Tuy nhiên, thực tế hiện nay số hộ nghèo vẫn còn nhiều, tình trạng tái nghèo thường xuyên diễn ra, khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng, chênh lệch giàu nghèo giữa các khu vực, giữa
Trang 1BÀI THU HOẠCH Chủ đề: tình hình thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016- 2020 trên địa
bàn huyên Mường Chà
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn chủ đề
Ngày nay, đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, loại trừ tình trạng bần cùng và thiếu ăn là một trong tám mục tiêu thiên niên kỷ mà 189 quốc gia thành viên đang phấn đấu để đạt được trong thời gian tới Giải quyết tình trạng nghèo đói không những nâng cao đời sống kinh tế, mà nó còn cải thiện những vấn
đề xã hội, đặc biệt là sự bình đẳng của các tầng lớp cư dân, nhất là cư dân nông thôn so với thành thị
Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, nhiệm vụ chính trị quan trong hàng đầu; là nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng và cấp thiết nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững gắn với đảm bảo công bằng xã hội Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống đói nghèo của Chính phủ Tuy nhiên, thực tế hiện nay số hộ nghèo vẫn còn nhiều, tình trạng tái nghèo thường xuyên diễn ra, khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng, chênh lệch giàu nghèo giữa các khu vực, giữa các dân tộc còn cao…Tất cả đã
và đang trở thành thách thức lớn cho công tác giảm nghèo của Việt Nam nói chung
và của từng địa phương nói riêng trong những năm tới
2 Mục đích chọn chủ đề
Huyện Mường Chà cách thành phố Điện Biên 50 km Toàn huyện hiện nay
có 12 xã, thị trấn là huyện nghèo có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% Thành phần dân tộc chủ yếu người Hơ mông, người thái, người kinh còn lại là các dân tộc khác như Hoa, Kháng, khơ mú…Việc thực hiện xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã thực hiện nhiều năm và theo các chương trình XĐGN của nhà nước nhưng nguy cơ tái nghèo rất lớn, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn
Vì vậy thực hiện mục tiêu XĐGN bền vững đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho tỉnh Điện Biên và huyện Mường Chà nói riêng trong tiến trình hội nhập và phát triển Chính điều này đã làm cho việc nghiên cứu vấn đề XĐGN trở nên cấp
thiết và tác giả đã chọn vấn đề “Xóa đói giảm nghèo bền vững ở huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên” để làm đề tài luận văn của mình.
Trang 2B NỘI DUNG CHỦ ĐỀ ĐƯỢC LỰA CHỌN.
1 Quan điểm của Đảng về xóa đói giảm nghèo và xoá đói giảm nghèo bền vững
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện
có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”
Xóa đói, giảm nghèo bền vững là yêu cầu cần thiết và khách quan
Trên thực tế, mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ nhưng công tác giảm nghèo, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bền vững Do đó, để thực hiện hiệu quả hơn nữa những chính sách, chương trình dự án của nhà nước và thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi,
Những vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác xóa đói giảm nghèo bền vững hiện nay
- Vấn đề tái nghèo, cận nghèo
- Với xu hướng nghèo tập trung vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, công tác giảm nghèo trong thời gian tới sẽ càng khó khăn hơn
- Vấn đề giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội.
- Khả năng phát sinh hình thức nghèo mới
- Trong thời gian qua, việc thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo còn dàn trải, trùng lắp, thiếu tính đồng bộ
- Hiệu quả giảm nghèo và vấn đề tiếp cận với chuẩn quốc tế
2 Nội dung lý thuyết về xoá đói giảm nghèo thông qua bài học
Trang 32.1 Xóa đói giảm nghèo
Nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp
đỡ các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó họ có nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói
2.3 Xóa đói giảm nghèo bền vững
2.3.1 Giảm nghèo bền vững
Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất nào về giảm nghèo bền vững tuy nhiên nhận thức về giảm nghèo bền vững được quan tâm và phát biểu ở nhiều giác độ khác nhau Trong nghiên cứu này, tác giả tổng hợp lại một số cách nhìn, cách tiếp cận về giảm nghèo bền vững của một số tác giả và thông qua sự trao đổi trực tiếp như sau:
- Giảm nghèo bền vững nhìn theo khía cạnh thu nhập của người dân
- Giảm nghèo bền vững nhìn dưới giác độ năng lực của người dân
- Giảm nghèo bền vững nhìn dưới góc độ xã hội
Từ những ý kiến trên có thể tổng hợp và phác họa một quá trình đi đến thoát nghèo bền vững, trong đó người nghèo ở vị trí trung tâm với các nguồn vốn hạn chế hiện có của mình cần được trợ giúp để cải thiện các nguồn vốn của mình cũng như cần được giảm thiểu các rào cản để có thể giảm nghèo bền vững gắn với tham gia vào thị trường
1.2.2 Các yếu tố cơ bản của xóa đói giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững được hiểu là kết quả những nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân về giảm nghèo có khả năng chịu được những cú sốc hay rủi ro thông thường Vậy những yếu tố để đảm bảo rằng giảm nghèo là bền vững
là:
- Trước hết nhìn từ giác độ năng lực/ khả năng
- Thứ hai là cơ hội phát triển
- Thứ ba là an toàn
- Thứ tư là dịch vụ công (dịch vụ xã hội cơ bản) bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ của cơ quan chức năng cũng như khả năng tiếp cận của người dân đến dịch vụ công
Trang 4\ Bốn yếu tố này có mối quan hệ rất mật thiết, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau và được coi là 4 trụ cột ( khía cạnh) quan trọng để thông qua đó đánh giá được giảm nghèo có bền vững hay không
