Tiểu luận môn Tư pháp quốc tế. Mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hộ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiểu hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác. Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên. Các ngành luật như là: Luật dân sự, Luật thương mại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động... v.v. điều chỉnh các quan hệ của mình một cách trực tiếp và đơn giản. Ví như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải quyết đúng “địa chỉ” của quan hệ pháp luật cụ thể. Nhưng nếu các quan hệ trên đây lại có một hoặc vài yếu tố nước ngoài tham gia, tất yếu các quan hệ đó đã phụ thuộc (liên đới) tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và đương nhiên vấn đề “lựa chọn một hệ thống pháp luật điều chỉnh là rất cần thiết.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA………
TÊN ĐỀ TÀI TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH CÁCH GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁT LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Tư pháp quốc tế
Mã phách:………
HỒ CHÍ MINH, 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa đề tài 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 3
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU 3
1.1.Khái quát về xung đột pháp luật 3
1.1.1 Khái niệm xung đột pháp luật 3
1.1.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật 4
1.1.3 Phạm vi có xung đột pháp luật 5
1.1.4 Phương pháp giải quyết xung đột 6
1.2 Khái quát về quyền sở hữu và xung đột pháp luật về quyền sở hữu 9
1.2.1 Quyền sở hữu 9
1.2.2 Xung đột pháp luật về quyền sở hữu 10
1.2.3 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu 12
Chương 2 13
GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN 13
Trang 32.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về cách thức giải quyết xung đột
pháp luật về quyền sở hữu 13
2.3 Ưu điểm và hạn chế 17
Chương 3 19
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN TRONG QUY ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG CÁCH GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 19
MÀ VIỆT NAM THAM GIA 19
3.1 Về xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết xung đột về QSH có yếu tố nước ngoài 19
3.2 Giải pháp 19
3.3 Cách giải quyết 20
KẾT LUẬN 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
Trang 4hệ pháp luật trên Các ngành luật như là: Luật dân sự, Luật thương mại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động v.v điều chỉnh các quan hệ của mình một cách trực tiếp và đơn giản Ví như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải quyết đúng “địa chỉ” của quan hệ pháp luật cụ thể Nhưng nếu các quan hệ trên đây lại
có một hoặc vài yếu tố nước ngoài tham gia, tất yếu các quan hệ đó đã phụ thuộc (liên đới) tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và đương nhiên vấn
đề “lựa chọn" một hệ thống pháp luật điều chỉnh là rất cần thiết Nhận thấy được tầm quan trọng trong của việc giải quyết xung đột pháp luật của các nước, em xin
lựa chọn đề tài: “Trình bày và phân tích cách giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia
Đánh giá ưu điểm và hạn chế từ thực tiễn áp dụng cách thức giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu Từ đó nêu quan điểm về giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
Trang 52
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật xung đột về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài chủ yếu ở Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành và một số quy định pháp luật khác có liên quan
Tiểu luận tập trung phân tích các quy định về giải quyết xung đột pháp luật
về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật Dân sự hiện hành và một số quy định pháp luật có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp đánh giá để giải quyết các vấn đề của đề tài
5 Ý nghĩa đề tài
Làm rõ một số quy định của pháp luật về giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài Góp phần làm hoàn thiện hệ thống pháp luật
về giải quyết mâu thuẫn pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài Giúp vảo
về quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong và ngoài nước
Trang 63
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VÀ XUNG ĐỘT
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU 1.1.Khái quát về xung đột pháp luật
1.1.1 Khái niệm xung đột pháp luật
Các quan hệ dân sự theo nghĩa mở rộng có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế (gọi tắt là quan hệ tư pháp quốc tế) Chính yếu tố nước ngoài đã làm cho mối quan hệ này có liên quan ít nhất hai quốc gia, hai hệ thống pháp luật Nên khi các quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinh cũng đồng nghĩa với việc phát sinh hiện tượng cả hai (hay nhiều) hệ thống pháp luật đó cùng
có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tương ứng và hầu hết các quốc gia đều chấp nhận việc có thể áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh lĩnh vực này Quyết định sử dụng hệ thống pháp luật nào chính là vấn đề cần giải quyết Khoa học tư pháp quốc tế gọi đó là hiện tượng “xung đột pháp luật”
Ví dụ: trong một quan hệ thừa kế theo di chúc khi người để lại di sản thừa
kế và người hưởng thừa kế có quốc tịch khác nhau, thì về nguyên tắc cả hai hệ thống pháp luật này đều có “cơ hội” như nhau trong việc áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế nêu trên Nhưng pháp luật của các quốc gia này lại có các quy định rất khác nhau, theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế là công dân thì sẽ có trường hợp một số người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong khi đó pháp luật của nước người nhận di sản thừa kế là công dân thì người đế lại di sản thừa kế có toàn quyền định đoạt tài sản của mình Vậy trong quan hệ thừa kế cụ thể đang xem xét thì vấn đề sẽ giải quyết như thế nào? Pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để giải quyết?
