bò chết sau khi
nhiễm bệnh từ 4 - 5 ngày, đặc biệt là trường hợp nhiễm ghép giữa Anaplasma và Babesia Raplph và Abram (1991) cho rằng bệnh Anaplasma đặc trưng ở thể cấp
tính là sốt, thiếu máu, yếu ớt, táo bón, niêm mạc vàng, kém ăn, suy nhược, mất nước và khó thở Những con sống sót sau cơn bệnh cấp tính thường bình phục chậm, gây thiệt hại về sữa và thịt, tỷ lệ chết thường là 70% (Phạm Sỹ Lăng, 2000)
Bệnh do Anaplasma ở bò có các triệu chứng thể hiện là sốt kéo dài 4 đến 10
ngày, kém ăn, mất thể trọng, lờ đờ, ho và gia tăng nhịp thở, nhịp tim, sẩy thai, giảm sản xuất sữa và giảm chất lượng tinh dịch (Tefi, 2015)
Thể mãn tính: thú gầy, lông xơ xác, rụng dần từng đám Niêm mạc nhợt nhạt,
hố mắt trũng sâu, có ghèn, nước mắt chảy liên tục
Trang 24Bệnh tích
Xác chết gầy, quanh thận và tim không có mỡ Máu loãng, lách sưng mềm, nước tiểu vàng, tim bị xuất huyết Vùng ngực và các nơi khác có thể bị thủy thũng (Nguyễn Trọng Nội và cs, 1980)
Qua quan sát 32 bò được mổ khám, Nguyễn Hữu Ninh và Nguyễn Ngọc Cảnh (1963) thấy bò gầy rạc, niêm mạc có hoàng đản, máu loãng, nhợt nhạt Trong xoang ngực và bụng có tương dịch màu vàng Hạch lâm ba trước vai và đùi sưng, mổ ra có tụ huyết và thủy thũng Đặc biệt bao tim có điểm xuất huyết và có dịch vàng, tim to và nhão, nhợt nhạt, mặt ngoài tim và tâm thất có chấm xuất huyết Lá lách sưng mềm, nhợt Niêm mạc dạ cỏ, dạ tổ ong bị rộp và lá sách khô cứng dễ bóc (Phạm Sỹ Lăng, 2000)
Babesia bigemina ký sinh trong hồng cầu, có dạng hình quả lê, hình tròn, hình
ô van hoặc các hình dạng khác thường khác nhưng dạng đặc trưng là hình quả lê
cặp đôi B.bigemina thuộc nhóm Babesia lớn (Mahoney, 1977), chúng có kích
Trang 25thước từ 4 -5 µm chiều dài và 2-3 µm chiều rộng
Merozoites của Babesia bovis ở trong hồng cầu chúng thường có dạng hình lê, tròn hoặc hình thái khác thường Chúng thuộc loài Babesia nhỏ, có kích thước từ
2,4 x 1,5 µm Không bào thường có hình vòng sáng Merozoites thường nằm giữa hồng cầu (Kaufmann, 1996)
Mẫu máu của bò bệnh thường thấy từ một đến hai ký sinh trùng trong một hồng cầu, cá biệt có trường hợp có đến sáu ký sinh
Chu kỳ phát triển
Chu kỳ phát triển của Babesia được chia làm 2 giai đoạn (Hình 1.4):
Hình 1.4 Chu kỳ phát triển của Babesia bigemina
(Zahid, 2014) Giai đoạn ký sinh trong cơ thể bò: Ký sinh trùng sinh sản theo phương thức vô
tính, từ một Babesia trưởng thành sinh sản tiếp tục như vậy, sau một thời gian số lượng Babesia tăng lên rất nhanh trong máu
Giai đoạn hữu tính xảy ra trong vật chủ trung gian là một số loài ve cứng Ve
hút máu trâu bò có Babesia trong hồng cầu, có cả merozoite, microgametocyte (tiền
giao tử đực) và macrogametocyte (tiền giao tử cái) vào ruột ve Ở ruột ve, các
Trang 26merozoite đều bị chết, trong khi đó microgametocyte và macrogametocyte sẽ biến thành microgamete (giao tử đực) và macrogamete (giao tử cái) Hai bào tử này kết
hợp tạo thành zygote (hợp tử) Hợp tử xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột của ve và
bắt đầu sinh sản vô tính để giải phóng nhiều sporozoite
Sau đó các sporozoite xâm nhập vào buồng trứng của ve Mầm bệnh có thể truyền cho thế hệ sau của ve Khi ve chứa mầm bệnh hút máu, sporozoite xâm nhập vào hồng cầu bò và chu kỳ sinh sản tiếp tục (Lê Hữu Khương, 2012)
