Phế phẩm mảnh tước phần lớn bị thải loại nhưng cũng có những mảnh tước kích thước lớn với chất liệu tốt được sử dụng làm công cụ và đến giai đoạn muộn hơn thì chúng được sử dụng để mài t
Trang 1Bản vẽ 1 Hang Thẩm Vài
(Nguồn: Phạm Thanh Sơn, Lưu Văn Phú 2014)
PHẠM THANH SƠN *
1 Vài nét về di chỉ
Hang Thẩm Vài thuộc bản Câm, xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, có tọa độ
22019'060'' vĩ Bắc; 1050
13'47,19'' kinh Đông, được phát hiện năm 2008 và khai quật trong các mùa điền
dã năm 2009, 2010, 2014 Thẩm Vài là di chỉ Khảo cổ học có tầng văn hóa được bảo tồn tốt có giá trị trong nghiên cứu nhiều mặt về thời
tiền sử trong khu vực
Diện tích hang Thẩm Vài
khoảng 700m2, cửa quay hướng tây
nam, dạng vòm Bề mặt hang khá
phẳng nhưng có một số khu vực
trong hang đã bị đào bới để lấy
phân dơi bón ruộng nên không còn
nguyên trạng (Bản vẽ 1) Cách cửa
hang 400m phía trước là suối
Ngoặng Tuy nước chảy quanh năm
nhưng về mùa cạn lưu lượng không
lớn Lòng suối chứa nhiều cát và
những viên sỏi màu trắng ngà, kích
thước nhỏ Xưa kia, người dân thôn
Bó Ngoặng (nay là Bản Câm) vẫn
thu lượm những loài ốc, trai, trùng
trục, cua, các loài cá Theo người
dân địa phương, cách ngày nay
khoảng 50 năm trước, xung quanh khu vực hang (thung lũng Bó Ngoặng) còn là rừng rậm, những loài động vật như hổ, hươu, nai, sơn dương, lợn rừng, khỉ, sóc, chim, nhím, gà rừng; các loài bò sát như trăn, rắn, chuột, dúi…vẫn khá phổ biến Chắc chắn ở thời kỳ tiền sử những loài này còn phong phú hơn
Hang Thẩm Vài được phát hiện năm 2008 (Trình Năng Chung 2008, 2009) Sau đó, Thẩm Vài
tiếp tục được khai quật năm 2009, 2010 và 2014 với 02 hố khai quật (Bản vẽ 1) (Trình Năng Chung,
Phạm Thanh Sơn 2009, 2010; Phạm Thanh Sơn 2014)
*ThS Viện Khảo cổ học
Trang 22 Địa tầng
Địa tầng hang Thẩm Vài được thành tạo khá dày, khu vực hố khai quật 2009 dày khoảng 2,5m
và hố khai quật 2010, 2014 dày trên 3m (Bản vẽ 2)
Kết quả nghiên cứu địa tầng năm 2010 và 2014 cho thấy, ở đây có thể có một lớp vô sinh ngăn cách và nó dường như là ranh giới cho một sự chuyển biến mạnh mẽ, sự khác biệt về hành vi sử dụng nguyên liệu và chế tác công cụ giai đoạn sớm với giai đoạn muộn, sự thay đổi và thành phần và số
lượng loài động vật săn bắt được (Bản vẽ 2; Biểu đồ 1) Nếu như ở giai đoạn sớm tỷ lệ công cụ quartz,
nguyên liệu quartz áp đảo nhóm công cụ nguyên liệu không phải là nguyên liệu quartz thì tới giai đoạn muộn sự đối lập đó là ngược lại với sự phổ biến của nguyên liệu cuội không phải là quartz và sự chiếm
tỷ lệ thấp của công cụ cuội quartz (Phạm Thanh Sơn 2014)
3 Loại hình di vật
Sưu tập 2008 thu được 73 hiện vật đá với
một số loại hình công cụ đá, mảnh tước (Bảng 1)
Trong những lớp văn hóa sớm của hố khai
quật năm 2014 thu được một số công cụ đá nhưng số
lượng ít hơn nhiều so với mảnh tước (Phạm Thanh
Sơn 2104); (Biểu đồ 3-5)
Những bằng chứng từ đợt khảo sát 2008,
khai quật 2009, 2010 và 2014 có thể phản ánh một sự
phát triển về mặt kỹ thuật chế tác đồ đá ở Thẩm Vài
Phần lớn công cụ đá không định hình, chúng