Trong tình huống trên cho thấy khi có hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật cùng liên quan đến mốt quan hệ tư pháp thì các hệ thống pháp thống pháp luật này
Trang 74
điều có khả năng được áp dụng điều chỉnh quan hệ đó Vì vậy vấn đề là phải
“chọn” ra trong số hai (hay nhiều) hệ thống pháp luật liên quan đó một hệ thống
pháp luật để điều chỉnh quan hệ cụ thể đang xem xét
Từ đó cho thấy: Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tổ nước ngoài (quan hệ tư pháp quốc tể)
Xung đột pháp luật chỉ xác định khả năng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ của hai hay nhiều hệ thống pháp luật liên quan chứ không phải là việc tất
cả các hệ thống đó đều được áp dụng đế điều chỉnh quan hệ Vì các hệ thống pháp luật khác nhau không thể điều chỉnh một quan hệ cụ thể
1.1.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật
• Nguyên nhân khách quan
* Do pháp luật của các nước có sự khác nhau:
Pháp luật do nhà nước xây dựng nên, phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước mình Vì vậy có rất nhiều yếu tố làm cho pháp luật của các nước trên thế giới không giống nhau Cụ thể:
- Do chính trị, kinh tế, xã hội
Dựa trên một chế độ sở hữu nhất định thì pháp luật cũng được hình thành để phản ánh một cách phù hợp và tương xứng Trên thế giới có những quốc gia được tạo dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng ngược lại cũng có những quốc gia được tạo dựng dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
Từ các chế độ sở hữu đó mà pháp luật được xây dựng ở các quốc gia này cũng có
sự khác biệt căn bản
- Do trình độ phát triển giữa các nước không đồng đều
- Sự khác nhau giữa hệ thống pháp luật các nước còn có thể từ các nguyên nhân khác như tập quán, truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 85
Để hiện tượng xung đột pháp luật phát sinh nhất thiết phải có những lí do khác nữa hay các nguyên nhân khác nữa, được trình bày ở các mục tiếp theo dưới đây
* Do đối tượng điều chỉnh có sự hiện diện của yếu tố nước ngoài
- Các quan hệ mà tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, các quan hệ này luôn liên quan tới ít nhất là hai hoặc có thể là nhiều hơn hai hệ thống pháp luật
- Các hệ thống pháp luật là bình đẳng với nhau nên các hệ thống pháp luật
đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ, khi đó xung đột pháp luật nảy sinh - một hiện tượng rất đặc biệt trong tư pháp quốc tế
• Nguyên nhân chủ quan
* Có sự thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài của nhà nước
Thực tế có những quan hệ pháp luật nảy sinh, mặc dù hệ thống pháp luật của các nước là khác nhau, cũng có sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài tức là thoả mãn hai điều kiện của nguyên nhân khách quan nêu trên, nhưng vẫn không có xung đột pháp luật Ví dụ đó là các quan hệ trong lĩnh vự luật công, điển hình các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài
Các quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinh đa phần làm nảy sinh các điều kiện khách quan để hiện tượng xung đột pháp luật xuất hiện, thêm vào đó với bản chất
“bình dân” của mình thì nhà nước cũng thừa nhận, cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài Đấy là điều kiện cần và đủ để hiện tượng xung đột pháp luật tồn tại trong quan hệ tự pháp
1.1.3 Phạm vi có xung đột pháp luật
Các quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh mà trong số đó sẽ làm phát sinh hiện tượng đặc thù của ngành luật là hiện tượng xung đột pháp luật Tuy nhiên do đặc thù của một số quan hệ như quan hệ về sở hữu trí tuệ có đặc điểm nổi bậc là tính
Trang 96
vô hình của tài sản, nên tài sản trí tuệ phát sinh ở nước nào thì chỉ được bảo hộ và chỉ bảo hộ trong phạm vi nước đó Do đó đối với các quan hệ này không có xung đột pháp luật thì không áp dụng pháp luật nước ngoài để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho một chủ thể ở Việt Nam được Tuy nhiên đối với các quan hệ hợp đồng có đối tượng liên quan đế sở hữu trí tuệ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ….Đều phát sinh xung đột pháp luật
Xung đột pháp luật nảy sinh trong hầu hết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trừ một số trường hợp đặc biệt như đã phân tích ở trên
1.1.4 Phương pháp giải quyết xung đột
Để giải quyết xung đột pháp luật người ta thường sử dụng hai phương pháp: Phương pháp xung đột và phương pháp thực chất
để giải quyết xung đột pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa
mở rộng của tư pháp quốc tế
Phương pháp xung đột được áp dụng mốt cách chủ yếu và khá phổ biến trong hệ thống dân luật mà tiêu biểu là một số quốc gia ở Châu Âu lục địa và hệ thống thông luật
Phương pháp xung đột được xây dựng trên hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của quốc gia, có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải chọn pháp luật của quốc gia này hay pháp luật của quốc gia kia có liên quan đến các quan hệ dân sự
Trang 10Việc lựa chọn này thường do Tòa án có thẩm quyền xem xét Đây là điều trái ngược hoàn toàn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Hội đồng trọng tài thường được áp dụng luật do các bên lựa chọn