Dịch tễ học
Bệnh xảy ra trên trâu, bò, dê, cừu,… ở mọi lứa tuổi, bệnh xảy ra ở hầu hết các
nước trên thế giới: châu Âu, Úc, Á, Phi, Mỹ La Tinh Bệnh do Babesia gây nên còn
được gọi là bệnh sốt Texas (châu Mỹ), bệnh do ve truyền (châu Úc) hay sốt do ve hoặc sốt nước tiểu đỏ (châu Phi)
Theo Caillow (1985), mùa phát triển của ve ảnh hưởng đến mùa lây lan của
bệnh Ở các khu vực có ve hoạt động mạnh, tỷ lệ bò bị nhiễm Babesia cao và gây
nhiều thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi bò sữa (Phạm sỹ lăng, 2000)
Bò bị nhiễm Babesia được nuôi trong điều kiện nhiệt độ lạnh, thiếu thức ăn nhất
là thức ăn xanh sẽ bị giảm sức đề kháng dẫn đến tình trạng bò bệnh ở thể cấp tính và gây chết
Triệu chứng lâm sàng và tác hại của bệnh
Babesiosis thường phát sinh ở hầu hết các vật chủ, nhưng tỷ lệ chết ở gia súc lớn cao hơn ở gia súc non (Levine, 1985) Thời gian ủ bệnh từ 8 - 15 ngày hoặc ít hơn Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là tăng nhiệt độ 39,8 - 42oC
Thú sốt cao liên tục trong nhiều ngày, thân nhiệt từ 39,80C có khi lên đến 42,2oC Thú bị thiếu máu do Babesia phá vỡ hồng cầu (Lương Văn Huấn và Lê Hữu
Khương, 1996) Thú bỏ ăn, ngừng nhai lại, khó thở, nhịp tim tăng, chảy nước mắt, nước mũi, lượng sữa giảm hẳn
Sau khi phát bệnh 2 - 3 ngày, thú tiểu ra huyết sắc tố Do Babesia phá hoại rất
nhiều hồng cầu nên huyết sắc tố thoát ra ngoài, lọc qua thận vào nước tiểu làm cho nước tiểu có màu đỏ Khi có ít huyết sắc tố thì nước tiểu có màu vàng thẫm, cuối cùng nước
Trang 27tiểu màu đỏ và có khi đen như nước cà phê (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)
Babesia ký sinh ở trong hồng cầu, khi phát triển và sinh sản sẽ làm biến dạng
và vỡ hồng cầu Chúng lấy chất dinh dưỡng từ hồng cầu làm hồng cầu có màu nhợt nhạt, lượng sắc tố giảm, hoặc chúng tiết độc tố gây rối loạn trung khu điều nhiệt, bò bệnh sẽ sốt cao liên tục hàng tuần Hồng cầu bị vỡ hàng loạt sẽ giải phóng huyết sắc
tố, lượng huyết sắc tố quá cao trong máu sẽ thải qua thận làm cho nước tiểu có màu
Quan sát của Levin (1985), ở gia súc bị bệnh lách sưng to, mềm nhũn, vùng tủy bị xám đen màu của máu thiếu oxy Phổi có phù thũng Gia súc thường tiêu chảy hoặc táo bón, phân có màu vàng nâu Gia súc bị bệnh cấp tính hoặc á cấp tính ghép với các bệnh khác thì ít khả năng sống, chúng trở nên gầy còm và chết
1.2.3 Bệnh do Trypanosoma evansi
Hình thái
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999), Trypanosoma evansi là một
đơn bào nhỏ, hình mũi khoan có kích thước 18 – 34 x 2,5 µm Chúng di động trong máu nhờ màng rung được hình thành bởi roi bắt nguồn từ phía sau thân chạy vòng
quanh thân giúp cho Trypanosoma di chuyển rất nhanh trong máu vật chủ Trypanosoma ký sinh trong máu và nằm ngoài hồng cầu
Trang 28Hình 1.5 Tiêu bản máu nhiễm Trypanosoma evansi
Sinh sản trong cơ thể ký chủ
Trang 29Trypanosoma có thể sống ở vật môi giới từ 24 - 44 giờ, nếu ruồi trâu chưa kịp truyền Trypanosoma cho gia súc khác thì chúng sẽ bị chết ở vòi hút của côn
trùng, vì vậy mùa phát bệnh có liên quan chặt chẽ với mùa côn trùng hoạt động Ruồi thường bắt đầu xuất hiện vào tháng 5, cao điểm là tháng 6 - 9, sau đó thời tiết thay đổi lạnh dần thì số lượng côn trùng truyền bệnh dần dần giảm đi (Phạm Văn Khuê - Phan Lục, 1996)
