Trong đó hoạt động sản xuất, kinh doanh, cất giữ, sử dụng hóa chất,đặc biệt là hóa chất nguy hiểm ngày càng tăng, luôn kèm theo các nguy cơ xảy ra cácrủi ro đe dọa đến sức khỏe, tính mạn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thanh Chi
HÀ NỘI, 07/2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1 Thông tin về sinh viên:
Họ và tên sinh viên: Đặng Thị Oanh
Viện: Khoa học và Công nghệ môi trường
Số hiệu sinh viên: 20163101Khóa: K61 Ngành: Quản lý môi trường
2 Đề tài tốt nghiệp:
“Xây dựng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất và áp dụng thử nghiệm
cho một cơ sở cụ thể”
3 Nội dung các phần thuyết minh: Chương 1 Tổng quan
Chương 2 Đối tượng và phương pháp thực hiện
Chương 3 Đề xuất quy trình đánh giá rủi ro hóa chất và kết quả áp dụng tại cơ sở
7 Họ tên các bộ hướng dẫn: TS Trần Thanh Chi
8 Ngày giao nhiệm vụ đồ án: …/…/2021
Trang 3Lời cam đoan
Tác giả xin cam đoan: Đồ án tốt nghiệp này là công trình do tác giả tự nghiên cứu và trình bày dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thanh Chi.Tác giả xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung, hình ảnh cũng như các kết quả nghiên cứu được trình bày trong đồ án
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Người thực hiện
Đặng Thị Oanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá rủi ro hóa chất ở nước ta 2
1.2 Sơ bộ về hóa chất, rủi ro 2
1.3 Ý nghĩa của việc nhận diện và đánh giá rủi ro hóa chất 6
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 7
2.1 Đối tượng – cơ sở sẽ áp dụng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất 7
2.2 Phương pháp thực hiện 7
2.2.1 Phương pháp sử dụng Danh mục kiểm tra nguy hiểm (check lists) 7 2.2.2 Phương pháp tổng quan tài liệu 8
2.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 8
2.2.4 Phương pháp SWOT 8
2.2.5 Phương pháp ma trận rủi ro 8
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH VÀ KẾT QUẢ ÁP DỤNG TẠI CƠ SỞ 8
3.1 Đề xuất quy trình đánh giá rủi ro hóa chất 8
3.1.1 Nhận diện nguy hiểm 9
3.1.2 Đánh giá phát thải 10
3.1.3 Đánh giá liều phơi nhiễm 10
3.1.4 Đánh giá các yếu tố gây rủi ro 10
3.2 Kết quả áp dụng cho cơ sở và đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro hóa chất cho cơ sở 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Y
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CAS Chemical Abstracts Service
ATHC Material Safety Data Sheet
GHS Globally Harmonized System of Classification and
Labeling of ChemicalsSWOT
Material Safety Data SheetMSDS
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, hầu hết các ngành công nghiệp đều sử dụng hóa chất dù nhiềuhay ít Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã kéo theo nhu cầu rất lớn về hóachất Điều này tất yếu dẫn đến sự phát triển ngày càng lớn của ngành sản xuấthóa chất để đáp ứng nhu cầu trong tương lai
Hóa chất và sản phẩm hóa chất mang lại nhiều ứng dụng và lợi ích cho nềnkinh tế Sản phẩm hóa chất cơ bản phàn nào tạo tiền đề, động lực cho sự pháttriển kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu trong mọi lĩnh vực công nghiệp nhưng đồngthời là một trong những nguồn nguy hại có khả năng gây tai nạn trong sản xuất,sinh hoạt à đời sống Hóa chất còn là nguồn ô nhiễm môi trường, tác động đếncon người và các hệ sinh thái, nếu không biết sử dụng hợp lý
