Bằng tấm lòng đôn hậu chân thành nhà văn đã gửi gắm vào trong không gian tối đen như mực ấy những mầm sống đang cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng
Trang 1Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
VỢ NHẶT (Kim Lân) MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH, LỜI BÌNH VÀ TƯ LIỆU
1 Wikipedia:
Về tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân viết:
"Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói
người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người."
2 Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống ở các nhân vật: Tràng, người
vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân)
Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân-một nhà văn hiện thực
có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với "thuần hậu phong thủy" ấy Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay viết ngay tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" khi hòa bình lập lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy Và cuối cùng, truyện ngắn "Vợ nhặt" đã ra đời Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ
Trong một lần phát biểu, Kim Lân từng nói "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người" Và điểm sáng mà nhà văn muốn đem vào tác phẩm chính là ở chỗ đó Đó chính là tình người và niềm hi vọng về cuộc sống, về tương lai của những con người đang kề cận với cái chết Bằng cách dẫn truyện, xây dựng lên tình huống "nhặt vợ" tài tình kết hợp với khả năng phân tích diễn biến tâm lý nhân vật thật tinh tế và sử dụng thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kỹ lưỡng ấy, nhà văn đã tái hiện lại trước mắt ta một không gian năm đói thật thảm hại, thê lương Trong đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bóng ma vật vờ, lặng lẽ giữa tiếng hờ khóc và tiếng gào thét kinh hoàng của đám quạ Bằng tấm lòng đôn hậu chân thành nhà văn đã gửi gắm vào trong không gian tối đen như mực ấy những mầm sống đang
cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anh Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùng đám người đói phá kho thóc Nhật ở cuối thiên truyện
Có thể nói rằng, Kim Lân đã thật sự xuất sắc khi dựng lên tình huống "nhặt vợ" của anh cu Tràng Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau khi miếng ăn của một người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người này người kia Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỷ hơn là vị tha
và người ta rất dễ đối xử tàn nhẫn, làm cho nhau đau khổ Nhưng nhà văn Kim Lân lại khám phá ra một điều ngược lại như ở các nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ Chúng ta từng kinh hãi trước
"xác người chết đói ngập đầy đường", "người lớn xanh xám như những bóng ma", trước "không khí vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi ngây của xác người", từng ớn lạnh trước "tiếng qua kêu từng hồi thê thiết" ấy nhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người vợ của Tràng nữa Một anh thanh niên của cái xóm ngụ cư ấy như Tràng, một con người - một thân xác vạm vỡ, lực lưỡng mà dường như ngờ nghệch thô kệch và xấu xí ấy lại chứa đựng biết bao nghĩa tình cao đẹp "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào", vậy mà Tràng vẫn đèo bòng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc đời phía trước mình ra sao Tràng đã thật liều lĩnh Và ngay cô vợ Tràng cũng thế Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ lại thành một gia
Trang 2Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
đình Điều ấy thật éo le và xót thương vô cùng Và dường như lúc ấy trong con người của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu thương chân thành Và dường như hắn đang ngầm chứa một ao ước thiết thực về sự đầm ấm của tình cảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi Hành động của Tràng dù vô tình, không có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều ấy cũng hé mở cho ta thấy tình cảm của một con người biết yêu thương, cưu mang, đùm bọc những người đồng cảnh ngộ Như một lẽ đương nhiên, Tràng đã rất ngỡ ngàng, hắn đã "sờ sợ", "ngờ ngợ", "ngỡ ngàng" như không phải nhưng chính tình cảm của vợ chồng ấy lại củng cố và nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách nhiệm với gia đình trong hắn Tình nghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng thay đổi hẳn tâm tính Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn, Tràng đã sớm trở thành một người chồng thật sự khi đón nhận hạnh phúc của gia đình Hạnh phúc ấy như một cái gì đó cứ "ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như
có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng" Tình yêu, hạnh phúc ấy khiến "trong một lúc Tràng dường như quên đi tất cả, quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những tháng ngày đã qua" Và Tràng đã ước ao hạnh phúc Mạch sống của một người đàn ông trong Tràng đã trở dậy Hắn có những thay đổi thật bất ngờ nhưng rất hợp logic Những thay đổi ấy không gì khác ngoài tâm hồn đôn hậu, chất phác và giàu tình yêu thương hay sao? Trong con người của Tràng khi trở dậy sau khi chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa mà giờ đây đã là một người con có hiếu, một người chồng đầy trách nhiệm dù chỉ trong ý nghĩ Thấy mẹ chồng nàng dâu quét tước nhà cửa, hắn đã bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc "Hắn thấy hắn yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng", "hắn thấy mình
có trách nhiệm hơn với vợ con sau này" Hắn cũng xăm xắn ra sân dọn dẹp nhà cửa Hành động cử chỉ
ấy ở Tràng đâu chỉ là câu chuyện bình thường mà đó là sự biến chuyển lớn Chính tình yêu của người
vợ, tình mẹ con hòa thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn ước vọng về hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống
sẽ đổi thay khi hắn nghĩ đến đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới Rồi số phận, cuộc đời của hắn, của vợ hắn và cả người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi Hắn tin thế
Nạn đói ấy không thể ngăn cản được ánh sáng của tình người Đêm tối ấy rồi sẽ qua đi để đón chờ ánh sáng của cuộc sống tự do đang ở phía trước trước sức mạnh của cách mạng Một lần nữa, Kim Lân không ngần ngại gieo rắc hạnh phúc, niềm tin ấy trong các nhân vật của mình Người vợ nhặt không phải ngẫu nhiên xuất hiện trong thiên truyện Thị xuất hiện đã làm thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy, đã làm cho những khuôn mặt hốc hác, u tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên Từ con người chao chát chỏng lỏn đến cô vợ hiền thục, đảm đang là một quá trình biến đổi Điều gì làm thị biến đổi như thế? Đó chính là tình người, là tình thương yêu Thị tuy theo không Tràng về chỉ qua bốn bát bánh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta không khinh miệt thị Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp nghẹt quyền sống con người Thị xuất hiện không tên tuổi, quê quán, trong thư thế "vân vê tà áo đã rách bợt", điệu bộ trông thật thảm hại nhưng chính con người lại gieo mầm sống cho Tràng, làm biến đổi tất cả, từ không khí xóm ngụ cư đến không khí gia đình Thị đã đem đến một luồng sinh khí mới, sinh khí ấy chỉ có được khi trong con người thị dung chứa một niềm tin, một ước vọng cao cả vào sự sống, vào tương lai Thị được miêu tả khá ít song
đó lại là nhân vật không thể thiếu đi trong tác phẩm Thiếu thị, Tràng vẫn chỉ là anh Tràng của ngày xưa,
bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ, cùng cực Kim Lân cũng thật thành công khi xây dựng nhân vật này để góp thêm tiếng lòng ca ngợi sức sống của vẻ đẹp tình người, niềm tin ở cuộc đời phía trước trong những con người đói khổ ấy Và thật ngạc nhiên, khi nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩ đến tuổi trẻ như Tràng và người vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét độc đáo vô cùng: tình cảm, ước vọng ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỹ ở nhân vật
bà cụ Tứ Đến nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của mình trong bút pháp miêu
tả tâm lý nhân vật Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện mới xuất hiện nhưng nếu thiếu đi nhân vật này, tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân bản Đặt nhân vật bà cụ Tứ vào trong tác phẩm, Kim Lân đã cho chúng
ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn đói Bao giờ cũng thế, các nhà văn muốn nhân vật nổi bật cá tính của mình thường đặt nhân vật vào một tình thế thật căng thẳng Ở đó dĩ nhiên phải có sự đấu
Trang 3Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
tranh không ngừng không những giữa các nhân vật mà độc đáo hơn là ngay chính trong nội tâm của nhân vật ấy Bà cụ Tứ là một điển hình Việc Tràng lấy vợ đã gây một chấn động lớn trong tâm thức người mẹ nghèo vốn thương con ấy Bà ngạc nhiên ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một người đàn bà trong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến Hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên bà cụ đã "cúi đầu nín lặng" Cử chỉ, hành động ấy chất chứa bao tâm trạng Đó là sự đan xen lẫn lộn giữa nổi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà thật căng thẳng Sau khi thấu hiểu mọi điều
bà nhìn cô con dâu đang "vân vê tà áo đã rách bợt" mà lòng đầy thương xót Bà thiết nghĩ "người ta có gặp bước khó khăn này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ" Và thật xúc động
bà cụ đã nói, chỉ một câu thôi nhưng sâu xa và có ý nghĩa vô cùng: "Thôi, chúng mày phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng"
Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình đang ngấp nghé trước vực thẳm của cái chết Nhưng trong tâm thức người mẹ nghèo ấy, đói khổ không phải là vật cản lớn nữa Đói rét thật nhưng trong lòng mà cụ vẫn sáng lên tấm lòng yêu thương chân thành Bà thương con, thương dâu và thương cho chính bản thân mình Bà cụ Tứ từ những nỗi lo, nỗi tủi cực về gia cảnh vẫn không ngừng bùng cháy lên ngọn lửa của tình người Bà đã giang tay đón nhận đứa con dâu lòng đầy thương xót, trong tủi cực nhưng vẫn ngầm chứa một sức sống thật mãnh liệt Chính ở người mẹ nghèo khó ấy, ngọn lửa của tình người, tình thương yêu nhân loại ấy bùng cháy mạnh mẽ nhất Trong bóng tối của đói nghèo đang hùng hổ vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng những con mình niềm tin về cuộc sống Bà nhắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà, rồi việc sinh con đẻ cái, bà lão nói toàn truyện vui trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại Bà đã đón nhận hạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lòng mình Đặc biệt chi tiết nồi cám ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tình người Nồi chè cám nghẹn bứ cổ và đắng chát ấy lại là món quà của một tấm lòng đôn hậu chất chứa yêu thương Bà lão "lễ mễ" bưng nồi chè và vui vẻ giới thiếu: "Chè khoán đây Ngon đáo để cơ" Ở đây nụ cười đã xen lẫn nước mắt Bữa cơm gia đình ngày đói ở cuối thiên truyện không khỏi làm chạnh lòng chúng ta, một nỗi xót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung chứa một sự cảm phục lớn ở những con người bình thường và đáng quý ấy
Kim Lân bằng nghệ thuật viết văn già dặn, vững vàng đã đem đến một chủ đề mới trong đề tài về nạn đói Nhà văn đã khẳng định ánh sáng của tình người thật thành công ở ba nhân vật Điều làm chúng
ta trân trọng nhất chính là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất
ở những thân phận nghèo đói, thảm hại kia Ba nhân vật: Tràng, vợ Tràng và bà cụ Tứ cùng những tình cảm, lẽ sống cao đẹp của họ chính là những điểm sáng mà Kim Lân từng trăn trở trong thời gian dài để thể hiện sao cho độc đáo một đề tài không mới Tác phẩm đã thể hiện thành công nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, khả năng dựng truyện và dẫn truyện của Kim Lân-một nhà văn được đánh giá là viết ít nhưng tác phẩm nào cũng có giá trị là vì lẽ đó
"Cái đẹp cứu vớt con người" (Dostoevsky) Vâng, "vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy
Nguyễn Thị Thu Trang
3 Báo Dân Trí:
“Tôi thật cảm động, trong khi giới trẻ đang bị chi phối bởi nhiều vấn đề của xã hội, vẫn có một học sinh cảm nhận được vẻ đẹp sâu sắc của dòng văn học hiện thực trước Cách mạng Bài văn của em thật xứng đáng được điểm 10”
Thế sau khi được đọc bài văn của Trang, ông có còn nghi ngờ?