Theo Phan Địch Lân (1974), ở Việt Nam đã phát hiện được 65 loài mòng
thuộc họ Tabanidae, trong đó có 44 loài đã được phân loại đến loài thuộc cả 3 giống trên và 4 loài loài ruồi hút máu thuộc 3 giống Stomoxys, Liperosia và Bdellolarynx
là vật chủ môi giới truyền bệnh tiên mao trùng cho gia súc
Phan Địch Lân (1985) nghiên cứu ve ở thú hoang và thú nuôi cho biết ở miền Bắc nước ta có 47 loài, trong đó có nhiều loài mới mà các nhà khoa học trước đây chưa gặp tại Việt Nam Đồng thời, các tác giả cũng phát hiện được
28 loài ve cứng ký sinh trên các loài gia súc: trâu có 22 loài, bò có 13 loài và chó có 19 loài
Theo báo cáo của Hà Viết Lượng (1998), côn trùng môi giới truyền bệnh ký sinh trùng đường máu ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm những loài sau:
Tabanus rubidus, Tabanus klangsuensis, Tabanus striatutus, Chrysop - dispar, Stomoxys calcitrans Trong đó có 3 loài thuộc giống Tabanus và một loài ruồi Stomoxys calcitrans rất phổ biến ở các vùng nghiên cứu, riêng loài Chrysop – dispar không thấy ở vùng cao nguyên.
Trong tự nhiên, T evansi ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, phổ
biến là ở trâu, bò, ngựa, hươu, nai, voi, hổ, báo, sư tử,…
Trang 30Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, mùa mưa khí hậu ấm áp, nước nhiều, ve mòng hoạt động nhiều
Trâu bò nhiễm ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu nhiễm ở lứa tuổi từ 3 - 8 năm
Ở nước ta, bệnh được phát hiện trên trâu, bò, ngựa ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau: đồng bằng, ven biển, miền núi, trung du
Bệnh thường phân bố ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới: châu Á, Bắc và Tây châu Phi, châu Âu Ngoài ra còn thấy ở Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và châu Úc
Cơ chế gây bệnh
Trypanosoma gây bệnh trên trâu bò theo 2 cách:
- Chúng lấy đi chất dinh dưỡng (đạm, đường, chất béo, chất khoáng) từ máu của
ký chủ bằng phương thức thẩm thấu để duy trì sự hoạt động và sinh sản
- Hoặc chúng tạo ra độc tố Trypanotoxis tác động lên hệ thần kinh trung ương của thú gây rối loạn trung khu điều nhiệt làm thú sốt cao và gián đoạn
Triệu chứng lâm sàng
- Thể cấp tính: trâu bò bị nhiễm Trypanosoma có biểu hiện sốt cao và gián
đoạn, thú sốt cao 1 - 2 ngày ở 40 - 410C, sau đó thân nhiệt thú trở lại bình thường trong 2 - 6 ngày (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) Sở dĩ có triệu chứng sốt gián
đoạn là do Trypanosoma luôn thay đổi kháng nguyên Hồng cầu giảm xuống trong
khoảng 3,63 - 4,54 triệu/mm3 trong giai đoạn thú sốt Bạch cầu tăng từ 6.500 - 15.400/mm3 (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996) Niêm mạc mắt nhợt nhạt, mí mắt sưng có hiện tượng hoàng đản
- Vào thời kỳ cuối, một số trâu bò bị thủy thũng Trâu bò mang thai có thể bị sẩy thai
- Thể mãn tính: thú gầy rạc, lông dựng đứng xơ xác, mắt hõm sâu, cơ bắp teo dần, niêm mạc nhợt nhạt và hoàng đản, giảm sức đề kháng với các bệnh khác
Bệnh tích
Xoang phế mạc, phúc mạc và tâm mạc chứa dịch màu vàng, vùng bị thủy
thũng chứa nhiều dịch nhầy giống keo Thịt nhão và ướt Mỡ mềm và vàng thẫm Tim nhão, ướt, sưng to, tụ máu lấm tấm và đáy tim thủy thũng Phổi tụ máu thành