chủ yếu là dạng chopper, được ghè chủ yếu ở một
mặt Đối với nhóm công cụ chặt thô chất liệu quartz
đôi khi cũng bắt gặp kỹ thuật ghè hai mặt nhưng hạn
Bản vẽ 2
Biểu đồ 1 Hiện vật đá sưu tầm 2008
(Nguồn: Phạm Thanh Sơn 2014)
Ảnh 1 Địa tầng vách Đông Bắc
Nguồn: Phạm Thanh Sơn 2014
Trang 3chế và không điển hình (Phạm Thanh Sơn
2014) Những tư liệu hiện tại về diện mạo và
hình thái bộ công cụ giai đoạn sớm không
mang đặc trưng của văn hóa Hòa Bình (Bản vẽ
3) Các thông số, tiêu chí mảnh tước ở đây
cũng chứng minh được từ giai đoạn sớm đến
giai đoạn muộn, cư dân Thẩm Vài luôn duy trì
kỹ thuật thanh xuân hóa công cụ
Các dữ liệu dẫn đến một suy luận là,
người cổ Thẩm Vài phải chăng đã ở trong một
tình trạng bị khan hiếm về nguyên liệu (Phạm
Thanh Sơn 2011, 2014) Sự khan hiếm nguyên
liệu khiến kích thước công cụ ở đây không
lớn, tần suất ghè đẽo khá cao Phế phẩm mảnh
tước phần lớn bị thải loại nhưng cũng có
những mảnh tước kích thước lớn với chất liệu
tốt được sử dụng làm công cụ và đến giai đoạn
muộn hơn thì chúng được sử dụng để mài tạo
những công cụ rìu mài lưỡi bên cạnh những
công cụ rìu mài được ghè tạo chỉnh chu hơn
(Phạm Thanh Sơn 2014)
Thực tế cho thấy, dường như có một
sự chuyển biến từ kỹ thuật ghè đẽo đến kỹ
thuật mài ở đây Tư liệu về địa tầng gắn với
bối cảnh hiện vật hiện tại có thể cho phép
chúng ta dự đoán về sự biến chuyển đó diễn ra
ở mức văn hóa muộn bên cạnh sự bảo lưu
mạnh mẽ của kỹ thuật, hình thái công cụ ghè
đẽo truyền thống (Phạm Thanh Sơn, 2014)
Ở giai đoạn sớm, công cụ được ghè
đẽo chủ yếu dựa vào những hạch cuội nguyên
liệu kích thước không lớn Nếu như những
hạch cuội chất liệu không phải quartz thì tỷ lệ
các mảnh tách/mảnh vỡ tách ra không lớn
trong khi đó ở chất liệu cuội quartz thì chúng
lại rất lớn Tình trạng những mảnh tách đó
luôn dày hơn những mảnh tước và chúng có
thể là sản phẩm của quá trình chế tác nhưng do
cấu tạo cuội nguyên liệu không thuần nhất nên
rủi ro từ quá trình chế tác cao
Biều đồ 4 Tỷ lệ hiện vật lớp 22 Biểu đồ 3 Tỷ lệ hiện vật lớp 21b
Biểu đồ 5 Tỷ lệ hiện vật lớp 23 Biểu đồ 2 Nguyên liệu công cụ khai quật 2009
(Nguồn: Trình Năng Chung, Phạm Thanh Sơn 2009)
Trang 4Biểu đồ 7 Tỷ lệ nguyên liệu lớp 23 Biểu đồ 6 Tỷ lệ nguyên liệu lớp 22
Biểu đồ 9 Tỷ lệ hiện vật phát hiện
ở mức văn hóa muộn năm 2010
Nhóm công cụ ghè đẽo từ hạch cuội
Cuộc khai quật năm 2014 ở những mức văn
hóa sớm thu được 499 hiện vật trong 3 mức văn hóa
Ngoài ra, những người khai quật còn phát hiện được 1
viên tektite (Phạm Thanh Sơn 2014) Toàn bộ số công
cụ ở những mức văn hóa sớm đều là những công cụ dạng
hạch nhỏ, gồm có công cụ hai rìa, công cụ rìa dọc
Những công cụ giai đoạn sớm đều là những
công cụ không định hình, kích thước nhỏ, được ghè
đẽo không chỉnh chu Nguyên liệu ở mức văn hóa sớm
đều là cuội quartz Những nguyên liệu khác có tỷ lệ
khiêm tốn (Biểu đồ 6, 7)
Công cụ ở lớp văn hóa sớm được ghè từ một
tới hai lớp Quy mô mảnh tước tách ra khác nhau Tình
trạng của những công cụ đó đều phản ánh kỹ thuật ghè
đẽo trực tiếp, có thể là xoay tay hoặc ghè trực diện, tách