Khi viết Vợ nhặt, tôi viết theo tình cảm, một cách tự nhiên, nó như là sự thăng hoa nhưng cốt truyện lại hóa ra rất chặt chẽ Bởi mình đã có sự say mê tự nhiên, mình đã có một chủ đề tư tưởng sẵn
Trang 4Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
rồi Chính cái chủ đề nó bắt mình, làm mình phải viết như thế, phải nghĩ về những con người ấy như thế Và tự nhiên những chi tiết đó đã xuất hiện ra như thế
Những chi tiết như: quạ kêu, mùi đống rấm, tất cả hình ảnh về những xác chết đều đến rất tự nhiên Chính bạn đọc, người đọc đã khám phá ra cho tôi nhiều hơn Bài viết của Trang đã thêm một lần khám phá ra cái mới của tác phẩm…
Ý ông muốn nói, bài viết của Trang đã khám phá thêm những cái mới về tác phẩm của ông,
mà những người trước đó chưa hề đề cập đến?
Đúng thế ! Khi tôi được đọc bài văn của cháu tôi thực sự bị bất ngờ ghê gớm Tôi không thể tưởng tượng được một đứa trẻ với vốn sống chưa có được bao nhiêu, mà cái vốn sống về những năm của nạn đói lại càng không có, thế mà làm sao cháu lại nhìn ra cái đói đó để phân tích được một cách kỹ càng mà lại hợp tình hợp lý, nâng cao được những nội dung của câu chuyện đến như thế Tôi nói thật, nói như thế này hơi buồn cười, nhưng nó lại là sự thật thế: Thủ khoa là Trạng chứ gì? Cháu Trang đã là Trạng Văn rồi chứ còn gì nữa! Khi đọc toàn bài văn của Trang phân tích về “Vợ nhặt” của tôi, nói thật Trang
đã tìm ra sự mới mẻ hơn so với những bài của những cây “đại thụ” như GS Đỗ Đức Hiểu, GS Đỗ Kim Hồ
Dù họ là những vị giáo sư đã từng viết rất hay
Nhưng bài văn của cháu viết cũng không kém phần tinh xảo, sâu sắc và cũng không kém phần khám phá, không kém phần có những phát hiện mới ở trong đấy Ví dụ như cháu lại ví truyện của tôi có cái gì giống với Đôtôiepki của Nga-một nhà văn viết về những người cùng khổ
Từ trong hoàn cảnh đen tối, lòng thương nó nâng con người lên Từ ví dụ như thế, tôi thấy cháu này không phải chỉ đọc của tôi mà đã đọc của nhiều người Vì vậy, trình độ cảm nhận về văn chương của cháu cũng rất tinh tế Tôi tâm phục, khẩu phục và thấy điểm 10 rất là đích đáng
Trước đây những người viết phê bình về văn của ông chưa có ai ví “Vợ nhặt” với văn của Đôtôiepki?
Đúng thế ! Và cũng chưa có ai nói đến chữ hiếu của anh cu Tràng cả, mà trong này cháu lại nói đến chữ hiếu của Tràng Quả nhiên đúng như thế thật Trước đây nhân vật Tràng rất nhố nhăng đến khi có vợ thì về nói chuyện với mẹ rất lễ phép và tự dưng quý trọng mẹ mình vô cùng Cảm thấy yêu thương ngôi nhà, yêu thương mảnh vườn của mình, yêu thương cả những công việc rất đỗi bình thường
Sự phát hiện đó của Trang rất đẹp đẽ
Vậy sự phát hiện đó của em Trang có nằm ngoài ý đồ của nhà văn khi ông viết “Vợ nhặt” không?
Thông thường thì bạn đọc phát hiện, mổ xẻ tác phẩm giúp nhà văn, chứ nhà văn khi viết thì cũng chưa nghĩ được sâu sắc đến thế Tôi thấy bài viết của cháu Trang đã nâng tầm truyện “Vợ nhặt” của tôi
Trong bài viết của mình, Trang có trích dẫn một câu của ông, khi ông nói về ý đồ viết chuyện
“Vợ nhặt” Điều đó chứng tỏ, từ lâu Trang đã theo sát hoạt động của nhà văn ?
Trong một lần đi nói chuyện về tác phẩm này, tôi có nói với mọi người đại ý rằng: Người ta viết
về cái đói, cái khát thì nó bi thảm, đau thương và tối tăm, nhưng tôi muốn viết trong cái đói, cái khát ấy, con người ta hướng về sự sống, khao khát về sự sống Chính sự khao khát ấy đưa đến một sự thật là, có cùng khổ người ta mới thành thương yêu đùm bọc được nhau, chứ cùng sướng thì chưa chắc đã có sự thương yêu
Sau đó báo chí có đăng Trong bài viết của mình, cháu Trang đã trích dẫn rất đúng ý mà tôi đã nói Đây
có lẽ là ý không có trong sách vở, nhưng cháu lại biết để trích dẫn, rồi lấy đó làm chủ đề xuyên suốt để phân tích trong bài viết của mình Tôi cho rằng, không phải tự nhiên nắm bắt được đâu, mà phải yêu câu chuyện mình đọc, phải yêu người viết thì Trang mới có tình cảm, mới dõi theo và biết được câu nói
ấy của tôi
Điều đặc biệt nữa là nhà văn không thích hình ảnh cờ đỏ sao vàng ở cuối truyện, bởi vì tình yêu đến, thương yêu nhau đến như thế, đến buổi sáng quét sân là hết chuyện rồi Họ cho rằng, việc đưa hình ảnh sao vàng lấp lánh là gượng ép
Trang 5Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Thế nhưng Trang đã phân tích hình ảnh đó thật đẹp và rất hợp với logic của câu chuyện Bởi vì, thương yêu nhau đến mấy mà không có Cách mạng thì cũng chôn vùi hết cả Mà mở cho những con người này sống thì phải đi theo Cách mạng, phải có Cách mạng Tràng sẽ tham gia Cách mạng, sẽ đi bộ đội Đấy là thực tế của xã hội lúc bấy giờ Khi tôi viết xong anh Nguyễn Đình Thi cũng khen tôi chỗ đấy
Theo tôi đấy là sự tinh tế trong việc cảm nhận của cháu Trang Và tất nhiên, tôi hiểu để viết được như thế cháu cũng phải đọc nhiều bài của các bậc thầy đã từng viết về tác phẩm Dù học thầy nhưng khi viết, Trang lại viết theo cảm nhận của mình chứ không phải viết theo lối bắt chước thầy Đấy là sự sáng tạo Và theo tôi cháu Trang là một người già dặn hơn nhiều so với lứa tuổi ở tuổi của cháu mà lại thích được đến thế, phân tích được sâu sắc như thế thì thật cảm động Tôi phải cảm ơn Trang !
Ngoài việc phân tích, Trang còn nhận xét “thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng chuyện, dẫn chuyện…” Một học sinh phổ thông lại dám nhận xét về bút pháp của một nhà văn, ông có tự ái ?
Sao lại tự ái? Trang nói thế là trúng đấy Chính tôi viết là có cảnh, bao giờ cũng vào một cảnh ngộ Nhận xét đó làm sao mà có thể tự ái được, mà phấn khởi quá đi chứ Phải cảm ơn cháu nữa chứ Tôi nói thật, một ông khác mà khen thì thiên hạ chú ý ít thôi, nhưng bây giờ một học sinh ít tuổi mà khen thế thì báo chí cũng phải chú ý Trong thời điểm hiện nay, thanh niên quan niệm về văn học có nhiều rắc rối lắm, nên việc một người trẻ như thế mà phân tích kỹ càng, đến nơi đến chốn lại phân tích rất ngay ngắn
về tư tưởng như vậy là đáng quý lắm
Thưa ông, được biết đã có nhiều người làm luận văn thạc sĩ về truyện ngắn này, nhưng dường như chưa ai có những phân tích mới mẻ như của Trang, dù bài văn viết rất ngắn?