3 Khái quát về huyện Mường Chà.
Mường Chà là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Điện Biên
Phía Bắc giáp thị xã Mường Lay
Phía Nam giáp huyện Điện Biên;
Phía Đông giáp huyện Tủa Chùa và Tuần Giáo;
Phía Tây giáp huyện Mường Nhé;
Phía Tây Nam giáp với cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Mường Chà có 6 xã biên giới với đường biên giới Việt – Lào dài 56 km Diện tích tự nhiên 1.177,17 km, tổ chức hành chính gồm có 14 xã và 01 thị trấn với, các xã đều là xã vùng sâu, vùng cao giao thông đi lại khó khăn, dân cư phân tán
Mường Chà chủ yếu là núi cao với độ dốc từ 400 – 600, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 350-1.500m, nghiêng dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam
Có nhiều lòng chảo, nhìn chung mức độ chênh lệnh địa hình lớn
Tổng dân số trung bình toàn huyện năm 2020 là: 60.327 người, có 13 dân tộc khác nhau, trình độ dân trí không đồng đều Do đặc điểm đặc trưng của huyện miền núi nên mật độ dân cư của huyện bố trí không đồng đều Vùng cao bà con dân tộc Mông sinh sống do đặc trưng canh tác nên đồng bào sống không tập trung Vùng thấp quần thể dân cư của dân tộc Thái tập trung và đông đúc hơn, do tập quán canh tác nên đồng bào sống chủ yếu ven sông suối và những bãi đất bằng phẳng Vì vậy bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào vẫn được duy trì và thường xuyên trau luyện Tuy có phong tục tập quán khác nhau song các dân tộc của huyện Mường Chà đều có chung đặc điểm đó là có tính cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường dũng cảm trong đấu tranh cách mạng, có tinh thần đoàn
Nguồn nhân lực dồi dào tổng số người trong độ tuổi lao động của huyện năm 2020 là: 39.259 người Nhưng do trình độ dân trí không đồng đều và chủ yếu là lao động nông nghiệp Vì vậy tỷ lệ hộ nghèo còn cao khoảng trên 50%
Vận dụng nội dung quan điểm và nội dung ý thuyết em xin tham gia ý kiến
về tình hình thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016- 2020 trên địa bàn huyên Mường Chà như sau
3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
Trang 5Ngay sau có nguồn kinh phí, UBND huyện đã phân bổ kinh phí cho các cơ quan, đơn vị và UBND các xã để tổ chức thực hiện, tuy nhiên một số dự án chưa được bố trí vốn hoặc bố trí vốn chậm đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chương trình, dự án
Thực hiện các chương trình, dự án đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch đề ra, một
số ít dự án chậm tiến độ do vướng mắc về cơ chế thực hiện như: Chính sách hỗ trợ sản xuất chưa được hướng dẫn kịp thời; các dự án đầu tư không có tiền hỗ trợ giải phóng mặt bằng, người dân chưa sẵn sàng hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện các dự án,…
Các nguồn vốn thực hiện chương trình luôn được kiểm tra, theo dõi, điều chỉnh kịp thời theo tiến độ thực hiện, đảm bảo tiến độ giải ngân các dự án theo đúng kế hoạch đã đề ra, nhìn chung hàng năm tiến độ giải ngân các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn huyện luôn đạt trên 95% kế hoạch
Việc bố trí kế hoạch vốn hàng năm luôn đảm bảo theo đúng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 của UBND tỉnh Ưu tiên bố trí cho các dự án tiếp chi đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, các dự án đang thực hiện còn thiếu vốn, rồi mới bố trí cho các dự án khởi công mới, vì vậy huyện Mường Chà không có tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản, không có dự án bố trí kế hoạch vốn quá thời gian quy định (nhóm C không quá 3 năm)
1 Dự án 1: Chương trình 30a (Theo Quyết định số 293/QĐ-TTg, Quyết định số 275/QĐ-TTg)
a) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các huyện nghèo:
Tổng nguồn vốn đầu tư thuộc chương trình là 128,636 tỷ đồng, cụ thể là:
- Giao thông: Tổng vốn đầu tư 75,243 tỷ đồng, triển khai xây dựng và nâng cấp
10 công trình giao thông, trong đó đã bê tông hóa 47km đường, đảm bảo nhu cầu giao thông đi lại thuận tiện cho nhân dân