Trang 31từng đám Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và đoạn cuối ruột già tụ máu tím bầm Lách
có dạng tròn, oval, dấu phẩy nhọn Theileria lestoquardi trong hồng cầu có hình
tròn hay oval, dạng tròn có kích thước 0,6 - 2,0 µm, dạng dài hơn 1,6 µm (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996)
Hình 1.7 Tiêu bản máu nhiễm Theileria
(Shinobu và cs, 2000) Chu kỳ phát triển
Theileria có 2 giai đoạn phát triển: giai đoạn sinh sản vô tính xảy ra trong máu
của trâu, bò, theo phương thức mọc nhánh, rồi tách đôi Quá trình sinh sản hữu tính
thực hiện trong cơ thể của các loài ve thuộc họ ve cứng Ixodidae (chúng phát triển tương tự như Babesia trong ve)
Ngoài ra, Theileria còn ký sinh ở bạch cầu, có dạng một nang chứa khoảng 8 -
12 bào tử (Sporozoite) nằm trong nguyên sinh chất của bạch cầu, nhuộm Giemsa
Trang 32bắt màu đỏ tím, có hình phẩy, được gọi là thể “Koch“ Đây là dạng đặc biệt có thể
căn cứ vào đó để phân biệt với Babesia và Anaplasma (Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch
Lân, 1999)
Dịch tễ học
Theileria ký sinh và gây hại cho các loài động vật như: trâu, bò nhà, bò rừng,
hươu, nai, dê, cừu
Ở nước ta, tỷ lệ nhiễm Theileria ở vùng đồng bằng thấp hơn ở vùng núi và
cao nguyên Bò nhập có tỷ lệ nhiễm cao hơn bò địa phương Thú non mắc bệnh nặng hơn thú lớn Bệnh giảm dần theo tuổi
Bệnh phổ biến khắp thế giới: Trung Phi, Nam Phi, châu Á, Đông Nam châu
Âu Theileria annulata có ở Liên Xô, một số nước Trung Cận Đông, Trung Quốc Theileria sergenli được tìm thấy ở Trung Quốc, Triều Tiên Theileria parva có ở Algeri, Congo, Nigeria, Zaia, Kenya,… Bệnh do Theileria mutans hiện còn ở Ấn
Độ, Indonesia, Việt Nam…
Cơ chế tác động
Theileria gây bệnh trên bò theo những cơ chế sau:
- Theileria xâm nhập vào hồng cầu bò, chúng phát triển, sinh sản vô tính, làm
hồng cầu biến dạng và tan vỡ dẫn đến thú gầy yếu, thiếu máu
- Độc tố của Theileria tác động lên não, gây sốt cao ở 40 - 41oC trong giai đoạn đầu, sau đó giảm dần và bệnh chuyển từ thể cấp tính sang thể mãn tính Ngoài ra, độc tố có thể tác động đến niêm mạc dạ dày, gây viêm tróc niêm mạc dạ tổ ong, khô cứng dạ lá sách và viêm ruột
Trang 33Bệnh tích
Phổi phù thũng, gan sưng, lách và các hạch bạch huyết viêm, sưng to Thận và các mô bị sung huyết Viêm dạ múi khế Tim xuất huyết Niêm mạc đường tiêu hoá loét
1.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh ký sinh đường máu
Ở nước ta, do điều kiện trang thiết bị chưa cao nên các phòng chẩn đoán ở trung ương và địa phương hiện chỉ sử dụng các kỹ thuật đơn giản để chẩn đoán ký sinh, chưa có điều kiện áp dụng các phương pháp miễn dịch để chẩn đoán bệnh (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
Ngày nay, những phương pháp nghiên cứu hiện đại đã giúp cho việc chẩn đoán các bệnh ký sinh đường máu đạt được độ chính xác cao có thể trên 95% như phương pháp polymerase chain reaction (PCR), latex, phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFAT) Trong đó phương pháp PCR là một trong những phương pháp mới và
có hiệu quả cao trong công tác chẩn đoán nhưng nó đòi hỏi phải có trang bị và phương tiện đắt tiền, kỹ thuật phải chính xác (Phạm Sỹ Lăng, 2002)
1.3.1 Phương pháp xem tươi