ra các mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội Không thấy
những mảnh tước có dạng hình lưỡi liềm (crescent) của
kỹ thuật ghè xoay tay đối với loại nguyên liệu này
Nếu so sánh tỷ lệ nguyên liệu được sử dụng chế
tác công cụ ở mức văn hóa muộn có thể nhận ra sự khác
biệt Loại hình công cụ cuội ghè đẽo ở giai đoạn muộn
phong phú và nguyên liệu đa dạng hơn Tỷ lệ công cụ
sử dụng nguyên liệu cuội quartz rất nhỏ mà thay vào
đó là cuội andesite, sét bột kết, granite, rhyolite, basalt,
đá vôi (Biểu đồ 8) Với diễn biến hiện vật đá của hố
khai quật 2010 và 2014 có thể khẳng định rằng, tính
định hình của bộ công cụ không cao
Cách phân loại trong sưu tập di vật 2010, có
một số công cụ được xếp vào nhóm công cụ hình đĩa
nhưng thực tế hình dáng không qui chuẩn như các công
cụ hình đĩa ghè một mặt điển hình của văn hóa Hòa
Bình Thậm chí, có một số công cụ chưa được ghè hết
ở chu vi của hạch cuội nguyên liệu
Số lượng công cụ cuội ghè đẽo phát hiện
năm 2010 định hình và không định hình là 25 chiếc
Biểu đồ 8 Tương quan nguyên liệu chế tác công cụ ở mức văn hóa muộn năm 2010
Trang 5Các công cụ này đều được ghè đẽo từ những
hạch cuội sông/suối, hình dáng và độ dày
khác nhau nhưng điểm chung là kích thước
của những hạch cuội nguyên liệu được dùng
để chế tác không lớn (Bản vẽ 3) Trong sưu
tập rất hiếm các công cụ dạng hình đĩa hay
hình bầu dục; rìu ngắn được chế tác từ quá
trình bổ cuội Qua diễn biến của di vật đá
trong địa tầng có thể thấy đến giai đoạn
muộn bộ công cụ được định hình ổn định
hơn và đã bắt đầu có sự xuất hiện của kỹ
thuật mài (Bản vẽ 3)
Rìu mài lưỡi
Cuộc khai quật 2009 không phát
hiện rìu mài lưỡi nhưng đã phát hiện bàn
mài và hiện vật được mài Trong đợt khảo
sát 2008, phát hiện một số rìu mài lưỡi và
bàn mài tại khu vực hố đào phân dơi (Biểu
đồ 1) Năm 2010, chúng tôi cũng phát hiện 2
rìu mài lưỡi được mài từ mảnh tước (Trình
Năng Chung, Phạm Thanh Sơn, 2011) (Bản
vẽ 3; biểu đồ 1) Như vậy, số lượng rìu mài
lưỡi phát hiện qua khảo sát và khai quật ở
Thẩm Vài đến nay là 6 chiếc
Về chất liệu, những rìu mài lưỡi có
thể được tận dụng từ một mảnh tước lớn
chất liệu granite hay basalt, sau đó được mài
ở một đầu mà hoàn toàn không qua chế tác
Cuội chất liệu quartz không được sử dụng để
chế tạo rìu mài lưỡi Loại rìu mài lưỡi thứ
hai được từ ghè đẽo và mài từ cuội Hạch cuội sẽ được ghè tạo thành phác vật hình bầu dục và một đầu được mài Diện mài chỉ tập trung ở rìa lưỡi và chưa phát hiện được hiện vật nào được mài lan thân (Phạm Thanh Sơn 2014)
Mảnh tước
Trong số những di vật đá, mảnh tước chiếm tỷ lệ lớn nhất Giữa giai đoạn sớm và muộn, mảnh tước cũng có sự khác nhau nhất định Trên cơ sở phân loại mảnh tước theo diễn biến địa tầng, chúng ta
Bản vẽ 3 Diễn biến công cụ đá ghè đẽo và rìu mài
(Nguồn: Trình Năng Chung, Phạm Thanh Sơn 2010
Phạm Thanh Sơn 2014)
Trang 6có thể làm sáng tỏ những kỹ thuật chế tác đá, hành
vi của cư dân tiền sử với nguyên liệu, công cụ đá
Đối với nhóm mảnh tước ở những lớp văn hóa
sớm, loại hình có sự giản đơn hơn so với giai đoạn