- Thủy lợi: Xây dựng và nâng cấp 06 công trình thủy lợi, tổng vốn đầu tư 25,425
tỷ đồng, đảm bảo nhiệm vụ tưới tiêu cho 60ha diện tích đất nông nghiệp
- Hạ tầng kỹ thuật: Xây dựng mới 07 công trình nước sinh hoạt, tổng vốn đầu tư 11,77 tỷ đồng, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho 1.500 nhân khẩu khu vực nông thôn
- Trạm y tế: Xây dựng mới 02 Trạm y tế xã, tổng vốn đầu tư 6,928 tỷ đồng, với
20 phòng chức năng, đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân 02 xã Huổi Mí, Na Sang
- Trường học: Đã xây dựng mới 02 công trình trường học, tổng vốn đầu tư 9,27
tỷ đồng, với 12 phòng học, 04 phòng chuyên môn, đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất cho việc dạy và học của thầy và trò trường tiểu học Nậm He và trường mầm non Sa Lông
Trang 6b) Tiểu dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện nghèo:
- Tổng số dự án đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện là: 26 dự án Tổng số kinh phí thực hiện là: 10,259 tỷ đồng
Tổng số hộ tham gia dự án là: 923 hộ; Trong đó:
+ Số dự án trồng cây ăn quả 4 dự án Số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án: 126 hộ Kinh phí thực hiện 1,015.005 tỷ đồng; diện tích trồng là: 18,109 ha
+ Số dự án chăn nuôi 19 dự án Số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án là:
704 hộ Kinh phí thực hiện là: 8,339 tỷ đồng Số lượng: 340 con giống; (Trong đó:
299 con bò cái sinh sản, 41 con trâu cái sinh sản)
c) Tiểu dự án 4: Hỗ trợ lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài:
Tổng nguồn vốn của chương trình là 730 triệu đồng, đã mở được 03 lớp tập huấn với 450 học viên, xuất khẩu lao động được 07 người
2 Dự án 2: Chương trình 135
a) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn bản đặc biệt khó khăn
Tổng nguồn vốn đầu tư là 59,437 tỷ đồng, trong đó:
- Giao thông: Xây dựng và nâng cấp 19 công trình giao thông, tổng vốn đầu tư 34,950 tỷ đồng, mở mới 19,4 km, bê tông hóa 14,3 km đường giao thông, đảm bảo nhu cầu giao thông đi lại thuận tiện cho nhân dân
- Thủy lợi: Đã xây dựng và nâng cấp 10 công trình thủy lợi, tổng vốn đầu tư 20,915 tỷ đồng, đảm bảo nhiệm vụ tưới tiêu cho 120 ha diện tích đất nông nghiệp
- Hạ tầng kỹ thuật: Đã xây dựng mới 04 công trình nước sinh hoạt, tổng vốn đầu tư 3,572 tỷ đồng, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho 512 nhân khẩu khu vực nông thôn
b) Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn:
*Kết quả thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế Chương trình 135
- Tổng số dự án đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện là: 60 dự án
- Tổng số kinh phí thực hiện là: 12,835.632 tỷ đồng
Trang 7- Tổng số hộ tham gia dự án là: 1.684 hộ; Trong đó:
+ Số dự án trồng cây ăn quả 2 dự án Số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án: 107 hộ Kinh phí thực hiện 0,482 tỷ đồng; diện tích trồng là: 8,651 ha
+ Số dự án chăn nuôi 55 dự án Số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án là: 1.499 hộ Kinh phí thực hiện là: 11,940.623 tỷ đồng Số lượng: 686 con giống; (Trong đó: 640 con bò cái sinh sản, 46 con trâu cái sinh sản)
*Kết quả thực hiện các dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo
- Tổng số dự án đã triển khai thực hiện giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn huyện là: 17 dự án
- Tổng số kinh phí thực hiện: 6,236.85 tỷ đồng (trong đó: Ngân sách trung
ương là 4,256.186 tỷ đồng; vốn dân góp là 1,980.667 tỷ đồng)
- Tổng số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án: 340 hộ (295 nghèo; 34 cận nghèo; 11 mới thoát nghèo)
- Tổng số hộ gia đình, nhóm hộ tham gia dự án, mô hình được tập huấn kiến thức, chuyển giao khoa học kỹ thuật thực hiện dự án 340 hộ; thăm quan, học tập kinh nghiệm mô hình đã thực hiện thành công: 156 hộ Tổng số tiền hỗ trợ 0,224.38 tỷ đồng (đã thanh toán 10 dự án; 7 dự án năm 2020 chưa thanh toán) Tổng số cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra, nghiệm thu, tổng kết đánh giá và báo cáo được hỗ trợ: 17 cán bộ Tổng số tiền hỗ trợ 85,043 triệu đồng, đã