Tôi đã gặp rất nhiều người làm luận văn thạc sĩ về tác phẩm này, và hiện có một số người cũng đang làm Họ đã gặp tôi và nói chuyện, nhưng nói thật, cái này (bài văn của Trang-PV), lại ngang với bậc thầy Nó chẳng khác gì so với bài của các vị
Nhưng tôi cũng phải nói đi nói lại, chắc là cháu Trang có đọc bài viết của các bậc thầy thì mới có được những nhận xét, đánh giá sâu sắc như thế Vì vậy, nếu trước đây nghi ngờ thì bây giờ (sau khi được đọc bài văn của Trang-PV) trong tôi cái sự nghi ngờ đấy đã biến mất và thay vào đó là sự cảm phục, quý mến Nhân gặp các anh, tôi muốn nói lời cảm ơn cháu Trang, cảm ơn cả các thầy cô đã dạy cháu
4 Báo Mới:
Sự sống và cái chết trong truyện ngắn 'Vợ nhặt'
Nạn đói năm Ất Dậu (1945) là một cơn ác mộng, là nỗi nhức nhối khó quên trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thảm họa ấy diễn ra trên 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ Nhà văn Kim Lân đã chọn bối cảnh ấy cho truyện ngắn Vợ nhặt
đi sâu miêu tả diễn biến tâm lí phức tạp của các nhân vật và sáng tạo những chi tiết, hình ảnh đặc sắc,
nhà văn chuyên viết truyện ngắn này đã để lại trong lòng người đọc những ám ảnh nghệ thuật khó quên
Câu chuyện xoay quanh cuộc đối mặt giữa sự sống và cái chết của những người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm ấy
từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn lửa Điểm
vào đó là âm thanh thê thiết của tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ đang gào lên từng hồi, là tiếng
ai hờ khóc lúc to, lúc nhỏ vẳng đến từ phía những nhà có người chết đói Không khí ở đây vẩn lên mùi
ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người Quyện trong đó còn có mùi khét lẹt của đống rấm được
đốt ở những nhà có người chết
Bằng sự kết hợp của các yếu tố hình ảnh, âm thanh và mùi vị, nhà văn Kim Lân đã tạo ra ấn tượng
về không gian truyện đặc trưng, mang màu tử khí Rồi như một cận cảnh, ống kính của nhà văn dừng
lại ở một bữa ăn ngày đói thật thảm hại
Trang 6Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Ở đó, miếng ăn dường như đã không phải dành cho con người nữa Giữa cái mẹt rách có độc một
lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo Niêu cháo lõng bõng, chỉ kịp chia cho mỗi người được
có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn Người mẹ già lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc
lên nghi ngút, bà gọi đó là món chè khoán Cái món ngon đáo để ấy thực chất là cháo cám, thứ mà con
người khi đói nhìn thấy hai con mắt đã tối lại, khi ăn thì không nuốt nổi vì đắng chát và nghẹn bứ trong
cổ
Cái đói và cái chết nắm tay nhau càn qua xóm ngụ cư Người người lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau
lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường
Cái đói có sức mạnh tàn phá ghê gớm cả về hình hài đến phẩm giá con người Mọi khuôn mặt ở
xóm ngụ cư đều đã mang dấu tích của cái đói Lũ trẻ con trong xóm độ này ngồi ủ rũ dưới những xó
đường không buồn nhúc nhích Ngay như Tràng - một thanh niên to khỏe trong xóm, giờ cũng chỉ bước
đi từng bước mệt mỏi Khật khưỡng trong bóng chiều nhá nhem là dáng điệu tả tơi của hắn - chiếc áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước
Dấu vết tàn phá ghê gớm nhất của cái đói với con người vẫn là ở thị, người vợ mà Tràng nhặt được
trong thảm cảnh của cái đói Người phụ nữ này không có tên Nhà văn gọi nhân vật là người đàn bà, là thị Có lẽ số phận, những mảnh đời như thị không phải là hiếm trong nạn đói ấy Thị mang một bộ dạng
rách rưới, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai
con mắt Có lẽ đã đói lâu ngày, nên vì miếng ăn, thị trở nên sấn sổ, trơ trẽn
Chỉ bằng một câu hò tầm phơ tầm phào của Tràng - nhưng là câu hò có lời hứa về miếng ăn, Muốn
ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!, thị vùng đứng dậy ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, rồi liếc mắt cười tít Nhưng lần đó thị không được ăn Lần thứ hai gặp Tràng, thị ở đâu sầm sập chạy đến, đứng trước mặt Tràng sưng sỉa kết tội: - Điêu! Người thế mà điêu!; - Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt Và lần này, thị được ăn thật Trước miếng ăn hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: - Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì Thị ngồi sà xuống, cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở: - Hà, ngon!
Có ai biết chăng, con người đang sà vào kiếm miếng ăn ấy vốn là một người đàn bà hiền hậu, đúng
mực Sự đói khát đã hủy hoại nhân cách của thị, buộc thị phải vứt bỏ ý thức, phép tắc, sĩ diện, xấu hổ
Miếng ăn làm cho con người ta trở nên chao chát, chỏng lỏn; cái đói làm cho con người không còn biết
đến thể diện; sự gào thét của cái bụng rỗng khiến con người trở nên trơ trẽn làm sao! Thái độ và hành động của thị trước miếng ăn làm ta xót xa đến rơi nước mắt Nhưng trong cái điêu tàn và rữa nát, trong
sự bủa vây của cái chết, sự sống vẫn không ngừng trỗi dậy, vươn lên Từ thoi thóp, leo lét, có lúc nó mãnh liệt như có phép màu
lạnh lẽo, khi sự sống đang phải đối đầu khốc liệt với cái chết thì vào một buổi chiều, người trong xóm
thấy Tràng về với một người đàn bà nữa Sự xuất hiện của thị đã làm mọi thứ thay đổi đột ngột, lạ lùng,
thắp lên cái sáng tươi trên cái phông âm u, rùng rợn của cái đói, cái chết; thắp lên ước mơ thay đổi số
phận cho bao kiếp người leo lắt nơi xóm chợ chiều này Chỉ là cô vợ nhặt, nhưng thị thực sự là một hào
quang, một luồng khí ấm, tiêu biểu cho sự sống trường cửu, mãnh liệt và màu nhiệm (Nguyễn Thị Thanh
Cảnh)
Vợ nhặt có thể xem là một kết hợp từ rất đặc biệt chỉ có ở trong bối cảnh nạn đói kinh hoàng năm
1945 Cái đói đã đẩy đến những cảnh bi hài kịch, mạng người trở nên rẻ rúng, có thể nhặt được như người ta nhặt bất cứ thứ đồ vật gì Nhặt thì không ra gì nhưng vợ thì vinh dự Chính từ tư cách người vợ
ấy, thị đã dần lột xác Và nàng dâu ấy đến xóm ngụ cư mang theo một luồng gió mới, một ánh nắng mới, thắp lên sự ấm áp, niềm hi vọng và niềm tin vào ngày mai
Giữa đám đông mấy chị con gái ngồi vêu ra ở cửa nhà kho, thị còn mang vẻ cong cớn, chẳng chút
e dè, nhưng chỉ sau khi đồng ý khuân hàng lên xe rồi cùng về với Tràng, thị đã khác Trên đường theo
Trang 7Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Tràng về, theo sau chừng ba bốn bước, thị đã có vẻ rón rén, e thẹn Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống,
cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Che để bớt thẹn thùng, hay che để dõi theo mỗi
bước chân số phận?
Sự xuất hiện của người đàn bà đi bên cạnh Tràng vào buổi chiều ấy đã xua đi vẻ mặt ủ rũ, xanh xám của những người dân xóm ngụ cư đang trong cái cảnh tối sầm lại vì đói khát Trên khuôn mặt mỏi
mệt, đăm chiêu của Tràng giờ đã có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và
hai mắt thì sáng lên lấp lánh Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem, có đứa còn cong cổ gào lên: - Anh Tràng ơi! Chông vợ hài Người trong xóm cũng lạ lắm - Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán Những khuôm mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Thị về xóm ngụ cư mang theo cái lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối nơi đây
Về đến nhà, bước chân vào ngôi nhà vắng teo, đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những
búi cỏ dại, thị đang cố nén một tiếng thở dài Chất chứa trong cái ngực lép nhô lên ấy biết bao tủi hổ, buồn
bã, bẽ bàng… Ở đây, thị cũng chỉ giám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần
thần Thị đang ý thức rất rõ về tình cảnh của mình Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh ấy chính là cái thế
phân vân trong lòng thị: chuyện thành vợ Tràng vừa thực lại vừa như không thực; thân phận lủi thủi, trơ trọi trôi dạt vì miếng ăn, liệu có tìm được chốn nương thân?
Thế rồi, thị gặp mẹ Tràng - người sẽ quyết định duyên phận cho thị trong ngôi nhà này Người mẹ nghèo đã rất ngạc nhiên và không tin vào mắt mình khi thấy sự xuất hiện của một người đàn bà trong
nhà mình Bao nhiêu câu hỏi dội về đầy băn khoăn - Quái sao có người đàn bà nào ấy nhỉ? Người đàn bà
nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại gọi mình bằng u? Không phải con cái Đục
mà Ai thế nhỉ? Ô hay, thế là thế nào nhỉ?