muộn Về mặt chất liệu, mảnh tước đá quartz có
diện ghè đa phần còn vỏ cuội; loại mảnh tước riềm
cuội, diện ghè và đuôi còn vỏ cuội không có hoặc
số lượng rất ít
Căn cứ loại hình mảnh tước có thể thấy,
những hạch cuội nguyên liệu chất liệu quartz
không phù hợp để bổ hay ghè trên tay với kỹ thuật
xoay tay giống như những công cụ chất liệu không
phải là cuội quartz (Bản vẽ 4-6) Điều này là hợp
lý khi số lượng những mảnh tước quartz với hình
dáng riềm cuội (hình lưỡi liềm/crescent) hầu như
không có mặt Thực tế, loại hình mảnh tước chất
liệu cuội quartz đơn giản hơn và phần lớn chúng là
những mảnh tước với diện ghè còn vỏ cuội
Trong khi đó những mảnh tước có chất
liệu là granite, andesite, rhyolite hay basalt lại có
sự đa dạng hơn Cũng như diễn biến của nhóm
mảnh tước năm 2009, giai đoạn sớm ở đây cơ bản
có hai loại đó là mảnh tước đầu tiên và mảnh tước
thứ Tuy nhiên, tỷ lệ mảnh tước thứ gấp nhiều lần
mảnh tước đầu tiên Mảnh tước thứ được phân chia
thành mảnh tước riềm cuội, mảnh tước diện ghè
còn vỏ cuội, mảnh tước diện ghè và đuôi còn vỏ
cuội (Bản vẽ 7-9) Chúng có thể là sản phẩm của
quá trình ghè xoay tay hay những mảnh tước của
quá trình chế tác hoặc thanh xuân hóa (diện ghè
còn cỏ cuội/đuôi và diện ghè còn vỏ cuội) Trong
khi chế tác, do những xung lực hay lỗi kỹ thuật
nên khiến cho có nhiều những mảnh bị tách ra
Chúng không có diện ghè và không mang những
tiêu chí mảnh tước
Những kết quả nghiên cứu về loại hình
mảnh tước ở các lớp văn hóa sớm phần nào đã cho
thấy, ngay ở giai đoạn chiếm cứ sớm nhất tại hang
Thẩm Vài, cư dân cổ có lẽ đã không có sự dồi dào
về nguồn nguyên liệu Chính vì thế, những công cụ
cuội chất liệu quartz hay không phải là quartz phần
nào cũng được thanh xuân hóa (Bản vẽ 7-14)
Bản vẽ 7 Mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội lớp 21b
Bản vẽ 8 Mảnh tước diện ghè
và đuôi còn vỏ cuội lớp 21b
Bản vẽ 4 Mảnh tước cuội Quartz ở lớp 21b
Bản vẽ 5 Mảnh tước cuội Quartz ở lớp 22
Bản vẽ 6 Mảnh tước cuội Quartz ở lớp 21b
Trang 7Về mặt chất liệu, mảnh tước sưu tập khai quật năm 2010 khá phong phú, chúng có thể là mảnh tước được ghè tách từ cuội andesite, granite, rhyolite, sét bột kết, basalt hay basalt bọt… Mảnh tước chất liệu quartz có tỷ lệ rất khiêm tốn Về mặt loại hình, những mảnh tước thu được ở giai đoạn sau có
sự da dạng hơn hẳn Ngoài những loại mảnh tước có mặt ở giai đoạn sớm thì ở giai đoạn muộn còn có
sự hiện diện của loại mảnh tước diện ghè và mặt lưng còn vỏ cuội, đuôi còn vỏ cuội, và loại mảnh tước không còn vỏ cuội (Trình Năng Chung, Phạm Thanh Sơn 2011)
Tổng số mảnh
tước thu được ở các lớp
khai quật năm 2010 (từ
lớp 1 tới lớp 20) là 3275
mảnh Số lượng mảnh
tước diện ghè còn vỏ
cuội chiếm 61,44%
Những loại mảnh tước