thanh toán 10 dự án; 7 dự án năm 2020 chưa thanh toán (Tham quan học tập kinh nghiệm chỉ thực hiện năm 2019, năm 2020 không thực hiện được do dịch Covid-19).
- Tổng số kinh phí thu hồi một phần kinh phí bằng tiền mặt của 5 dự án: 1
dự án chăn nuôi, 1 dự án trồng ngô, 3 dự án thủy sản là 32,36 triệu đồng Tổng kinh phí thu hồi sử dụng để thực hiện luân chuyển thực hiện dự án 32,36 triệu đồng
Qua giám sát cho thấy: Số hộ được hỗ trợ cơ bản đảm bảo đúng đối tượng theo quy định, chất lượng giống cây, con được hỗ trợ đảm bảo đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, tỷ lệ sống cao, sinh sản tốt Những hộ được tham gia tập huấn và tham quan học tập kinh nghiệm đã nâng cao được nhận thức, có thêm kiến thức để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
c) Tiểu dự án 3: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn.
Trang 83 Dự án 4: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin:
- Xây dựng 2 chương trình theo hình thức sân khấu hóa, kịch ngắn, tiểu phẩm, văn nghệ với chủ đề Xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, phục vụ 27 buổi tuyên truyền tới đồng bào các dân tộc tại 4 xã: Nậm Nèn, Pa Ham, Sá Tổng, Hừa Ngài, có trên 8.000 lượt người nghe xem, tổng kinh phí là 28 triệu đồng
- Thực hiện cấp ti vi cho 26 hộ nghèo thuộc 6 xã: Na Sang, Mường Tùng, Sá Tổng, Huổi Mí, Ma Thì Hồ, Mường Mươn, tổng kinh phí thực hiện là 104 triệu đồng
4 Dự án 5: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình:
- Kết quả thực hiện hoạt động nâng cao năng lực: Hàng năm UBND huyện chỉ đạo Ban chỉ đạo thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn về điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và tập huấn phổ biến kiến thức nông nghiệp như: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, kỹ thuật trồng trọt,
- Kết quả thực hiện hoạt động kiểm tra và giám sát, đánh giá: Giai đoạn 2016-2020, UBND huyện phối hợp với Đoàn công tác của tỉnh về thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá các Chương trình mục tiêu Quốc gia trên địa bàn huyện, qua các cuộc kiểm tra công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành chương trình MTQG của Ban chỉ đạo cấp huyện, cấp xã ngày càng hoàn thiện, việc xây dựng kế hoạch, dự án
hỗ trợ luôn luôn bám sát nhu cầu thực tế của người dân Ngoài ra hàng năm UBND huyện chỉ đạo Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia của huyện thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát tại các xã, thị trấn về thực hiện chế độ chính sách giảm nghèo và các chế độ liên quan
4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH
1 Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình
Tính đến 30/12/2019, kết quả điều tra, rà soát năm 2019 như sau:
- Tổng số hộ trên địa bàn toàn huyện: 9.250 hộ
- Tổng số hộ nghèo toàn huyện: 4.935 hộ
- Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện: 53,35% giảm 5,24% so với năm 2018
- Tổng số hộ cận nghèo toàn huyện: 1.002 hộ, tỷ lệ 10,83%, tăng 0,97% so với năm 2018
- Số hộ thoát nghèo: 683 hộ
- Số hộ tái nghèo: 20 hộ
- Số hộ nghèo phát sinh là: 205 hộ
- Kết quả thực hiện mục tiêu tăng thu nhập của các hộ nghèo, hộ cận nghèo
so với kế hoạch của giai đoạn: Trong những năm qua, việc thực hiện có hiệu quả
Trang 9các chương trình, dự án của Trung ương, của tỉnh đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội và bằng các nguồn vốn cho vay của các tổ chức chính trị xã hội, ngân hàng, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đã đạt được những kết quả tích cực, cụ thể đã giải quyết việc làm mới cho khoảng trên 500 lao động/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-5%/năm; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, thu nhập của người nghèo cũng được nâng lên
5 Thuận lợi:
- Giai đoạn 2016-2020, UBND huyện chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản của trung ương, của tỉnh về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện; tích cực triển khai các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo; tăng cường tuyên truyền, vận động, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các cơ quan, đơn vị, đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội, cùng với
sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của nhân dân đặc biệt là các hộ nghèo trên địa bàn huyện
- Thực hiện Chương trình giảm nghèo lồng ghép với nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đầu tư cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sản xuất, tạo việc làm cho người lao động
- Nhận thức trong Nhân dân, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số đã có chuyển biến, dẫn đến chuyển đổi hành vi để tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, một bộ phận đã phấn đấu vươn lên làm giàu
- Nhiều dự án, chính sách giảm nghèo được thực hiện đồng bộ và phù hợp đã có tác động hỗ trợ mạnh mẽ giúp nhiều hộ nghèo nhanh chóng thoát nghèo
- Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm, đạt mục tiêu đề ra đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội
2 Tồn tại, hạn chế
- Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa thực sự bền vững, các hộ nghèo chủ yếu là thuần nông, dân tộc thiểu số, vùng khó khăn; bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết, khí hậu, thiên tai dẫn đến tỷ lệ nghèo và tái nghèo giảm chậm
- Chênh lệch thu nhập giữa các hộ, nhóm hộ, các vùng, các dân tộc vẫn còn cao
- Tình trạng thiếu đất canh tác nông nghiệp còn tồn tại ở một số vùng; đa số người nghèo vẫn còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào trợ cấp của Nhà nước
Trang 10- Tình trạng lao động trong các hộ nghèo chưa qua đào tạo, trình độ học vấn thấp, thiếu chuyên môn kỹ thuật và thiếu tính sáng tạo trong lao động sản xuất
3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
a Nguyên nhân khách quan:
- Là huyện miền núi, có địa bàn rộng, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, cơ
sở hạ tầng chưa được đầu tư đồng bộ, trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều Các hoạt động tuyền truyền thành lập “Vương quốc Mông”, tuyên tuyền đạo trái phép, di cư tự do, tai tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện còn diễn biến phức tạp tiềm
ẩn các yếu tố gây mất ổn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của nhân dân
- Nhận thức của người nghèo ở một số nơi chưa có sự thay đổi, vẫn giữ những phong tục tập quán lạc hậu; tư duy và các kỹ năng phát triển kinh tế hộ gia đình rất thấp
b Nguyên nhân chủ quan:
- Cấp uỷ, chính quyền một số cơ sở chưa quan tâm đến công tác chỉ đạo phát triển kinh tế trên địa bàn; thiếu những giải pháp đồng bộ hữu hiệu để thu hút nguồn lực và sử dụng nguồn lực hiệu quả; trình độ quản lý, điều hành và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế Vai trò tham mưu, đề xuất của một số
cơ quan, đơn vị liên quan còn hạn chế
- Công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đạt hiệu quả chưa cao; nhận thức, tư tưởng của người dân chuyển biến còn chậm, sự trông chờ ỷ nại vào trợ cấp của Nhà nước vẫn còn, chưa phát huy sức mạnh nội lực trong nhân dân và tiềm năng thế mạnh của địa phương
- Các chính sách, dự án giảm nghèo ở một số cơ sở còn dàn trải, một số chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội với chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới chưa có sự gắn kết, lồng ghép đạt hiệu quả chưa cao
- Nguồn vốn ngân sách trung ương để thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trong năm qua còn thấp, ngân sách tỉnh và huyện hạn hẹp, việc huy động các nguồn lực khác trên địa bàn còn rất hạn chế
- Tình trạng nể nang, đánh giá, phân loại hộ nghèo chưa chính xác hoặc nảy sinh tình trạng bệnh thành tích trong công tác giảm nghèo còn tồn tại
KẾT LUẬN