Thế rồi, Tràng bước lại gần nói với mẹ: - Nhà tôi nó về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên
phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả… Giờ thì bà lão đã hiểu Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Bà lão đăm đăm nhìn người đàn bà, trong lòng cũng đầy thương xót Trước mặt bà lão, thị cúi mặt, tay vân vê tà áo đã rách bợt,
và khép nép đứng nguyên chỗ cũ
Rồi, thị cũng đã được chấp nhận Bà cụ Tứ đã xem thị là nàng dâu mới Bà nhẹ nhàng với thị: - Ừ,
thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng… Bà còn hạ thấp giọng xuống thân
mật: - Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt
chi cái lúc này Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi Năm nay đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…
có phép màu Ngôi nhà rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi có dại, nay đã được quét tước,
thu dọn sạch sẽ, gọn gàng Mấy chiếc áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà nay đã được lấy ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch Ngoài vườn, người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở, trong sân, cô con dâu đang quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Tất cả đều
đã thay đổi mới mẻ
Xung quanh thay đổi, cảm xúc của con người cũng khác Thấm thía cảm động nhất vẫn là Tràng
Hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bấy giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này
Trong mắt Tràng, giờ đây thị cũng đã khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà cụ
kể chuyện làm ăn gia cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này, chuyện Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà… Ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…
Trang 8Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Một không khí ấm áp chan hòa trong ngôi nhà ấy, chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa
hợp như thế
Tình yêu thương chính là ngọn nguồn làm nên sự đầm ấm, hạnh phúc, dù đó chỉ là những điều
thật đơn giản, bình thường Hạnh phúc làm cho con người ta thay đổi Hạnh phúc làm cho con người ta
xích lại gần nhau, sưởi ấm cho nhau Tư tưởng nhân đạo của Kim Lân được truyền đến người đọc một cách nhẹ nhàng mà thấm thía
Dẫu vẫn còn đó, những bữa ăn ngày đói thảm hại, dẫu cho trống thúc thuế vẫn dội lên dồn dập,
vội vã ở ngoài đình, trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ đàn quạ vẫn hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đãm mây đen, nhưng câu chuyện về cái đói đã chuyển
hướng khác Theo lời của cô con dâu, - Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế
nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy Tràng đã biết đến Việt Minh Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước
có lá cờ đỏ to lắm Lá cờ đỏ đó vẫn bay phấp phới trong óc Tràng
Hình ảnh kết thúc truyện đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, rằng Tràng và gia đình bé nhỏ của anh, rằng hàng triệu những con người khốn khổ sẽ có lá cờ đỏ dẫn đường đi giành áo
cơm và sự sống cho mình Đây chính là điểm khác biệt giữa Vợ nhặt với các tác phẩm cùng viết về đề tài
người nông dân trong văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, năm 1945
người nông dân nghèo trong nạn đói 1945 đã được nhà văn Kim Lân dồn nén đến mức căng thẳng, đến
tận cùng của giới hạn ở tình huống truyện độc đáo Tình huống trở trêu, éo le từ việc Tràng nhặt vợ được
tạo ra trong hoàn cảnh đối đầu khốc liệt giữa sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa hi vọng và tuyệt vọng, giữa cái ấm áp của tình người và cái lạnh lẽo thê lương của chết chóc…
Đặt nhân vật vào tình huống ấy để thử thách sức sống của con người, nhà văn muốn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc trong việc ngợi ca, trân trọng và đặt niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người Bằng giọng kể trầm buồn, Kim Lân đi sâu vào diễn biến nội tâm rất phức tạp và tinh tế của mỗi nhân vật, nhận ra cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa sự sống và cái chết, giữa vị kỉ và vị tha, giữa thực tại
và ước mơ… trong những hoàn cảnh thử thách nghiệt ngã, phát hiện ra thứ ánh sáng lấp lánh, sáng lên trong mỗi con người, mỗi số phận, đó chính là tình người Tình người sẽ xua tan u ám, thắp lên niềm vui, niềm hi vọng để con người vượt qua khó khăn, sống tốt cho ngày mai
Sức sống của một tác phẩm văn học phải được nẩy mầm từ cội rễ của những giá trị nhân văn sâu
sắc, và nở hoa cùng tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ Vợ nhặt của Kim Lân là tác phẩm như thế
Trần Thị Thanh Nga
6 Báo Đà Nẵng – Chuyện đời và nghề của bậc tài hoa Kim Lân:
Sáng tạo trên cái nền hiện thực đời sống
Đối với nhà văn Kim Lân, cách mạng không chỉ mang lại sự thay đổi cuộc sống của bản thân và gia đình, mà còn giúp đổi thay sự nghiệp cầm bút của ông Khi tham gia hoạt động văn hóa cứu quốc, ông được gặp và trao đổi nghề nghiệp với các nhà văn Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Từ đó, cách viết của nhà văn Kim Lân bắt đầu đổi khác, như lời ông nói: trình độ một anh nhà quê viết theo bản năng, cảm tính mới dần dần thấy được công việc thực
sự của người viết văn chuyên nghiệp Và bài học mà ông rút ra: “Theo kinh nghiệm của tôi, những chuyện thật mà tôi ghi lại được thì đều nhạt nhẽo và khô cứng Nhưng sự thật cũng có giá trị của sự thật, rất giá trị, rất cần thiết nữa Tất cả những truyện Vợ nhặt, Ông lão hàng xóm, Con chó xấu xí đều dựa trên cái nền là sự thật Còn những truyện khác, kể cả Làng, hầu hết là tôi bịa Bịa cả nhân vật lẫn tình tiết Bởi không có sự thật nào như thế cả Nhưng cái bịa ấy là cái điều mà chính tác giả muốn nói Và chính tác giả muốn nói nên mới sinh ra cái bịa Gọi là bịa chứ kỳ thực chính là sáng tạo”
Cái bịa hay sáng tạo trong tác phẩm văn học đôi khi lại trở nên thực, thậm chí rất thực hơn đời thường Đó cũng chính là một điểm mấu chốt thể hiện tài năng của nhà văn Hiện thực chỉ là chất liệu
Trang 9Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
thô, qua lăng kính nhà văn thì hiện thực được thăng hoa Như nhà văn Kim Lân lý giải: “Vì sao phải bịa?
Người viết muốn nói một việc gì, một ý nghĩ gì thì chuyện đời thường hằng ngày tự thân đã có tiếng nói riêng của nó, còn tiếng nói của chính tâm linh người viết chỉ có bịa mới ra được Nhưng như vậy không có nghĩa là nó tách rời hoàn cảnh xã hội, tách rời đời sống, mà hình như nó thực hơn Chính vì vậy mà tôi cũng thường nói bịa lại thực hơn Vì nó thực với chính mình trước tiên Và kỳ lạ
khi mình bịa ấy, mình viết say mê hơn nhiều Không biết khi mình say sưa bịa ấy có phải là những giây phút thăng hoa nhất của người viết không?”
Một điều nữa mà nhà văn Kim Lân trăn trở khi trò chuyện với chúng tôi, đó là trong mấy mươi năm nhiều cây bút thường viết chạy theo thời sự, nói về chính sách hay một cuộc chiến đấu nhằm cổ vũ cho chính sách hay cuộc chiến đấu đó Nếu so với hàng ngàn năm lịch sử dân tộc trước đây chỉ có một
số ít bài thơ yêu nước và thể hiện tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Đình Chiểu, thì trong khoảng nửa sau thế kỷ XX, văn học Việt Nam xuất hiện cả một bề dày tác phẩm đồ sộ viết về đề tài này Ông nói: “Theo tôi, kháng chiến và mọi chính sách chỉ nên quan niệm là cái nền của con người đang sống Con người vẫn là quan trọng Ngòi bút của tôi
hướng về cái đời thường, diễn ra hằng ngày, về quan hệ vợ chồng, con cái Qua đó, tôi cũng có thể thấy được chính sách hay cuộc chiến đấu nó có tác động vào đời sống như thế nào”
Từ quan niệm như trên, nhà văn Kim Lân tỏ ra không thích kiểu dùng lý lẽ trong những trang viết mang tính thời sự, một căn bệnh mà một số nhà văn từng mắc phải Theo ông: “Dùng lý lẽ để thuyết phục trong văn chương cũng là một thứ cưỡng chế Những lý lẽ ma giáo ấy nhiều khi nó làm cho người
ta không giữ được chính mình Nói một cách khác, hết sức mềm mại thì người cầm bút phải viết như
chơi, viết thoải mái bằng tấm lòng của mình, hướng vào cái thật, cái đẹp, giúp cho con người sống thật, sống đẹp với nhau Và khi nhà văn gặp cái gì trái với cái thật, cái đẹp thì phải biết bất bình, phải dám lên tiếng nữa”
7 Kim Lân – Cây bút độc đáo của làng quê Việt Nam:
Kim Lân là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ
XX Sự nghiệp văn học của ông tuy không đồ sộ nhưng lại rất đặc sắc và khó trộn lẫn
Từ những trang viết thành công về đề tài nông thôn
Từng trang viết của nhà văn sinh ra từ đồng ruộng này đều cay xè khói bếp, thơm thơm mùi lúa mới, ngai ngái mùi rơm rạ, bảng lảng những cánh cò chao nhịp
Đặc biệt, cũng với chất liệu của đề tài làng quê Việt Nam, nơi những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… đã khai thác tưởng chừng ở mức thấu triệt, song cũng trên mảnh đất xưa cũ ấy nhà văn Kim Lân cũng đã xây cho mình ngôi nhà rất riêng, rất vững giữa lòng người và thách thức với thời gian
Khác với tư tưởng của các cây viết cùng đề tài, làng quê trong văn Kim Lân dẫu với các nhân vật nghèo, dân lao động thô sơ vẫn không bao giờ bị lam lũ, thô mộc, tuềnh toàng vây bủa Có lẽ ảnh hưởng
từ nét hào hoa, mã thượng với những thú chơi phong tục như chơi chim, chọi gà, đánh vật, đánh võ, chơi pháo… của làng chợ Giầu, Phù Lưu mà hình ảnh làng quê và người nông dân trong văn học Kim Lân không u tối, bần hàn mà vẫn toát lên những nét yêu đời, trong sáng, tài hoa
Chính vì thế mà giá trị lớn nhất và cao nhất trong các tác phẩm của ông không phải giá trị hiện thực là bản cáo trạng mà là giá trị nhân đạo Từ bóng tối hoàn cảnh, Kim Lân muốn làm toả sáng một chất thơ của hồn người Ánh sáng của tình người toả ra hào quang đặc biệt của chủ nghĩa nhân văn tha thiết và cảm động
Tư tưởng này xuyên suốt trong các tác phẩm của Kim Lân và có thể nhận thẫy rõ nhất trong “Vợ nhặt” – một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam Chính nhà văn Kim Lân khi nói về tác phẩm này đã cho biết: "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết
về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy
Trang 10Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người"
Sau này vẫn viết về nông thôn, Kim Lân đề cập đến sự đổi mới mặt tình cảm của người nông dân trong cách mạng và kháng chiến, sự đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất nhưng hoạt động phục vụ cách mạng Tuy thầm lặng, bình thường nhưng thật đáng quý trọng Về phương diện này, nhà thơ Trần Ninh Hồ viết: "Tất cả, tất cả dường như đã được ghi lại bằng những thân phận, những tâm trạng sắc sảo đến cốt, đến lõi Nếu như cho rằng văn chương là lịch sử tâm trạng con người thì Kim Lân quả là nhà văn đích thực trên cái ý nghĩa ấy"
Nhìn một cách hệ thống từ những nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm Kim Lân viết trước Cách mạng tháng Tám đến các tác phẩm sau này, người đọc dễ dàng nhận ra nét riêng của ông là một ngòi bút sâu lắng, cẩn trọng, tỉ mẩn, luôn cố gắng để đi tới tận cùng những nỗi niềm tâm trạng của từng con người, từng số phận riêng để từ đó góp một tiếng nói riêng vào trang sử chung về tâm tư, tình cảm con người Việt Nam của văn học hiện đại
8 Phỏng vấn Kim Lân về tác phẩm Vợ nhặt:
Thưa nhà văn, dịch đói năm 1944-1945 đã cướp đi rất nhều sinh mạng của đồng bào ta Ở các vùng nông thôn Bắc Bộ, hầu như gia đình nào cũng có người chết đói, anh em, vợ chồng, cha
mẹ, con cái ly tán khắp nơi Sự sống của mỗi người bị cái đói đe dọa từng ngày Trong bối cảnh
xã hội đó, truyện Vợ Nhặt lại được viết ra thì thật lạ Một cuộc sống vợ chồng, một nguồn sống cho một mầm sống tương lai tại sao lại được bắt đầu ảm đạm và phấp phỏng như thế?