khác có tỷ lệ nhỏ hơn Mật độ xuất hiện của mảnh tước nhiều từ lớp 2 tới lớp 6 sau đó lại rất thưa thớt mặc dù cấu tạo tầng văn hóa I không có sự biến đổi hay khác biệt nào đáng kể và sau đó lại xuất hiện nhiều hơn từ lớp 15 tới 20 (Trình Năng Chung, Phạm Thanh Sơn 2011) Hiện tượng này chúng tôi cũng ghi nhận ở diễn biến các lớp khai quật năm 2009 Loại hình mảnh tước phát hiện được không có sự khác biệt với mảnh tước phát hiện năm 2010 Tỷ lệ mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội là 1140 mảnh chiếm 53,72% Các loại mảnh tước khác còn lại chiếm tỷ lệ từ 1,04% tới 17% Mật độ xuất xuất hiện của mảnh tước cũng tập trung từ lớp 10 tới 19 Các lớp phía trên rất thưa thớt và thậm chí có những lớp không phát hiện được mảnh tước Cùng với sự ít ỏi của mảnh tước là sự vắng mặt của những loại hình công cụ từ lớp 1 tới lớp 8, chúng chỉ xuất hiện nhiều hơn từ lớp 9 tới lớp 19 (Trình Năng Chung, Phạm Thanh Sơn 2010)
Tại khu vực cửa hang thuộc hố khai quật năm 2009 cho thấy, vật chất thải lại trong một đợn vị địa tầng ở giai đoạn muộn rất ít ỏi; mức độ và thời gian cư trú ở giai đoạn sớm đậm hơn được biểu hiện
rõ qua diễn biến theo độ sâu của tầng văn hóa
2.4 Hành vi công cụ đá trong bối cảnh môi trường ở Thẩm Vài
Nguồn nguyên liệu
Có thể nhận thấy một quy luật gần như phổ biến đối với quá trình lựa chọn địa bàn cư trú gắn với nguồn nước, nguồn nguyên liệu của cư dân cổ Những địa thế tốt, gắn với sự dồi dào về nguồn nước, nguyên liệu và thức ăn đều được ưu tiên chọn lựa Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều di tích thuộc văn hóa Sơn Vi hay Hòa Bình ở nước ta vẫn có nhiều địa điểm người cổ vẫn chọn lựa để cư trú mặc dù lại khá xa nguồn nguyên liệu, cư dân hang Thẩm Vài cũng là một trong những trường hợp đó
Nghiên cứu nguyên liệu và hành vi công cụ trong bối cảnh tự nhiên, chúng ta thấy dường như hình dáng của đồ đá thường gắn với điều kiện tự nhiên Nguyên liệu cũng là một điều kiện quan trọng, ảnh hưởng tới hình dáng và kỹ thuật công cụ (Marie-Louise Inizan, Hélène Roche and Jacques Tixier,
Bản vẽ 9 Mảnh tước riềm cuội lớp 21b
Trang 81992) Ngoài ra, những nghiên cứu về hình dáng cụ thể của công cụ cũng có thể dẫn đến suy đoán về chức năng (William Andrefsky 1997) Ngược lại, hình dáng, số lượng, loại hình của công cụ liệu cũng
có thể liên quan đến sự sẵn có của nguyên liệu (William Andrefsky 1994) Hơn nữa, vấn đề nguồn nguyên liệu với những nghiên cứu hiện nay đôi khi khó tiến hành nghiên cứu ngoài thực địa mà phải có
những phân tích về mặt thạch học (lát mỏng-thin sectioning) gắn với địa chất học Vì thế, việc nghiên
cứu nguồn nguyên liệu với hành vi công cụ đôi khi còn liên quan tới chất lượng của dòng nguyên liệu
mà người cổ thu lượm (David R Braun et al 2008)
Trong những lần khai quật hang Thẩm Vài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát mở rộng ở những
hệ thống suối, mỏ nước Tại đây có suối Bó Ngoặng nhưng lưu lượng nước thấp, không có nguồn cuội cho chế tác công cụ Xa hơn về phía tây nam, tại thôn Tân Lập, xã Thổ Bình là dòng suối Bản Khẻng với sự áp đảo của loại hình cuội phiến và cuội đá quartz, andesite Cuội chất liệu quartz ở đây nhiều hơn nhưng độ mài mòn kém, nhiều góc cạnh, khó chế tác, trong khi đó, nguyên liệu cuội đá phiến có tỷ lệ lớn nhất nhưng mềm, không phù hơp để làm công cụ