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2000), sử dụng một phiến kính sạch khô, nhỏ lên đó một vài giọt dung dịch chống đông máu (natri citrat) Dùng kéo cắt lông sát trùng tĩnh mạch tai Lấy một giọt máu cho lên lame, phủ lamel lên và quan
sát với độ phóng đại 10 x 40 Trypanosoma sẽ di chuyển giữa các hồng cầu nếu có
Tuy nhiên, phương pháp này có độ chính xác chỉ đạt khoảng 70%
1.3.2 Phương pháp phết kính nhuộm Giemsa
Lấy máu tĩnh mạch cổ hoặc tĩnh mạch tai, phết tiêu bản dàn mỏng Cố định bằng cồn methanol, nhuộm giem sa và kiểm tra dưới kính hiển vi với độ phóng đại 1.000 lần để tìm ký sinh trùng đường máu
Lấy dịch trong hạch lâm ba nhuộm Romanopsky để phát hiện Theileria spp., độ
chính xác trong chẩn đoán đạt 80% Phương pháp này có thể phát hiện bào tử của
Theileria spp trong bạch cầu của bò Độ chính xác trong phát hiện bệnh do Anaplasma đạt 85%; Trypanosoma và Babesia đạt 80% (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
Trang 34Các mẫu lấy từ bò sống, bao gồm các mẫu máu phết mỏng trên kính và máu thu thập được trong chất kháng đông Các mẫu máu phết kính để khô trong không khí sẽ giữ được hoàn hảo ở nhiệt độ phòng ít nhất 1 tuần Mẫu máu trong chất kháng đông nên được bảo quản và vận chuyển ở 4o
C, nếu không phải được đưa đến phòng thí nghiệm trong vòng vài giờ Mẫu này có thể dùng cho việc phết kính, nếu các mẫu loại
khác gởi đến là không hoàn hảo Ngược lại với Babesia bovis, Anaplasma không tích
tụ trong các mao mạch, do vậy máu lấy từ tĩnh mạch cảnh hay mạch máu lớn khác là thích hợp
Các mẫu máu được nhuộm với màu Giemsa 10%, trong khoảng 30 phút, sau khi
cố định trong methanol nguyên chất trong khoảng 1 phút Sau khi nhuộm màu, các mẫu được rửa xả ba hay bốn lần với nước sạch để loại bỏ màu còn dư, và sau đó để khô trong không khí Các điều kiện cho nhuộm màu Giemsa khác nhau giữa các
phòng thí nghiệm Các màu nhuộm thương mại tiện cho nhuộm màu Anaplasma
nhanh chóng hiện có sẵn trong một số quốc gia (Màu nhuộm thương mại, bao gồm Camco-Quik and Diff-Quik, Baxter Scientific Products, McGaw Park, Illinois, USA,
và Hema 3 and Hema-Quik, Curtin-Matheson, Houston, Texas, USA) Các mẫu được kiểm tra dưới lớp dầu ở độ phóng đại x 700 - 1.000 (Gualito, 2015)
Anaplasma marginale thể hiện là các thể đặc, tròn và đậm màu trong hồng cầu,
có đường kính khoảng 0,3 - 1,0 µm Hầu hết các thể này nằm trong hay gần với viền
của hồng cầu Đặc tính này giúp phân biệt giữa A marginale với A centrale, do hầu hết các A centrale thường nằm trong hồng cầu ở gần trung tâm hơn Tuy nhiên, đặc biệt là khi nhiễm rickettsia máu thấp, việc phân biệt hai loài này trong các mẫu có thể
khó khăn (Kreier và Ristic, 1963; Stich và cs, 2004)
Phương pháp truyền thống để nhận diện tác nhân gây bệnh ở thú bị nhiễm
Babesia là kiểm tra bằng kính hiển vi các mẫu máu phết kính dày và mỏng, được
nhuộm màu, như màu Giemsa (Thuốc nhuộm Romanowsky - Giemsa 10% trong môi trường PBS (phosphate buffered saline) Độ nhạy của kỹ thuật này có thể phát hiện tình trạng nhiễm ký sinh trùng máu đến mức thấp là 1 ký sinh trùng trong 106hồng cầu
Trang 35Các mẫu máu phết kính dày được chuẩn bị bằng đặt một giọt máu nhỏ (khoảng