Nhà văn Kim Lân:
Dịch đói dạo đó thật khủng khiếp Nhiều gia đình vừa có người chết đói, vừa có người bỏ đi, dần dần mất hẳn Tôi tận mắt chứng kiến người chết đói nằm rải rác ở khắp nơi Khi con người bị đẩy đến
bờ vực cuối cùng của cuộc sống thì toàn bộ số phận và tính cách con ngươì họ sẽ biểu lộ ra Chết đói là một thực tế khốc liệt Đó là cái chết từ từ, hao mòn dần, quằn quại dần Tôi được biết nhiều chuyện qua những năm tháng đó Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ Có những người đói ngày ngày bới rác tìm một mẩu thức ăn thừa, buổi tối họ lại về nằm cạnh nhau bàn tán về chuyện làng quê, chuyện mùa màng Có người giữ nề nếp rất nghiêm dù đói khát, con cái đi xin mang phần về cho, ông ta vẫn áo the, đội khăn xếp ngôì giữa nhà để ăn Có người đói xô vào cướp cám để ăn, bị đánh cũng chịu không đánh lại, họ biết rằng chuyện cướp cám của họ là sai nhưng
họ vẫn phải làm vì đói Nói tóm lại, bi kịch sống của mọi người vào thời điểm đó hầu như giống nhau: Đói Nó vừa cay đắng, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó nó lại loé lên một tia sáng về đạo đức, danh dự
Truyện Vợ nhặt khai thác khía cạnh sau cùng của cái bi kịch ấy
Cái đói là đề tài của rất nhiều nhà văn Cái đói trong Vợ nhặt có khác gì những cái đói khác
mà các nhà văn thường mô tả?
Nhà văn Kim Lân:
“Cái đói” là mỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi thời đại Cho nên đó là một đề tài cũng thuộc về bản chất của đời sống Các nhà văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người trước nó Con người phạm tội và làm đủ mọi chuyện dại dột khác chỉ vì đói Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai Cái “mơ hồ” ấy là do cuộc sống thực tại luôn hành hạ họ
Truyện ngắn Vợ nhặt được viết từ một tình huống có thật trong cuộc sống?
Nhà văn Kim Lân:
Ban đầu tôi viết một truyện dài có tên là Xóm ngụ cư Tôi viết đến chương thứ V thì dừng lại Sau
khi hoà bình lập lại, tôi và Nguyên Hồng làm tờ báo Văn Trong bản thảo Xóm ngụ cư có một đoạn luôn
ám ảnh tôi là đoạn viết về những người đói, về những buổi sáng ở vùng quê người ta ra chợ nhặt xác
Trang 11Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
người đi chôn Tôi viết lại chương đó thành truyện ngắn Vợ nhặt mà không đọc lại bản thảo cũ Chuyện
Vợ nhặt hoàn toàn không có thực mà do tôi sáng tạo ra Không thể có một bà mẹ như thế, một cô con
dâu như thế trong đời sống thực Tôi muốn phân tích tâm trạng và thân phận của con người trong cái hoàn cảnh cùng đừơng ấy, nơi cuộc sống dường như không còn lối thoát Tôi muốn hướng họ vào sự sống, sự yêu thương nhau, không phải là sự giành giựt nhau Hoàn cảnh đặc biệt quá nên câu chuyện là
lạ đó lại được hiện ra với vẻ chân thật Vợ nhặt được rút ra từ tậpCon chó xấu xí, sau khi in ở tờ tuần báo
Văn Bối cảnh của truyện là khi cái đói hoành hành khắp nơi Nhưng các nhân vật của truyện thì đứng
ở ngưỡng cửa của cái đói Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó, họ sẽ chứng tỏ số phận và tính cách của mình, đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu một niềm tin mới, dù là rất mong manh
Dân ngụ cư là dân đi ở đợ, không phải dân gốc nên thiệt thòi đủ thứ Mở đầu truyện là mẩu hồi
ức “trước kia mỗi chiều” có vẻ yên ả nhưng cái hồi ức này quá ngắn, trôi qua quá nhanh Hiện tại là cảnh đói khát ủ rủ, cảnh những người ăn xin “xanh xám như bóng ma”, cảnh thây người chết “nằm còng queo bên đường” Vậy mà một buổi chiều anh chàng Tràng trở về với một vẻ mặt có “vẻ gì phởn phơ khác thường”, một nụ cười tủm tỉm và “hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, bên cạnh lại có người đàn bà rón rén e thẹn Đó là một sự kiện quá ư lạ lùng giữa lúc người ta chỉ nghĩ đến sự sống – chết
Tràng khi đó có ý thức được việc mình làm?
Nhà văn Kim Lân:
Tràng là anh chàng kéo xe bò thuê, công việc bấp bênh Trong thời buổi bấy giờ, hẳn Tràng chẳng dám nghĩ đến chuyện lấy vợ, vì thủ tục cưới cheo ngày đó rườm rà, tốn kém lắm Vậy mà tự dưng anh chàng lại “nhặt” được vợ Sự kiện nhặt vợ quá buồn cười Chỉ là một câu đùa, ai cũng biết là đùa, vậy mà
cô kia cũng theo Điều đó chứng tỏ cô ta cùng đường và sẵn sàng xông vào, bấu víu vào bất cứ cái gì có thể bấu víu được Còn Tràng, tại sao lại dẫn cô ta về? Vì Tràng là một người nông cạn, không biết tính toán như người khác, cũng không ý thức được về hoàn cảnh của mình Anh ta chỉ chậc lưỡi, theo đúng cách của người hay “ngửa mặt lên trơì cười hềnh hệch” Đến lúc về tới xóm, trước ánh mắt, thái độ của dân xóm, Tràng mới kịp nhận ra sự thay đổi trong cuộc sống của mình Anh ta chỉ cảm nhận sự thay đổi, còn ý nghĩa của nó như thế nào thì anh ta chưa thể hiểu
Nhưng nhân vật thứ hai, người đàn bà thì hẳn hiểu hoàn cảnh của mình?
Nhà văn Kim Lân:
Thị đã ở bờ vực Số phận Thị đã rõ ràng và Thị hiểu được điều ấy Cho nên thị đi bên Tràng mà đầu cuối xuống, chiếc nón rách “nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt” Thị mặc cảm, gần như nỗi mặc cảm của người nhận lời bán mình trước sự chứng kiến của nhiều người khác Chính thế nên khi đám trẻ con mới đùa một câu thị đã tỏ vẻ khó chịu
Tại sao việc Tràng và người đàn bà ngang qua xóm ngụ cư lại khiến cho những “khuôn mặt hốc hác u tối” từ những hiên nhà xác xơ đột nhiên “rạng rỡ hẳn lên”? Sự xuất hiện của Tràng và người vợ như thể thổi vào cuộc sống tăm tối tuyệt vọng của họ một luồng sinh khí tươi mát?
Nhà văn Kim Lân:
Trước kia, chiều nào Tràng cũng đi về qua xóm, nhưng hình ảnh đơn độc của Tràng không gây ra bât kỳ một xao động nào trong đời sống của cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy Sự biến đổi chốc lát như thế phụ thuộc vào hình ảnh người đàn bà bên Tràng Mọi người bàn tán và cũng đôi phần đóan ra được câu chuyện của Tràng Họ đóan được bằng chính hoàn cảnh cuả họ Việc lấy vợ lấy chồng luôn là một niềm vui và quan trọng, nó chuẩn bị cho một cuộc sống khác, cuộc sống tương lai của đứá con Nhìn Tràng và người đàn bà, bất chợt họ cũng mơ hồ mơ đến tương lai của chính họ Tràng đã khiến cho họ tin vào cuộc sống thêm một chút.Nếu họ ý thức được niềm vui của mình trong giây lát đó, họ sẽ nghĩ rằng “Đó, anh ta không những còn sống mà còn nuôi thêm được một người nữa trong hoàn cảnh này” Nhưng niềm vui trôi qua rât nhanh Một tiếng “ôi chao” và lời than thở đưa họ về thực tại cuộc sống đói khát, cùng quẫn, “họ nín lặng”
Trang 12Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Chuyện Tràng “nhặt” vợ là một sự lạ, nhưng mọi người như thể thừa nhận điều đó một cách dễ dàng?