Ở Việt Nam trong những năm qua, việc sản xuất, kinh doanh hóa chất ngàycàng phát triển Trong đó hoạt động sản xuất, kinh doanh, cất giữ, sử dụng hóa chất,đặc biệt là hóa chất nguy hiểm ngày càng tăng, luôn kèm theo các nguy cơ xảy ra cácrủi ro đe dọa đến sức khỏe, tính mạng con người, an ninh môi trường Đây là những sự
cố khá phổ biến và đồng thời, công tác ứng phó mỗi khi sự cố xảy ra là hết sức khókhắn và tốn kém Vì vậy việc kiểm soát các vấn đề rủi ro trong hoạt động sản xuất liênquan đến hóa chất có một vai trò chính trong công tác ứng phó và phòng ngừa trong
đó bước nhận diện và đánh giá rủi ro hóa chất là một yêu cầu cần thiết ban đầu đểnhận diện các rủi ro chính và đáng kể, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải phápphòng ngừa và ứng phó sự cố hóa chất cho các doanh nghiệp và cơ sở
Để giải quyết các yêu cầu trên, trong đồ án này em tiến hành thực hiện đềtài: “Xây dựng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất và thử nghiệm áp dụng cho một
cơ sở cụ thể”
Nội dung đồ án được chia ra thành 3 chương chính bao gồm:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Đối tượng và Phương pháp thực hiện
Chương 3: Đề xuất quy trình và kết quả áp dụng cho một cơ
sở Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá rủi ro hóa chất ở nước ta
Rủi ro là khái niệm không còn xa lạ gì với việc quản lý môi trường ở ViệtNam và trên thực tế đã có nhiều nghiên cứu về rủi ro liên quan với việc xây dựng
và thẩm định nhiều dự án
Đáng chú ý nhất là các nghiên cứu rủi ro trong lĩnh vực khai thác dầu khí,các công trình nghiên cứu khả thi liên quan đến lọc dầu và hóa dầu đã đề cập đếnkhá nhiều những vấn đề về rủi ro, đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro Trong đó,một phần nào đó các vấn đề về rủi ro do sử dụng các hóa chất trong khai thác, sửdụng hóa chất trong công đoạn lọc dầu thô, sự cố đường ống dẫn khí đồng hành,
sự cố tràn dầu, ảnh hưởng của hóa chất dùng trong công đoạn khai thác tới tàinguyên sinh vật biển…đã được đề cập và phân tích hoặc ở mức độ định tính,hoặc ở mức độ định lượng
Một số nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực hóa chất độc hay chất thải độc hạithải vào môi trường nước, không khí hay đất cũng đã được tiến hành dưới góc độđánh giá rủi ro do hóa chất, thí dụ một số nghiên cứu trong ngành y học lao động
đã được tiến hành về tác động tới sức khỏe của công nhân trong một số xí nghiệpsang chai đóng gói hóa chất bảo vệ thực vật, của dung môi hữu cơ đến công nhânngành sơn, của hơi xăng đến bệnh về da và máu của công nhân ngành xăngdầu…
Một số khác đã đề cập đến hơi hóa chất thải ra trong trường hợp không phảiống khói (nguồn điểm ), đã được định lượng được nồng độ tối đa của hơi hóachất và so sánh với tiêu chuẩn
Tuy nhiên tỷ lệ các nghiên cứu đánh giá rủi ro trong các tài liệu đã công bốmang tính chất định tính vẫn rất lớn, mức độ định lượng tại các nghiên cứu nàycòn rất hạn chế
1.2 Sơ bộ về hóa chất, rủi ro
- Hóa chất là tất cả các loại vật chất được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học