50 µl) lên một phiến kính sạch Giọt máu này sau đó được làm khô trong không khí, được cố định bằng nhiệt ở 80oC trong 5 phút, và được nhuộm với Giemsa 10% trong
15 - 20 phút Các mẫu máu không nhuộm màu sẽ không được bảo quản với các dung dịch formalin vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng nhuộm màu
Việc phân biệt loài thực hiện tốt trong các mẫu phết kính mỏng, nhưng kém trong các mẫu phết kính dày Kỹ thuật này thường đủ để phát hiện bệnh nhiễm cấp tính, nhưng không phát hiện được thú mang trùng khi tình trạng ký sinh trùng trong máu thường rất thấp Việc nhận diện và phân biệt ký sinh trùng có thể được cải thiện bằng sử dụng màu huỳnh quang, như màu cam acridine thay cho Giemsa
1.3.3 Phương pháp tiêm truyền chuột bạch
Lấy máu ở tĩnh mạch tai của trâu bò nghi bệnh cho vào ống nghiệm có chứa citrat natri 3,8%, sau đó tiêm máu vừa thu được vào phúc mạc chuột thí nghiệm và theo dõi từ 15 – 30 ngày Kiểm tra máu chuột thí nghiệm, nếu trong máu chuột có hiện diện mầm bệnh chứng tỏ trâu bò đã bị nhiễm bệnh
Phương pháp tiêm truyền động vật có thể cho độ chính xác cao (100%) đối với
bệnh do Trypanosoma evansi Tuy nhiên, tốn công sức cho việc chăm sóc thú thí
nghiệm và theo dõi trong thời gian dài (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
1.3.4 Phương pháp tập trung
Dựa vào nguyên lý Babesia thường ký sinh trong hồng cầu non, khi ly tâm
hồng cầu non tập trung ở đáy Lấy máu cho vào ống hematocrit, sau khi ly tâm phần
đáy là hồng cầu non Tìm Babesia ở phần tập trung hồng cầu non
1.3.5 Phương pháp ngưng kết (card agglutination test - CAT)
Dùng kháng nguyên sống trong máu động vật cảm nhiễm (bê, thỏ) Sau đó nhỏ một giọt huyết thanh của động vật nghi bệnh và trộn với giọt máu có kháng nguyên sống của động vật cảm nhiễm Nếu huyết thanh có kháng thể tương ứng sẽ có ngưng kết xảy ra
Bản chất của phương pháp là ngưng kết trực tiếp trên phiến polyethylen Phương
pháp này có độ chính xác trong phát hiện Trypanosoma là 70 - 80%; Babesia,
Trang 36Anaplasma và Theileria đạt 90 - 95% (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
1.3.6 Phương pháp huỳnh quang gián tiếp (indirect immunofluorescen test – IFA)
Dùng chất phát quang để phát hiện phản ứng kháng nguyên và kháng thể Kháng nguyên đã biết được nuôi cấy từ động vật thí nghiệm Kháng thể có trong huyết thanh gia súc nghi bệnh Kiểm tra trên kính hiển vi huỳnh quang Phản ứng dương tính khi có phát màu huỳnh quang của ký sinh trùng
Phương pháp này có ưu điểm là phát hiện chính xác trâu bò bệnh ký sinh trùng đường máu, đạt 90 - 96% và phát hiện sớm được bệnh từ 5 - 6 ngày trong thời gian
ủ bệnh (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
1.3.7 Phản ứng ELISA (enzyme - linked immuno sorbent assay)
Dùng kháng nguyên đã gắn enzyme, nhỏ lên vỉ 96 lỗ, sau đó cho huyết thanh gia súc nghi ngờ vào Sau một thời gian phản ứng, cho conjugate và subtrate vào, tiếp tục cho chất dừng phản ứng (thường là H2SO4) Đọc kết quả thông qua máy đọc ELISA
Phương pháp này có ưu điểm là phát hiện trâu bò bệnh ký sinh trùng đường máu đạt độ chính xác cao 90 - 98% Tuy nhiên, phương pháp này cần phải có kháng thể hoặc kháng nguyên chuẩn (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2000)
1.3.8 Kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction)