Nhà văn Kim Lân:
Sự kiện đó chỉ gây ra sự tò mò một chút ban đầu thôi Do hoàn cảnh khắc nghiệt của đời sống, mọi ngươì không còn đủ sức để nhận ra điều đó là ngược đời Và nó còn được dùng như một cái thước
đo vô hình, kiểm lại cuộc sống hiện tại của họ Nhưng câu chuyện của Tràng nhanh chóng không còn được bàn tán nữa khi họ “ cùng nín lặng” hiểu ra số phận khắc nghiệt đang treo lơ lững trên đầu họ
Khi người ta nhìn vào, bàn tán về mình, Tràng biết thế và lấy làm “thích ý” lắm, và hắn vênh vênh “
tự đắc với mình” Có lẽ đến lúc này Tràng mới hiểu rằng hành động của mình pha một chút “anh hùng”,
“kiêu bạc” trong cuộc sống khó khăn hiện tại Nhưng khi đi hết xóm ngụ cư thì Tràng lại đâm ra lo sợ, Tràng sợ vì nuôi mình không đủ lại phải “đèo bồng” thêm một người nữa ư?
Nhà văn Kim Lân:
Tràng không có nỗi sợ đó Nỗi sợ của Tràng là nỗi sợ phải “một mình” đối diện với người đàn bà Khi đi từ chợ tỉnh về, ngang qua xóm ngụ cư, những ánh mắt, tiếng cười của người khác đã làm cho Tràng bớt cảm thấy sự có mặt của ngươì đành bà Nhưng khi còn hai người ở “con đường sâu thăm thẳm” vắng vẻ thì rõ ràng người đàn bà kia laàtoaà bộ cuộc sống bên ngoài đối với Tràng Tràng phải tìm hiểu nó Tràng ý thức đầy đủ sự có mặt của thị là dành cho Tràng “Hắn định nói với thị một vài câu
rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia” Tại sao vậy? Tại vì thực sự người đàn bà đi bên cạnh Tràng còn hoàn toàn xa lạ với Tràng
Tại sao thị không cảm thấy mà Tràng lại cảm thấy như thế?
Nhà văn Kim Lân:
Tôi có chủ ý không tả tâm trạng của người đàn bà khi đó Nếu tả kỹ quá thị sẽ mất đi sự “xa lạ” không phù hợp với hoàn cảnh của câu chuyện Sự yên lặng và xa lạ của thị khiến cho không gian như đọng lại và cho Tràng cảm thấy thị ở thật gần mình Điều này khiến Tràng đột nhiên “ hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày” Tràng khi đó có lẽ đã quên tất cả, không phải với vẻ bất cần mà là do hình ảnh thị đã dần xâm nhập và chiếm trọn cõi lòng của Tràng Ở người “đàn ông nghèo khổ” này cuộc sống đột nhiên “ mới mẻ” và lạ lùng Đó là cảm giác có thật, nó “mơn man khắp da thịt”
Có một điều thật ý nghĩa đang diễn ra với Tràng “Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên”
Nhưng tên, hoàn cảnh, quê quán, cha mẹ thị Tràng đều chưa biết Người đọc có cảm giác
là “tình nghĩa” của Tràng đối với người đàn bà là không thật?
Nhà văn Kim Lân:
Người Việt rất coi trọng tình nghĩa, tuy nhiên để có tình nghĩa người ta cần phải có thời gian để thấu hiểu nhau Đặt trong hoàn cảnh khốn khó lúc bấy giờ, khi mỗi người cần đến sự giúp đỡ nhiêù hơn của người khác về cả vật chất lẫn tinh thần, thì Tràng là cái phai cuối cùng, là tất cả hy vọng của người đàn bà Vậy cái nghĩa của Tràng là sự gắn kết giữa con người với con người trong một hoàn cảnh cấp bách Hơn nữa đó còn là “nghĩa” cuả một người đàn ông nghèo không đủ khả năng lấy vợ bỗng dưng được một người đàn bà “ưng thuận về không” làm vợ Và khi cảm thấy có “tình nghĩa” với người đàn bà thì sự đối diện của Tràng với chị ta không còn đáng sợ nữa
Hoàn cảnh đã xô đẩy người đàn bà đến với Tràng Vậy giữa họ liệu có tình cảm thực sự không?
Nhà văn Kim Lân:
Sao lại không Câu chuyện giữa hai người diễn ra như bất cứ với cặp tình nhân nào Ban đầu là bắt chuyện vu vơ, rồi trêu chọc nhau Khi câu chuyện ra chiều “thân thân”, người đàn bà đã “tủm tỉm” cười phá đi vẻ mặt cau có, ngượng ngập Chị ta bắt đầu quen với hoàn cảnh mới Và khi Tràng đuà “vợ mới vợ miếc” và cười cợt, thị đã “phát đánh đét” vào lưng hắn Đây là cử chỉ “tỏ tình” của thị đối với ân nhân, nó đầy âu yếm và cũng đáng yêu Nó là cho Tràng hạnh phúc Anh chàng “thích chín ngửa cổ cươờ
Trang 13Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
khanh khách” Cuộc sống thường thật khốn khổ bị quên lãng Với Tràng, thị là người đàn bà thứ hai sau
mẹ annh yêu thương và cần đến anh Yêu thương có thể chưa rõ nhưng cần thì đã rõ Anh ta hớn hở vì điều đó Riêng với người đàn bà, hiểu hoàn cảnh mình nên cử chỉ “tỏ tình” trên kia vừa hàm chứa sự biết ơn vừa tỏ thái độ ưng thuận
Một lần nữa sự khắc nghiệt của cuộc sống phá tan niềm vui mong manh của hai người, tiếng chó sủa váng lên làm Tràng thẹn thùng và xấu hổ, như thể có ai đó nhòm vào hạnh phúc của anh Hình như Tràng hiểu ra rằng anh ta đang xây dựng hạnh phúc của mình trên nền một cuộc sống thật bất trắc và khốn đốn?
Nhà văn Kim Lân:
Đúng là anh ta có cảm giác đó Anh ta phải xua cái cảm giác đó đi bằng cách “ nhặt một hòn gạch vung tay ném mạnh một cái”, như thể ném thẳng vào những thách thức đau đớn của cuộc sống Tràng cảm thấy có lỗi đối với người đàn bà kia về chuyện không đủ tiền cưới xin,lỗi vì chưa xin phép mẹ, lỗi
cả chuyện hòan cảnh gia đình khốn đốn khó có thể cưu mang được thêm người nữa Nhưng “ý nghĩ” này của Tràng chứng tỏ Tràng đã có nhiều tình cảm với thị lắm Cái mặc cảm ấy bây giờ mới nhận ra khiến Tràng thốt lên “Mẹ bố chúng mày cắn gì thế”, “cắn gì thế” là tiếng chó sủa ngay trước cổng nhà Tràng , nơi Tràng phải thực sự đối mặt với tất cả những điều Tràng mặc cảm thấy
Đi đến cổng nhà Tràng người đàn bà nhìn quanh và “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên nén một tiếng thở dài”.Phải chăng thị thất vọng vì sự nghèo túng thái quá mà căn nhà của Tràng đập vào mắt?
Nhà văn Kim Lân :
Không hẳn tiếng “thở dài” ấy là bởi nhìn thấy cảnh nghèo túng xác xơ của nhà Tràng Thị chắc thừa hiểu và đóan được hoàn cảnh của một người đi kéo xe bò thuê Thị theo về nhưng trong lòng thị vẫn chưa dứt khoát lắm Thị theo như một sự liều mình Nhưng khi đặt chân vào ngõ, khi không thể thêm lần thay đổi được tình cảnh, phải thực sự chấp nhận cuộc sống mới dù cuộc sống đó có thế nào đi nữa, thì một tiếng thở dài và không tránh khỏi
Dẫn thị vào nhà, Tràng tỏ ra bối rối “Tràng quay lại nhìn thị cười cười” cố tỏ vẻ tự nhiên cho thị và cũng cho cả mình, Tràng nói đùa: “ không có người đàn bà nhà cửa thế đấy” Nghe câu
đó thị lại “ nhếch mép cười nhạt nhẽo”.Có lẽ, thị không hề có ý “khinh thị” cái từ “ nhà cửa” mà Tràng gán cho túp lều tồi tàn của mình Vậy thị “nhếch mép” vì điều gì?
Nhà văn Kim Lân:
Thị “nhếch mép” nhạt nhẽo vì ý khác Thị tủi cho cái thân phận của thị, thân phận theo trai vì đói: thị biết thị theo Tràng chỉ vì đói và như thế không xứng đáng gì với tư cách người đàn bà trong gia đình Tràng vừa gán cho
Nhưng Tràng lại bối rối thật sự, Tràng sợ mất thị do hoàn cảnh của mình ư?
Nhà văn Kim Lân:
Đúng thế Ở đây diễn ra một tình cảnh khá lạ lùng Tràng “nhặt” được một người đàn bà nhưng rồi lại sợ mất thị Cảnh nghèo đói đã hiện lên rõ ràng Tràng thấy có tội vì đã che giấu mà không thể kể cho thị nghe trước Sự im lặng của thị, nỗi mặc cảm của thị Tràng không hiểu nổi Hơn nữa Tràng không thể tự quyết được tất cả mọi việc Còn ý kiến của bà cụ Tứ nữa chứ Liệu mẹ có đồng ý không? Sự chờ đợi mẹ về thật nặng nhọc với Tràng “Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc” rồi “ lấm lét bước vội”
ra sân Tràng sợ rằng người đàn bà sẽ bất ngờ từ chối không làm vợ Tràng nữa Tràng không dám trở lại nhà mà chỉ luẩn quẩn ở sân, ở ngõ Một lần nữa, Tràng sợ đối diện với thị, nhưng không phải vì sự “xa lạ” như trước mà sợ sự “đột nhiên từ chối”
Khi viết, ý nghĩa ấy có lúc loé lên trong đầu ông không? Thị cũng có thể bỏ Tràng để đi ăn xin hay “theo” một kẻ khác khá hơn chứ?