Thực nghiệm và quan sát thực tế những hạch đá quartz tại hang Thẩm Vài cũng có thể nhận ra những nét tương đồng với đá nguyên liệu tại suối Bản Khẻng Không loại trừ khả năng người cổ đã mang nguyên liệu từ suối này về hang với một đoạn đường khoảng 10km và sau khi mang về di chỉ, nguyên liệu mới được chế tác (Phạm Thanh Sơn 2011) Tuy nhiên, nguyên liệu tìm thấy trong hố khai quật có sự đa dạng nhất định nên nguồn đá tại suối Bản Khẻng cũng chỉ có thể là một trong những nơi khai thác
Bản vẽ 10 Mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội lớp 22
Bản vẽ 11 Mảnh tước diện ghè
và đuôi còn vỏ cuội lớp 22
Bản vẽ 12 Mảnh tước riềm cuội lớp 22
Trang 9Rõ ràng là, người cổ Thẩm Vài đã ứng xử với nguồn nguyên liệu qua từng thời kỳ khá rõ ràng Quá trình đó được biểu hiện từ sự biến đổi của những thành phần nguyên liệu với sự áp đảo của nguyên liệu quartz ở giai đoạn sớm và sau đó đến giai đoạn muộn là sự ưa chuộng những chất liệu cuội khác để
có thể dễ dàng chế tác hơn và vì thế mà tính định hình của bộ công cụ cũng cao hơn Điều này cho thấy, dường như càng về sau, sự am hiểu về kỹ thuật, kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu càng tốt hơn Sự xuất hiện của kỹ thuật mài cũng phần nào phản ánh kinh nghiệm, sự phát triển của kỹ thuật chế tác đá hướng tới sự hiểu quả hơn và có tính cách mạng trong quá trình phát triển của kỹ thuật chế tác đá
Qua hai lần khai quật và khảo sát tại hang Thẩm Vài, số lượng nguyên liệu sưu tầm được trong
hố xáo trộn và nguyên liệu trong hố khai quật không nhiều Điều này cho thấy, việc chọn lựa nguyên liệu của cư dân cổ Thẩm Vài ít nhiều có sự chọn lọc theo mục đích đặt ra trước và được sử dụng một cách tối đa khi đem về nơi cư trú Thực tế, đồ đá được chế tác ở đây cũng có những chiếc là sản phẩm lỗi nhưng
tỷ lệ này không nhiều
Chung qui lại, cách tìm kiếm nguyên liệu và hành vi chế tác công cụ đá ở Thẩm Vài có mối liên
hệ chặt chẽ Mối liên hệ đó xuất phát từ bối cảnh mà họ sinh sống không có sự đa dạng, dồi dào về nguyên liệu dẫn đến các đặc thù trong kỹ nghệ chế tác công cụ đá ở đây
Kỹ thuật chế tác với vấn đề chức năng
Chúng ta có thể khẳng định rằng, dù các công cụ có được chế tác với các kỹ thuật và chất liệu không giống nhau nhưng mục đích cuối cùng chính là phục vụ cho nhu cầu khai thác tự nhiên và tìm kiếm nguồn thức ăn Kỹ thuật có sự liên hệ mật thiết tới đặc tính của nguyên liệu và ngược lại, đặc tính của nguyên liệu có thể qui định những hình dáng cơ bản của công cụ được chế tác bên cạnh sự phụ thuộc vào mục đích chế tác Đồng thời, dựa vào hình dáng của công cụ, cũng có thể giúp đưa ra những suy đoán tới công năng của mỗi loại hình công cụ (William Andrefsky, 1997)
Bản vẽ 13 Mảnh tước diện ghè còn vỏ cuội lớp 23
Bản vẽ 14 Mảnh tước riềm cuội lớp 23
Trang 10Đối với nguồn nguyên liệu như đá obsidian, đá lửa ở châu Âu, cư dân tiền sử có thể chế tác ra các công cụ có sự ổn định, đồng bộ về hình dáng của các công cụ dựa trên đặc tính ổn định về cấu tạo/cấu trúc của đá nguyên liệu Tuy nhiên, với những nguyên liệu phổ biến ở nước ta gồm đá gốc, cuội