bằng các liên kết, do cấu tạo và thành phần khác nhau nên tạo ra các vật chất có thểtồn tại ở dạng rắn, lỏng hay khí hoặc hơi và có các đặc trưng khác nhau về tính chất(vật lý, hóa học, sinh học và độc học) Hóa chất có thể ở dạng đơn chất và hỗn hợpchất
- Hóa chất nguy hại là các hóa chất đã được chứng minh là có nguy cơ gây
tác động xấu đên sức khỏe con người khi tiếp xúc với hóa chất đó, trên cơ sở khoa học
và có đủ dộ tín cậy thống kê Các tác động có hại có thể bao gồm: gây nổ, dễ cháy, oxiháo, ăn mòn, gây độc, độc sinh thái…Việc xác định hóa chất nguy hại được xác địnhtheo danh mục hóa chất và ngưỡng khối lượng quy định hoặc theo các tiêu chí xácđịnh tính chất nguy hại hóa chất theo thông lệ quốc tế
Trang 11- Tính chất nguy hại của một hóa chất (dù là đơn chất hay hỗn hợp chất)
theo Hệ thống thống nhất toàn cầu về phân loại và gắn nhãn hóa chất (GHS), người tachia tính nguy hại của hóa chất thành 3 loại:
+ Nguy hại về mặt vật lý (physical hazard): thí dụ như nguy hiểm do ápsuất cao, nhiệt độ cao/thấp, tính ăn mòn, mùi, tính dễ phản ứng hay tính không bềnvững, tính dễ cháy, nổ…
+ Nguy hại về mặt sức khỏe (health hazard); tính gây độc cấp tính hay mãn tính cho con người, tính gây biến đổi gen, gây ung thư, độc sinh sản,…
+ Nguy hại về mặt môi trường (environmental hazard): nguy hại cho thủy sinh và động vật có vú và chim…
- Bảng chỉ đẫn ATHC (Material Safety Data Sheet) là một dạng văn bản
chứa các dữ liệu liên quan đến các thuộc tính của một hóa chất cụ thể nào đó Nó đượcđưa ra để cho những người cần phải tiếp xúc hay làm việc với hóa chất đó, có thể làdài hạn hay ngắn hạn các trình tự để làm việc với nó một cách an toàn hay các xử lýcần thiết khi bị ảnh hưởng của nó
MSDS chủ yếu được sử dụng trong các khu vực sản xuất có sử dụng hóachất được coi là độc hại mà không phải là cho các hóa chất được sử dụng phổbiến trong đời sống hàng ngày Tại Việt Nam, các xí nghiệp sản xuất côngnghiệp hiện đại đều bắt buộc phải có MSDS, MSDS lập ra của một số loại hóachất nguy hiểm được quy định theo phụ lục V Nghị định 26/2011/NĐ – CP.Theo quy định về phân loại và ghi nhãn hóa chất (GHS) và nhiều hệ thốngluật hóa chất ở các quốc gia khác nhau và ở Việt Nam, hóa chất (đơn chất và hỗnhợp chất) phải được phân loại và dán nhãn theo quy định chung của GHS, theo
đó các tính chất vật lý, hóa học và các đặc trưng nguy hại nói trên phải được thểhiện trên phiếu thông tin an toàn hóa chất (MSDS) hay dạng rất ngắn gọn củachúng là nhãn Một nội dung không thể thiếu trên MSDS là các giải pháp ngănngừa và ứng phó khi xẩy ra sự cố với từng loại hóa chất tương ứng
- Hệ thống phân loại và ghi nhãn toàn cầu GHS: Các nhãn hóa chất phân
loại và ghi nhãn hóa chất theo Hệ thống hài hòa toàn cầu và ghi nhãn hóa chất củaLiên Hợp Quốc gồm 9 nhãn (hình đồ cảnh báo): hình thoi, viền đỏ, nền trắng, biểutượng màu đen (Bảng 1.1)
Trang 12Bảng 1.1 Một số nhãn hóa chất phân loại theo hệ thống GHS
Hình đồ cảnh báo Các đặc tính Hình đồ cảnh báo Các đặc tính
ứngCác chất tự cháy, tự phátnhiệt
Các peroxide hữu cơ
Độc nội tạngNguy hiểm đường
hô hấp
độc thấp)Bỏng mắtNhạy cảm daNguy hại cho tầngozon
Ăn mòn kim loạiGây bỏng daGây bỏng mắt nghiêmtrọng
Trang 13Hệ thống phân loại hóa chất nguy hại được đưa ra trong bản dưới đây.