Nhà văn Kim Lân:
Trang 14Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Không bào giờ Thị đã có sẵn mặc cảm về thân phận mình cho nên đã chấp nhận hoàn cảnh sống với đôi mắt vô hồn nhìn “bần thần” đâu đó Thị chỉ dám ngồi ở mép giường Sự “ngồi mớm ở mép giường”
và hai tay vẫn không rời cái thúng, chứng tỏ thị hơn ai hết hỉu rõ số phận của mình
Trong tâm trạng bồn chồn của Tràng và sự tủi thân câm lặng của cô vợ, việc bà cụ Tứ trở
về đã xua tan được không khí bế tắc Tràng vui vẻ hẳn, còn người đàn bà lạ cất một câu chào ấp áp: “U đã về ạ” Bà cụ Tứ có ngỡ ngàng chút ít, nhưng bà cũng đồng ý chóng vánh Không thấy bà lục vấn hỏi han gì con trai, điều mà các bà mẹ thường làm Vậy trong mạch truyện, sự đồng ý nhanh chóng của người mẹ có quá gượng ép?
Nhà văn Kim Lân:
Chúng ta nên hiểu tâm trạng của bà mẹ Bà cụ Tứ ngay từ khi về đến nhà đã bị ngạc nhiên vì sự vui vẻ và chờ đợi “nóng cả ruột” của con trai mình Bà càng ngạc nhiên khi có người đàn bà lạ ở trong nhà mà lại đứng ở “đầu giường thằng con” Ngươì đó lại chào bà bằng u Cái cảnh đó chưa được giải thích đến nỗi bà cụ tưởng nhầm mình đang mơ thấy cái Đục – cô con gái đã chết hiện về Và khi Tràng giải thích, bà “nín lặng” hiểu ra mọi chuyện Bà tủi phận vì đã không xứng đáng là một người mẹ, không lo cho con một cách đàng hoàng như người khác Hơn cả đứa con, bà hiểu rõ hơn hoàn cảnh của chúng
“Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy mình Mà con mình mới có vợ được” bà nghĩ Có thể bà hơi ngao ngán về chuyện đó một chút nhưng cảm giác “hàm ơn” đối với ngươì đàn bà là nhiều hơn, người đã giúp bà “lo” cho con trai bà bằng cách làm vợ anh ta Bà không dám tin rằng “ Chúng
nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này” Ý nghĩ về cuộc sống tương lai, và hiện tại gian nan có người đàn bà lạ tham dự vào một cách bà đồng ý với Tràng Cuộc sống không cho họ đòi hỏi nhiều hơn
Dù họ có vật lộn, có làm khó dễ, có khó tính đòi hỏi điều này điều nọ thì câu trả lời cho họ vẫn là cái đói treo lơ lửng trước mặt
Tương lai của cặp vợ chồng mới nay như bóng tối trong con mắt bà “Bà lão đăm đăm nhìn
ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt” Xen vào ý nghĩ tối tăm, hiện thực cuộc sống đồng thanh xác nhận điều đó bằng mùi trấu khét lẹt ở nhà những người chết Bà nghĩ đến cuộc đời bà và ngầm so sánh với cuộc sống của cặp vợ chồng này Chúng chỉ có một điểm chung là không một chút nào tươi sáng Bà nhắc “Con ngồi xuống đây” Lời nhắc này có ý nghĩa với lời chào thuận lòng của người mẹ Bà thực sự chấp nhận thị là con dâu bà hay do hoàn cảnh mà bà phải chấp nhận?
Nhà văn Kim Lân:
Cuộc gặp đầu tiên đó không có cái ý nghĩa “mẹ chồng con dâu” Cái tình cảm chiếm nhiều nhất trong lòng bà cụ Tứ là tình cảm “thương xót” một người đàn bà cùng đường Hơn nữa, có một nỗi “hàm
ơn mơ hồ” luôn bám lấy bà Ngươì đàn bà đã giúp bà cái việc không thể làm cho con trai là lấy vợ cho anh ta
Ở đoạn văn này, tại sao tác giả lại không phân tích tâm trạng của người đàn bà, tâm trạng nơm nớp vì có lẽ bà cụ Tứ sẽ không bằng lòng?
Nhà văn Kim Lân:
Tôi vẫn có ý định không mô tả trực tiếp trạng thái tâm lý của người đàn bà Tôi muốn qua cách nhìn của Tràng, của bà cụ Tứ để làm nổi bật lên sự hiện diện của chị Ở đây, mỗi khi thay đổi cách gọi : người đàn bà, thị, ả là một lần “nhân vật vợ mới” thay đổi vị trí trong hai con người kia Bà cụ không còn giấu cảm nghĩ của mình nữa Bà kể lể về đám cưới với dăm ba mâm cỗ cho hàng xóm, họ hàng, nhưng
“nhà nghèo” và “năm nay thì đói to” nên chỉ cần “chúng mày hoà hợp là u mừng” Sự thành thật xen lẫn nỗi đắng cay khiến bà khóc Bà khóc vì lo cho cái hạnh phúc mong manh của con trai khó có thể giữ nổi trong cuộc sống đói khổ này
Tràng hồi hộp, háo hức chờ mẹ và khi bà cụ Tứ đồng ý , “Tràng thở đánh phào một cái”, như vừa trút hết gánh nặng Như vậy là Tràng chính thức có vợ Nhưng Tràng có hiểu được những giọt nước mắt của mẹ?
Trang 15Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Nhà văn Kim Lân:
Tràng hiểu bà mẹ chỉ nhìn thấy ở việc mình có vợ những viễn cảnh tăm tối Đó chính là điều đặc sắc của Tràng Tràng tin tưởng ở mình, tin tưởng ở những điều tốt đẹp nẩy sinh từ lòng mình Những điều đó không thể có một kết cục tệ hại được Có thể là ý nghĩ nhất thời nhưng Tràng phải nhắc nhở mẹ
và vợ về điều này
Và ngọn đèn Tràng thắp lên đã an ủi cả mấy người?
Nhà văn Kim Lân:
Tràng “hầm hầm bước vào” và “đánh diêm đốt đèn” Hành động kiên quyết tạo ra một hình tượng
“Ngọn đèn tỏa sáng căn nhà tối tăm” Tại sao Tràng không thắp đèn ngay khi về nhà? Bởi Tràng chỉ thắp khi phải củng cố niềm tin dù là nhỏ nhoi cho người khác Ngọn đèn vừa mang biểu tượng cho một tương lai tươi sáng, vừa liên kết gắn bó ba người lại với nhau – ba con người đói rách Ngọn đèn là niềm yêu thương, cảm thông lẫn nhau để cùng vượt lên trên số phận buồn thương của họ Và khi thấy sáng , bà lão “vội vàng lau nước mắt” Rõ ràng là căn nhà và trong lòng bà lão đều tối như nhau Ánh sáng như một lời hứa quyết tâm của người con trai gửi đến bà mẹ Dầu đắt thế nhưng bởi có vợ mới nên con trai
bà cũng mua được cơ mà Tuy nhiên đèn sáng lên bà cũng chỉ “uể oải” đứng dậy đi nằm Cái rạng rỡ của ánh sáng cũng chỉ là một viễn cảnh quá xa
Ánh sáng soi rõ lòng bà mẹ và một lần nữa ngọn đèn tỏa dọi vào cuộc sống chung của đôi
vợ chồng mới?
Nhà văn Kim Lân:
Thực tại luôn luôn kéo người ta lại với nó “Tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ”
đã lấy mất không khí lãng mạn ngọn đèn vừa mang đến.Cả hai một lần nữa lại “sượng sùng” khộng biết nói gì Hình ảnh thực nhất là hình ảnh “ngọn đèn” hạnh phúc tương lai soi dọi họ và “kéo dài hai cái bóng trên vách” Hai cái bóng đó chính là cuộc sống thực của họ Hai cái bóng lờ mờ, lê thê, khốn khổ
Sự thât trần trụi họ phải tiếp nhận là như thế
Đêm tân hôn của cặp vợ chồng là đêm hạnh phúc Mọi khó khăn đều tạm thời quên đi Hai người hưởng cái niềm vui tột cùng mà thiên nhiiên trao tặng Nhưng cái niềm vui ấy được bao quanh bởi “tiếng khóc tỉ tê nghe càng rõ” Một đêm tân hôn trong tiếng khóc người chết và mùi trấu hun khê nồng Tràng có cảm thấy hạnh phúc không?
Nhà văn Kim Lân:
Tôi tả đêm tân hôn trong hòan cảnh đó và để phân tích xem hạnh phúc tột cùng đó có chiến thắng cái đói không Tràng hạnh phúc Trong khung cảnh tăm tối và ghê rợn như thế nhưng niềm vui của con người vẫn không mất đi Sáng hôm sau, Tràng thức dậy rất muộn khi “mặt trời lên bằng con sào”, chứng
tỏ niềm hạnh phúc mà anh được nếm trải Anh ta trở thành một con người khác Một người chồng thực
sự Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xoí vào hai con mắt” của Tràng và mọi thứ bỗng nhiên thay đổi
Đó là thay đổi thực hay Tràng chỉ cảm thấy thế?
Nhà văn Kim Lân:
Cuộc sống thay đổi thực dù không nhiều với gia đình ấy Tràng thấy mọi thứ “mới mẻ, khác lạ” Nhà cửa, vườn tược được thu vén gọn gàng Các lu đựng nước đầy ắp Quần áo cũ được giặt giũ và phơi nắng Một nếp sống khác bắt đầu xuất hiện Người làm thay đổi nếp sống ấy là người vợ đang “quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất” Cái âm thanh ấy, ngày thường Tràng cũng nghe nhưng chưa bao giờ gợi cảm như thế Người vợ mới muốn quét mạnh tay để tạo ra những âm thanh rộn
rã khẳng định sự có mặt của mình trong ngôi nhà
Cảnh tượng đó đã khiến Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng” Tràng
là con, là chồng, Tràng có nhiều trách nhiệm hơn với ngôi nhà Cái trách nhiệm, cái niềm vui của cuộc sống mới đã khiến cho Tràng có “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng” và “cũng muốn làm một việc gì để dự phần sửa lại căn nhà” Tất cả mọi người đều hiểu phải tiến gần nhau hơn?