Với độ nhạy cao, kỹ thuật PCR được coi là phương pháp hiện đại nhất hiện nay để chẩn đoán bệnh Trong phản ứng này dùng phản ứng PCR đa mồi để chẩn
đoán cả 02 loại Babesia bigemina, B bovis hoặc cả 3 loại Babesia bigemina, B bovis, Anaplasma marginale Độ nhạy của kỹ thuật này có thể phát hiện tình trạng
nhiễm ký sinh trùng máu đến mức thấp là 1 ký sinh trùng trong 107 hồng cầu
Các xét nghiệm dựa vào acid nucleic để phát hiện bệnh nhiễm A marginale
trên bò đã được phát triển mặc dù chưa đầy đủ Độ nhạy phân tích của các phương pháp dựa vào phản ứng chuỗi phân tử (PCR) đã được ước tính có thể phát hiện tình trạng nhiễm ký sinh trùng máu mức thấp là 1 ký sinh trùng trong 106 hồng cầu, nhưng ở mức độ này, chỉ một phần bò mang trùng được phát hiện Một xét nghiệm
Trang 37nested PCR có độ nhạy và có khả năng nhận diện, đã được áp dụng để nhận diện bò
mang trùng A marginale Kỹ thuật này có khả năng nhận diện đến ít hơn 30 hồng
cầu bị nhiễm trong 1 ml máu, tương đương có thể phát hiện tình trạng nhiễm ký sinh trùng máu đến mức thấp là 1 ký sinh trùng trong 108 hồng cầu, thấp hơn mức
độ mang trùng thấp nhất của bò Phương pháp Real-time PCR cũng đã được chỉ
định để định danh A marginale (Carelli và cs, 2007; Decaro và cs, 2008; Reinbold
và cs, 2010) và được xem xét để thay thế Nested PCR Thiết bị cần thiết cho time PCR thì mắc tiền, đòi hỏi phải bảo dưỡng Xét nghiệm Real-time PCR nhắm
Real-mục tiêu gen 16S rRNA (Reinbold và cs, 2010) và được báo cáo đạt được một mức
độ phân tích độ nhạy tương đương Nested PCR (Carelli và cs, 2007; Decaro và cs,
2008; Reinbold và cs, 2010)
Xét nghiệm phản ứng PCR đã được chứng minh là rất nhạy, đặc biệt trong
phát hiện B bovis và B bigemina trong bò mang trùng (Buling và cs, 2007; Junior và cs, 2006; Criado-Fornelio, 2007) Một số kỹ thuật PCR đã được mô tả mà
Costa-có thể phát hiện và phân biệt các loài của Babesia trong thú mang trùng (Buling và
cs, 2007; Criado-Fornelio, 2007) Các xét nghiệm PCR thường có ích cho xác nhận
các xét nghiệm và trong một số trường hợp, dùng làm xét nghiệm kế tiếp các phương pháp khác
1.4 Một số biện pháp phòng và trị bệnh ký sinh đường máu trên bò
1.4.1 Một số biện pháp phòng bệnh
Thường xuyên kiểm tra đàn gia súc khi nhập, xuất đàn Định kỳ kiểm tra máu đàn bò mỗi năm 2 - 3 lần, phát hiện bò bệnh hoặc mang trùng để điều trị nhằm tránh lây nhiễm mầm bệnh
Nuôi dưỡng chăm sóc tốt đàn bò sữa để nâng cao sức đề kháng; chuồng trại
ấm sạch mùa đông và thoáng mát mùa hè; cho ăn đúng khẩu phần đảm bảo dinh dưỡng
Phun thuốc diệt côn trùng ở quanh chuồng trại theo định kỳ (1 tháng / 1 lần) Phát quang bụi rậm, lấp vũng nước, cống rãnh quanh chuồng và bãi chăn để côn trùng không có nơi cư trú và phát triển được
Sử dụng một số loại thuốc hóa dược để phòng bệnh ký sinh đường máu cho trâu bò theo định kỳ 2 - 3 lần / 1 năm:
Trang 38Ở Việt Nam, chưa sử dụng vắc xin để phòng các bệnh ký sinh đường máu mà chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để diệt các vật môi giới, ký chủ trung gian và dùng các loại thuốc hóa dược để điều trị gia súc bị bệnh Phun thuốc diệt côn trùng ở quanh chuồng trại theo định kỳ (1 tháng / 1 lần) Phát quang bụi rậm, lấp vũng nước, cống rãnh quanh chuồng và bãi chăn để côn trùng không thể cư trú