Bảng 1.2 Hệ thống phân loại hóa chất
Nhóm 3.3 Từ 23°C và đến 61°C (141°F)
CHẤT RẮN DỄ CHÁY, VẬT Nhóm 4.2 Vật liệu dễ cháy tự nhiên
LIỆU DỄ CHÁY TỰ NHIÊN
Nhóm 4.3 Vật liệu nguy hiểm khi bị ẩm
VÀ VẬT LIỆU NGUY HIỂM
KHI BỊ ẨM
Ô XI HÓA VÀ NHÓM O-O Nhóm 5.2 Nhóm O-O (peroxit) hữu cơ
(Peroxit) HỮU CƠ
Rủi ro trong hoạt động công nghiệp: Là xác suất gây hư hỏng, phá hủy
thiết bị, bị thương, bị mắc bệnh hoặc bị chết trong quá trình hoạt động sản xuất.Khả năng này có thể được thể hiện một cách định tính (cao, thấp, trung bình hoặckhông đáng kể) hoặc định lượng bởi các giá trị có thể đo lường hay mô hình hóaqua tính toán lý thuyết, xác định thực nghiệm hay thống kê theo lịch sử
Loại hình rủi ro: Các loại hình rủi ro được phân loại dựa trên tính chất vật
lý của sự cố (cháy, nổ, tràn đổ, rò rỉ, bay hơi, phát tán của hóa chất)
Nhận diện nguy hiểm: Là sự phát hiện khả năng tiềm ẩn mà trong bối cảnh
(điều kiện) nhất định nào đó nguy cơ tiềm ẩn sẽ trở thành sự cố nguy hại
Trang 14Đánh giá rủi ro: Là việc xác định và ước tính mức độ rủi ro trong các
trường hợp khác nhau, bao gồm cả trường hợp khác nhau, bao gồm cả trường
Trang 15hợp xấu nhất) một cách định tính hoặc định lượng về sự tác động của hóa chấtphát thải gây ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người, để xây dựng cácbiện pháp quản lý hiệu quả.
Phân tích hậu quả rủi ro: Là quá trình đánh giá những hậu quả do các tác
động vật lý, tác dộng của hóa chất tới sức khỏe con người, cho các hệ sinh tháihay chất lượng cuộc sống do bị tiếp xúc với những nguy hiểm tiềm tàng đe dọacuộc sống của con người và môi trường Các tiêu chí để phân tích hậu quả dựatrên các mối tương quan có thể gây ra rủi ro dây chuyền và hậu quả thứ cấp trongkhu vực xảy ra sự cố, loại hình rủi ro, trạng thái vật lý, độc tính của háo chất dẫnđến khả năng phân bố và tác dộng tới các thành phần môi trường cũng như vượtquá ngưỡng các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp
Số đối chiếu: Là mã số được mã hóa để mô tả thông tin, được sử dụng để
chỉ định và nhanh chóng xác định vị trí, thứ tự của các thông tin tương ứng
1.3 Ý nghĩa của việc nhận diện và đánh giá rủi ro hóa chất
Đánh giá rủi ro hóa chất bao gồm việc xác định các mối nguy hóa
chất tại nơi làm việc và khuyến nghị các biện pháp kiểm soát để giảm phơi nhiễm và giảm thiểu tác hại cho người lao động Nó đánh giá việc vận chuyển, lưu trữ và xử lý các chất độc hại để có thể thực hiện hành động trước để giảm tác hại.
Đánh giá rủi ro do phát thải hóa chất (hay nói rộng ra là phát thải
chất ô nhiễm) về bản chất chính là công cụ để kiểm soát rủi ro do hóa chất (hay do chất ô nhiễm), bao hàm cả ý nghĩa kiểm soát ô nhiễm trong cả trường hợp phát thải hóa chất thông thường qua chất thải sản xuất, dịch vụ
và phát thải hóa chất bất thường do sự cố.