Trang 16Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Nhà văn Kim Lân:
Ở đây tôi không chủ tâm diễn tả cái đói mà là muốn thể hiện cuộc sống của một cặp vợ chồng mới trong nạn đói Cho nên cuộc sống đói khổ chỉ là cái nền thôi Tuy nhiên chính vì nó mà niềm vui của cặp
vợ chồng luôn bấp bênh Ở đây có một ẩn ý: Cả ba người đều không quên thực tại và cố gắng của họ là tìm thấy niềm vui trong cuộc sống tối tăm Cái bữa ăn đầu tiên ba người ngồi ăn chung mang ý nghĩa như bữa “tiệc cưới” tội nghiệp “ Giữa cái mẹ rách có độc một chùm rau chuối thái rối và một đĩa muối
ăn với cháo” Sự tồi tàn của bữa ăn trong tương phản niềm vui của họ Họ đều “ăn rất ngon lành” và
“vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn gia cảnh” Họ gắn bó nhau và yêu thương nhau hơn Tràng trở nên ngoan ngoãn và nghe lời mẹ “Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại hòa hợp thế” Tầm quan trọng của bữa
ăn đầu thật rõ Nhưng “tiệc cưới” kéo dài không lâu, mỗi người chỉ được hai lưng cháo “lõng bõng” Màn cuối của bữa hòan toàn phủ phàng khiến mọi ngươờ nhớ đến thực tại khắc nghiệt Cô dâu đón lấy bát
ăn và “đưa lên mắt nhìn” rồi “ hai con mắt thị tối lại” vì cảm nhận tận cùng cái cơ cực của cuộc sống mới Nhưng thị đã “điềm nhiên và vào miệng” Đấy dù sao cũng là lối tốt nhất cho cuộc đời của thị
Nồi cháo cám đã đập tan không khí vui tươi ở phần đầu bữa ăn “ Bữa cơm từ đấy không
ai noí câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau, một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người” Trong sách văn học lớp 12, phần được trích giảng cũng dừng ở đoạn này Câu văn dường như bóc nốt lượt cuối lớp vỏ bên ngoài của cuộc sống để cho cả ba thấy cái “đắng chát”,
“cái nghẹn bứ trong cổ” Cuộc sống không báo hiệu một tia hi vọng nào?
Nhà văn Kim Lân:
Thực ra với tứ truyện “Vợ nhặt” truyện nên kết thúc ở đây Thâm tâm tôi cũng định thế nhưng do điều kiện của tờ báo bấy giờ , truyện mới được kéo dài ra thêm Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình người vẫn vượt lên trên tất cả Có tình người là có cuộc sống Có tình ngưòi là có
hy vọng vào tương lai
Thưa nhà văn, đoạn nào trong truyện là đoạn gây xúc động nhất cho riêng nhà văn?
Nhà văn Kim Lân:
Phần gây xúc động nhất cho tôi khi đọc lại truyện là đoạn bà cụ Tứ trở về Ở đây tình của người
mẹ thật lớn Bà nhanh chóng hiểu rõ hoàn cảnh và chấp nhận ngay Bà không chỉ thương con trai mà còn đầy lòng thương xót với người đàn bà cùng quẫn kia dù hoàn cảnh bà cũng không khá hơn lắm Đó chính là bản chất nhân đạo trong tâm hồn con người Việt Đó cũng là chủ đề của câu chuyện
Xin cảm ơn ông
(Kim Lân, ‘Vợ nhặt’, in trong Tác giả nói về tác phẩm, Hỏi chuyện các tác giả có tác phẩm giảng
dạy trong nhà trường, Nguyễn Quang Thiều chủ biên, Nxb Trẻ, 2000)
9 Nạn đói năm Ất Dậu đã đi vào văn chương như thế nào ?
“Vợ nhặt”, “Một bữa no”, “Chuyện cũ Hà Nội” là những tác phẩm nổi tiếng mà khi đọc, người
ta rùng mình với một sự kiện thương đau đã qua
Nạn đói khủng khiếp chắc chắn đã ám ảnh các nhà văn, để từ đó, họ viết nên những truyện, những hồi ký ám ảnh người đọc về sau
‘Chữ nghĩa tôi run rẩy khi viết về nạn đói’
Về nạn đói, Tô Hoài viết: “Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy”, viết về nạn đói thì tác giả Dế Mèn thấy “chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được Khủng khiếp quá” Vậy, những chuyện gì đã ám ảnh Tô Hoài khiến mấy chục năm sau nhà văn lão thành vẫn rùng mình?
Trong cuốn Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài với tư cách một nhân chứng đã ghi lại muôn mặt đời thường của
Hà Nội những năm 1930-1945
Ông kể trong nạn đói, trẻ em bị rẻ rúng, được đưa đi buôn bán như mua gà bán lợn: “Lại thêm người đói các nơi ùn tới Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con Ở làng tôi, người quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán
Trang 17Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
gà lợn Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì Bắt đi lắm khi lại dắt về Khốn khổ”
Hà Nội tuy không phải là nơi nạn đói hoành hành, nhưng người đói đổ về đây những rất nhiều Phố phường Hà Nội trong cơn đói được miêu tả: “Càng phấp phỏng, càng hoảng hốt khi trông thấy lũ lượt người đói các nơi kéo vào… Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè Suốt ngày đêm xe kéo xác chết lầm lũi qua”
Ánh mắt của những nạn nhân cơn đói được Tô Hoài khắc đi khắc lại trong bài Chết đói Ở mấy
làng ven nội thành và trong thành phố thì “chỉ bị khiếp đảm xanh mắt về nạn đói, chưa đến nỗi phải chết”
Hay nhà văn viết về anh Bùng - người bị suy kiệt vì đói: “Tôi vẫn nhớ cái cổ cò lộ hầu, đôi mắt tinh nhanh khi anh nói trước đây, khác hai con mắt anh lờ đờ những ngày đói”
Vinh - con nhà dì của Tô Hoài - cũng đói xanh mắt: “Có gì mà ăn lúc này! Chân tay nó khẳng khiu, xám ngắt Tôi có thể đoán cái đói bằng con mắt Vinh Mắt Vinh cứ xanh dần lên Có hôm mắt nó xanh lét như mắt mèo Đói xanh mắt - có thế thật Các cụ ngày trước đã ví chẳng sai"
Những dáng người ban đầu còn khỏe, sau suy kiệt dần được Tô Hoài miêu tả: "Mới hôm nào anh Bủng khỏe mạnh hẳn hoi mà bây giờ xanh rớt Người vốn gầy cao lêu đêu, cứ rạc đi như que Vào nhà tôi, hai bàn chân anh đễ nề to ra, không bước lên nổi thềm đá bậc cửa”
Hay một người tên Hiền - cùng tuổi, cùng xóm với Tô Hoài: “Hiền phải lê la kiếm miếng trên chợ, trông đã tã lắm, ngụp đến nơi rồi Hiền ngồi một chỗ, đầu rũ xuống, thở khù khừ như con mèo ốm”
Trong Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài cũng trích lại những thông tin về nạn đói của phóng viên tờ Tin
Mới Những thông tin này bị kiểm duyệt của phát xít Nhật cắt bỏ, nhưng thợ in đã đem cho Tô Hoài
chuyển cho báo Cứu Quốc
Đoạn trích này cho thấy trong cơn đói, người ta chôn cả những người còn thoi thóp: “Khi đi nhặt xác, gặp ai ngắc ngoải, bọn này cũng lôi đi chôn, vì nếu có để lại thì rồi cũng đến chết nốt Lúc bị vùi xuống hố, những người ấy còn chắp tay van lạy nhưng bọn người đi chôn cũng cứ lấp đất đi vì không chôn được người thì không được trả công”
Ở bài Chết đói, Tô Hoài cũng kể việc ông và những người thân trong gia đình, bạn bè lao đao vì
nạn đói: “Năm ấy, Nam Cao lên ở với tôi Viết truyện kiếm thêm, năm thoảng ba thì mới được cầm đồng tiền Nam Cao dạy mấy đứa cháu anh Khôi tôi ở làng trên Anh Khôi đã ý tứ trả công thầy giáo bằng gạo Phỏng thử chẳng có những xó gạo ấy, không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh, hay còn thế nào nữa”
Bài Ô Cầu Dền trong tập tản văn Bát phố, nhà văn Bảo Sinh nhắc về nạn đói: “Năm 1945, đây là
mả chôn chung của nạn nhân chết đói Hàng ngày, xe bò chở đầy xác chất trên phủ mảnh chiếu, chân tay thò ra ngoài, lọc cọc, rập rình, xe đu đưa những cánh tay, cẳng chân cũng đu đưa theo Xác chết được
đổ đầy vào một cái hố chôn chung, sau đó lấp đất phẳng, không có dấu hiệu mồ mả gì cả”
Cái đói, cái chết đi vào những dòng thơ đầy nhân văn của nhạc sĩ, nhà thơ Văn Cao Trong bài Chiếc
xe xác qua phường Dạ Lạc, Văn Cao viết: “Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác/ Đi vào ngõ khói công yên/ Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền/ Hương nha phiến chập chờn mộng ảo/ Bánh nghiến nhựa đường nghe sào sạo/ - Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe/ Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề/ Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực "
Bi kịch của phận người trong cơn đói
Nhà văn Nam Cao - người được Tô Hoài cho biết sống sót qua nạn đói nhờ ít gạo trả công dạy học
- dường như ám ảnh lớn với cái đói Các truyện ngắn của ông, mỗi truyện khắc họa một bi kịch khác nhau của phận người trong cái đói, cái nghèo
Truyện Trẻ con không biết đói mở đầu: “Người mẹ bê rổ chuối luộc lên Ba đứa con nhỏ sà ngay
đến y như những con gà con trông thấy một đoạn giun trên mỏ mẹ”