có nguồn gốc sông/suối thì quá trình chế tác để có những công cụ mang tính đồng bộ cao như ở châu Âu
là điều không thể Vì thế, với đặc tính về đá nguyên liệu xuyên suốt thời kỳ tiền sử ở nước thì các cuội nguyên liệu khi được thu lượm về suy cho cùng cũng chỉ có một số cách ghè tạo công cụ
Nếu là từ các hòn cuội có độ bào mòn tốt và hình dáng thích hợp thì người ta chỉ chọn cách ghè theo chiều dọc, chiều ngang, ghè xung quanh, ghè hai rìa tiến về một đầu để tạo ra các công cụ kiểu chopper hay công cụ mũi nhọn Trong một trường hợp khác, khi cuội/đá nguyên liệu có hình dáng góc cạnh thì việc ghè đẽo ở một rìa cạnh được tiến hành sao cho khi cầm công cụ được thuận tiện nhất, hiệu quả sử dụng cao nhất Khi đó, công cụ có thể sẽ không có hình dáng xác định Hoặc phổ biến hơn đó là
kỹ thuật pha nguyên liệu bằng việc sử dụng kỹ thuật bổ/tách mảnh lớn để tạo ra các công cụ mảnh (Hoàng Xuân Chinh 1989) Như vậy, điều này phản ánh rằng, hình dáng của công cụ có thể phụ thuộc vào ý muốn/dự định của người thợ chế tác nhưng cũng phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính của nguyên liệu
Có thể thấy rằng, kỹ thuật chế tác công cụ đá Thẩm Vài thuần nhất là ghè đẽo Đến giai đoạn muộn bắt đầu xuất hiện kỹ thuật mài nhưng công cụ chỉ được mài rìa lưỡi trên cơ sở tận dụng những mảnh tước lớn hoặc hiện vật đã qua ghè đẽo tạo hình rồi mới được mài lưỡi
Kết quả nghiên cứu ở Thẩm Vài trong tình hình tư liệu hiện nay cho thấy, nguyên liệu dùng để chế tác công cụ có thể là cuội sông, suối hay thậm chí là những mảnh đá vôi có thể được thu lượm ngay tại nơi cư trú hoặc cách không xa nơi cư trú; Nguyên liệu cuội ở Thẩm Vài đa số kích thước nhỏ; Tỷ lệ mảnh tước thoải loại từ quá trình chế tác chiếm phần lớn, biểu hiện cho xu hướng ghè đẽo trực tiếp là chủ đạo Sự đa dạng của loại hình mảnh tước có thể xuất phát từ hai khía cạnh Thứ nhất, đó là sự kém
am hiểu về kỹ thuật nên có thể tạo nhiều hiện vật lỗi (phế phẩm/phế vật) trong quá trình ghè đẽo, biểu hiện qua số lượng mảnh tước nhiều và đa dạng Thứ hai, sự đa dạng của loại hình mảnh tước cùng với
số lượng lớn của chúng trong sưu tập cũng phản ánh mức độ và cường độ ghè đẽo cao do sự kém dồi dào của nguyên liệu Chính vì thế, những mảnh tước kích thước nhỏ ở đây có lẽ vừa là sản phẩm thải loại, lại vừa là sản phẩm của quá trình thanh xuân hóa và chính nó phản ánh một xu hướng của quá trình tiết kiệm nguyên liệu
Với những di vật thu được cho đến nay ở Thẩm Vài, có thể nhận thấy rằng, kỹ thuật bổ cuội hầu như không được sử dụng ở đây Các công cụ ghè đẽo với nhiều hình dáng khác nhau là thành quả của quá trình ghè đẽo từ các hạch cuội phần lớn là cuội dẹt với hình bầu dục hoặc góc cạnh Các công
cụ mảnh ở đây chủ yếu là tận dụng từ các mảnh tước có thể chất liệu là quartz hoặc các chất liệu khác Nhưng tỷ lệ công cụ mảnh ở đây không lớn
Trong nghiên cứu hành vi của cư dân tiền sử với công cụ đá dưới những tác động từ yếu tố môi trường gồm có nguồn thức ăn, thảm thực vật, bối cảnh địa hình, địa mạo thì yếu tố kỹ thuật đóng một