và phát triển được
1.4.2 Một số thuốc trị ký sinh đường máu trên bò
Cơ chế tác động chung của một số thuốc kháng ký sinh đường máu là tác động trên màng tế bào của ký sinh Một số loại thuốc có tác động gắn vào DNA làm ký sinh
bị bất động, mất khả năng gây bệnh và bị tiêu diệt trong vòng vài giờ Một số loại thuốc còn làm rối loạn trao đổi đường của ký sinh
Để điều trị bệnh ký sinh đường máu trên bò sữa, chúng ta có thể sử dụng một
số loại thuốc như nhóm tetracycline (oxytetracycline, doxycycline, clotetracycline), trypamidium, diminazene, naganol, acriflavin, haemosporidin, acapsin, antrycid,…
Thuốc oxytetracycline
Công thức hóa học: C22 H24 N2 O9
Công thức cấu tạo oxytetracycline:
Hình 1.8 Công thức cấu tạo của thuốc oxytetracycline
(https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/54675779#section=2D-Structure-pubchem, 2011)
Cơ chế tác động: nhóm tetracycline thường có vai trò kiềm khuẩn, nó kiềm chế quá trình tổng hợp protein vi khuẩn bởi nó gắn vào tiểu đơn vị 30S của
Trang 39ribosomes trong cơ thể sinh vật, theo cách này nó ngăn cản sự gắn kết ribosomes của ARN vận chuyển Tetracycline cũng có thể hủy bỏ sự gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosomes và thêm vào đó biến đổi tính thấm màng tế bào chất của vi sinh vật Tetracycline ở nồng độ cao cũng có thể kìm chế tổng hợp protein ở tế bào động vật hữu nhũ
Phổ tác động: là kháng sinh kiềm khuẩn phổ rộng, có tác động trên vi khuẩn
Gram dương, Mycoplasma, Chlamydia và Rickettsia
Độc tính: Oxytetracycline sử dụng cho thú non có thể là nguyên nhân đổi màu của xương, vàng răng, nâu hoặc xám màu Liều cao hay uống kéo dài có thể làm xương chậm phát triển Trên loài nhai lại, liều cao có thể là nguyên nhân giảm nhu động dạ cỏ và trì trệ sự nhai lại…
Liều dùng: Bò < 300 kg: Tiêm bắp 100 mg/ 10 – 15 kg P, liệu trình 3 – 5 ngày liên tục Bò > 300 kg: Tiêm bắp 100 mg/ 10 – 20 kg P, liệu trình 3 – 5 ngày liên tục
Thuốc diminazene
Công thức hóa học diminazene: C14 H15 N7
Công thức cấu tạo diminazene:
Hình 1.9 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene
(https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/2354#section=Top-PubChem, 2005) Công thức hóa học diminazene aceturate: C18H22N8O3
Trang 40Hình 1.10 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene aceturate
(https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/65060#section=Top-PubChem, 2005) Công thức hóa học diminazene diaceturate: C22H29N9O6
Công thức cấu tạodiminazene diaceturate:
Hình 1.11 Công thức cấu tạo của thuốc diminazene diaceturate
(https://pubchem.ncbi.nlm.nih.gov/compound/5284544#section=Top-PubChem, 2005)
Cơ chế tác động của diminazene:
- Trong ký sinh trùng, diminazene xâm nhập vào nhân tế bào và gắn kết với DNA Diminazene cũng có khuynh hướng ngăn cản sự chuyển hóa đường của ký
sinh trùng theo cách thức tương tự như các loại thuốc diệt Trypanosoma khác
- Đối với Babesia thì diminazene tác động chủ yếu lên cấu trúc và chức năng của màng tế bào Đặc tính đề kháng riêng của những Babesia này là yếu tố quyết định đến khả năng tồn tại của chúng Do đó có thể loại trừ hoàn toàn Babesia bằng
việc sử dụng liều cao diminazene Tuy nhiên, thường thì chỉ cần dùng liều lượng