Mục tiêu của đánh giá rủi ro hóa chất là hiểu biết đầy đủ về bản
chất, mức độ và khả năng xảy ra ảnh hưởng xấu đến sức khỏe hoặc môi trường của một hóa chất Nó có tính đến cả nguy cơ và phơi nhiễm Đánh giá rủi ro là nền tảng của các quyết định quản lý đối với hóa chất công nghiệp, thuốc trừ sâu, dược phẩm, mỹ phẩm, phụ gia thực phẩm và chất tiếp xúc với thực phẩm ở các nước phát triển ngày nay Việc đánh giá rủi ro hóa chất giúp nhận diện mối nguy, đánh giá rủi ro cho các cơ sở, từ đó góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tối đa các rủi ro hóa chất.
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
2.1 Đối tượng – cơ sở sẽ áp dụng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất
Bước 2: Phân tích, đánh giá
Sử dụng các phương pháp check list, phương pháp SWOT, phương pháp
ma trận rủi ro để
+ Nhận diện các mối nguy hiểm từ hóa chất, các rủi ro có thể xảy ra liên quan đến hóa chất
+ Đánh giá sự phát thải, liều lượng phơi nhiễm, các yếu tố gây rủi ro
+ Đánh giá tính khả thi việc xây dựng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất
Bước 3: Đề xuất
Áp dụng các phương pháp trên để đề xuất
+ Đề xuất xây dựng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất
+ Ứng dụng quy trình đánh giá rủi ro hóa chất, kết quả áp dụng và đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro hóa chất cho công ty
2.2.1 Phương pháp sử dụng Danh mục kiểm tra nguy hiểm (check lists)
Bước đầu tiên để nhận diện nguy hiểm tại các công đoạn sản xuất có thể
sử dụng bốn phương pháp sau:
Bản chất của phương pháp này là liệt kê dưới dạng một bảng các vấn đề haykhu vực tại đó tiềm ẩn các nguy cơ (có thể là chưa rõ khả năng) Việc liệt kê này
có thể được thực hiện ngay trong khi thiết kế nhà máy nhằm xác định các nguy
cơ giả định có thể xảy ra hoặc có thể được thực hiện trước khi quá trình hoạtđộng sản xuất diễn ra Các bảng liệt kê đối với các quá trình hoá học trong mộtnhà máy hoá chất có thể rất phức tạp và chi tiết, liên quan tới hàng trăm và thậmchí hàng ngàn các mục khác nhau
Việc lập một bảng liệt kê phụ thuộc vào mục đích cần đạt được Nó sẽ đượcdùng trong giai đoạn kiểm tra thiết kế đầu tiên của quá trình sản xuất để cân
Trang 17nhắc, đánh giá trước khi cho vận hành sản xuất cũng như khi có sự thay đổi trongquá trình sửa chữa, bảo dưỡng trong quá trình sản xuất.
Việc thiết lập danh sách bảng liệt kê phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu.Dùng trong giai đoạn thiết kế ban đầu của nhà máy sẽ rất khác so với checklistdùng trong giai đoạn có những thay đổi trong hoạt động sản xuất hoặc danh sáchkiểm tra dùng cho giai đoạn trước khi hoạt động sản xuất diễn ra (đã có thiết bị).Phương pháp này thường được áp dụng trong giai đoạn ban đầu trong việcxác định sơ bộ các nguy cơ và không thay thế được cho hẳn một qui trình xácđịnh các nguy cơ Phương pháp danh sách kiểm tra rất có hiệu quả trong việc xácđịnh các nguy cơ do việc thiết kế qui trình, bố trí nhà máy, lưu giữ các hoá chất,
hệ thống điện Phương pháp “danh sách kiểm tra các nguy cơ” cũng rất hiệu quảtrong việc xác định những nguy cơ do quá trình vận hành và qui trình khôngđúng hoặc do sai sót trong quá trình trước khi quá trình cụ thể được tiến hành
2.2.2 Phương pháp tổng quan tài liệu