Từ đó cho thấy sự hạn chế của phương pháp xung đột
- Tòa án khó có thể đưa ra một phán quyết có tính thống nhất vì mỗi Tòa án
ở các nước khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau, cách nhìn nhận vấn đề khác nhau và áp dụng pháp luật khác nhau khi giải quyết vụ tranh chấp
- Không có tính ổn định và lâu dài vì các quy phạm pháp luật luôn được hoàn thiện và các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo từng theo kỳ khác nhau
Phương pháp thực chất có hai loại:
Trang 11* Quy phạm thống nhất nằm trong các điều ước quốc tế
Thế giới hiện nay đang có xu hướng ngày càng gắng bó với nhau về kinh tế bằng cách ký kết các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ sản xuất, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, sở hữu trí tuệ,… Việc ký kết các điều ước quốc tế có tác dụng đơn giản hóa và giải quyết một cách có hiệu quả trong việc điều chỉnh mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét các quy phạm thực chất trong điều ước quốc tế để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Không cần phải xem xét việc chọn luật và áp dụng luật nước ngoài mà áp dụng ngay các quy phạm thực chất trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó gia nhập
Ví dụ: Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Công ước Vienna 1980 của Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế
Vì thế, quy phạm thực chất thống nhất được coi là sự lựa chọn hàng đầu cho việc giải quyết các mối quan hệ tư pháp quốc tế, chỉ khi không có loại quy tắc này thì các quy tắc khác mới được xem xét áp dụng
* Quy phạm thực chất nằm trong luật quốc gia
Trong phạm vi quốc gia, các quy phạm này được quy định trong các văn bản pháp luật của quốc gia Các quy phạm này đồng thời cũng là các quy phạm được quy định trong điều ước quốc tế Các quy phạm này điều chỉnh trực tiếp các quan
hệ đã được các quốc gia thống nhất với nhau và được dùng để điều chỉnh các mối
quan hệ nước ngoài
Trang 129
Ví dụ: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tư, Bộ
luật Hàng hải, Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam,…
- Ưu điểm:
+ Giải quyết trực tiếp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và sự dụng trong
mối quan hệ nhất định
+ Sử dụng đối với các bên tham gia vào một quan hệ cụ thể và chỉ đối với
các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế
+ Đã được nội luật hóa thành các quy phạm pháp luật của quốc gia
1.2 Khái quát về quyền sở hữu và xung đột pháp luật về quyền sở hữu
1.2.1 Quyền sở hữu
Quyền sở hữu là các quyền gồm chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của Luật về việc các chủ thể nắm giữ, chi phối trực tiếp hay gián tiếp chủ thể có quyền đối với tài sản
Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản
* Nguyên tắc xác lập quyền sở hữu:
- Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
Trang 1310
- Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
- Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.”
1.2.2 Xung đột pháp luật về quyền sở hữu
Quyền sở hữu chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong pháp luật dân sự của các quốc gia trên thế giới, bởi vì nó điều chỉnh mối quan hệ tài sản, mối quan
hệ cốt lỗi của xã hội
Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản Trong tư pháp quốc tế thì quy định về các trường hợp về Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế
Ví dụ: Quyền sở hữu tác giả có yếu tố nước ngoài liên quan đến các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học, việc trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền thanh
* Nguyên Tắc xác định quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
- Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
- Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản
- Yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữu được thể hiện ở những điểm sau:
Trang 14hệ sở hữu của người nước ngoài đối với tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ sở hữu đó xảy ra ở nước ngoài
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ sở hữu đó ở nước ngoài
- Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ngay ở nước ngoài
Ví dụ: Một công ty xuất nhập khẩu Việt Nam kí một hợp đồng mua bán ngoại thương với một pháp nhân nước ngoài về việc nhập khẩu linh kiện máy móc
về Việt Nam Hợp đồng này được kí trên lãnh thổ nước ngoài và đã phát sinh hiệu lực pháp lý, hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ nước ta Vậy trong trường hợp này, quyền sở hữu của công ty Việt Nam sẽ được xác định như thế nào sẽ dựa vào các quy phạm tư pháp quốc tế Quan hệ sở hữu này cũng được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
Quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ làm phát sinh xung đột
pháp luật về quyền sở hữu Xung đột pháp luật về quyền sở hữu là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng
để điều chỉnh một quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài