1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

(Mã Số 5a) Tiểu Luận Về Chủ Đề Anh Chị Hãy Trình Bày Và Phân Tích Để Làm Nổi Bật Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Tư Pháp Quốc Tế Và Công Pháp Quốc Tế

27 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 677,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn Tư pháp quốc tế. Đề tài là Anh Chị Hãy Trình Bày Và Phân Tích Để Làm Nổi Bật Sự Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Tư Pháp Quốc Tế Và Công Pháp Quốc Tế. Khi nền kinh tế đang hội nhập và phát triển ...

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH ĐỂ LÀM NỔI BẬT SỰ GIÔNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA TƯ PHÁP QUỐC TẾ VÀ

CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần:Tư pháp quốc tế

Mã phách:……….(Để trống)

Hà Nội – 2021

Trang 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Nguồn của tư pháp quốc tế 2

1.3 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế 4

1.4 Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế 5

1.5 Các nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế 8

Chương 2 Những vấn đề liên quan đến Công pháp quốc tế 9

2.1 Khái niệm Công pháp quốc tế 9

2.2 Nguồn của công pháp quốc tế 10

2.3 Chủ thể của công pháp quốc tế 12

2.4 Vai trò của Luật quốc tế 14

2.5 Các nguyên tắc của công pháp quốc tế 15

Chương 3 Những điểm giống nhau và khác nhau giữa tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế 17

KẾT LUẬN 23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

MỞ ĐẦU

- Lý do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của đát nước thì công cuộc Toàn cầu hóa, hiện đại hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, việc thiết lập, xây dựng và cũng cố mối liên kết quốc tế giữa các quốc gia là một hiện thực tất yếu khách quan Liên kết quốc gia này làm hình thành hai mối quan hệ chính: Mối quan hệ trên danh nghĩa quốc gia với nhau và mối quan hệ mang tính cá nhân của từng chủ thể sống trong mỗi quốc gia đó Mối quan hệ giữa các quốc gia là đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế Mối quan hệ còn lại thuộc

sự điều chỉnh của Tư pháp quốc tế Vậy làm sau để phân biệt được giữa Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế có những điểm giống và khác nhau như thế nào? Đó cũng là mục đích nghiên cứu của bài Thông qua việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế từ đó nêu ra được những điểm giống nhau và khác nhau giữa Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác cụ thể như phương pháp đánh giá, phương pháp chứng minh,

so sánh, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài

Trang 4

bộ luật, luật khác Tư pháp quốc tế Việt Nam nằm trong nhiều văn bản khác nhau

Trong Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật Lao động năm 2019; Luật đầu tư;…hầu như trong văn bản nào cũng xuất hiện các quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế Vậy, tại sao lại có thể khẳng định được Tư pháp quốc tế là một nghành luật độc lập?

Để được coi là nghành luật độc lập, Tư pháp quốc tế phải mang những đặc điểm sau:

+ Có đối tượng điều chỉnh riêng: Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài

+ Có phương pháp điều chỉnh riêng: Phương pháp điều chỉnh cơ bản của Tư pháp quốc tế bao gồm: Phương pháp thực chất và phương pháp xung đột

1.2 Nguồn của tư pháp quốc tế

Theo từ điển tiếng Việt, “nguồn” được hiểu là nơi bắt đầu, nơi chứa đựng Vậy nguồn của pháp luật là căn cứ mà dựa vào đó các chủ thể có quyền, có

Trang 5

thẩm quyền xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật để áp dụng vào giải quyết các vấn đè trên thực tế Theo cách hiểu đó nguồn của Tư pháp quốc tế

là tổng hợp các căn cứ xây dựng, ban hành, giải thích, áp dụng các quy phạm của Tư pháp quốc tế và hình thức thể hiện của các quy phạm đó Hiện nay, nguồn của Tư pháp quốc tế bao gồm các loại sau đây:

+ Luật của mỗi quốc gia

Quy phạm pháp luật được hình thành để điều chỉnh một mối quan hệ nhất định Mối quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng giữa các chủ thể trong quốc gia Mà mỗi quốc gia lại có những điều kiện về chính trị, kinh tế - xã hội và mang những bản sắc riêng biệt nên việc chủ động ban hành các quy phạm của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật nước mình là điều không thể tránh khỏi Điều này dẫn đén việc hình thành cái gọi là “quy phạm pháp luật xung đột”

+ Các điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế có thể được coi là nguồn quan trọng nhất của Tư pháp quốc

tế Nhìn thấy chữ điều ước quốc tế, ta hình dung ra được các quốc gia đã ngồi lại cùng thảo luận về các nội dung của dự thảo luật nào đó Điều này đừng nhầm lẫn với Công pháp quốc tế Nếu trong nội hàm hệ thống pháp luật quốc gia A quy định một phương pháp giải quyết mối quan hệ X nào đó Hệ thống pháp luật của nước B, C, D lại có chiều hướng giải quyết khác, như vậy, đến khi nào mới thống nhất lại với nhau Vì lẽ đó, các điều ước quốc tế ra đời đã gần như giải quyết được các vấn đề mâu thuẫn này Nên nói, điều ước quốc tế lànguồn quan trọng nhất của Tư pháp quốc tế là hoàn toàn đúng

+ Tập quán pháp luật quốc tế

Cũng giống định nghĩa về tập quán pháp luật quốc gia, các tập quán pháp luật quốc tế là các quy tắc sử sự chung được hình thành trong một khoản thời gian

Trang 6

dài, được áp dụng một cách liên tục, có hệ thống và được các quốc gia thừa nhận thực hiện

1.3 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Thông thường, đối tượng điều chỉnh của một nghành luật nói chung là những quan hệ xã hội hoặc nhóm những quan hệ xã hội có tính chất tương tự nhau Như đã nêu ở trên, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là quan hệ dân

sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trong đó có cả quan hệ tố tụng quốc

tế Quan hệ dân sự theo nghĩa rộng là bao gồm không chỉ các quan hệ dân sự thuần túy (hôn nhân, đất đai, thừa kế,…) nà còn có cả quan hệ lao động, kinh doanh, thương mại, bảo hiểm,…

Quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là những quan hệ dân

sự có một hoặc nhiều bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc chủ thể tham gia không có yếu tố nước ngoài nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ thực hiện theo pháp luật nước ngoài; phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản là đối tượng tranh chấp nằm ở nước ngoài Khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rõ:

“Điều 663 Phạm vi áp dụng

Trang 7

2 Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”

1.4 Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Phương pháp điều chỉnh của một nghành luật là tổng hợp các phương pháp và cách thức tác dộng tới đối tượng mà nghành luật đó điều chỉnh Ví dụ, phương pháp điều chỉnh của luật hành chính và luật hình sự chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, phương pháp điều chỉnh của luật dân sự dựa trên yếu tố bình đẳng và tôn trọng ý chí tự nguyện, sự thỏa thuận giữa các bên Về cơ bản, đặc tính các đối tượng điều chỉnh khác nhau nên phương pháp điều chỉnh giữa các nghành luật cũng có thể hiện sự khác nhau

Đối với Tư pháp quốc tế, Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là tổng hợp các cách thức, biện pháp mà Nhà nước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật tác động tới các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nhầm đảm bảo sự cân bằng hoặc sự hài hòa lợi ích giữa các bên, phù hợp với pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế và giữ vững, duy trì tính ổn định trong quan hệ dân sự quốc tế

Để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong

Tư pháp quốc tế hay sử dụng hai phương pháp chính là: phương pháp thực chất, phương pháp xung đột và phương pháp phương pháp áp dụng tập quán, tương tự pháp luật Tuy nhiên, điểm độc đáo của Tư pháp quốc tế so với các

Trang 8

nghành luật khác trong nước thể hiện chủ yếu ở hai phương pháp điều chỉnh đầu tiên

+ Phương pháp thực chất, hay còn gọi là phương pháp trực tiếp

Phương pháp thực chất, nói dễ hiểu thì đây là phương pháp sử dụng những điều luật có sẵn để giải quyết đúng, trúng và chính xác các quan hệ xảy ra tranh chấp Các điều luật có sẵn này thường được tìm thấy trong các điều ước quốc tế mà các quốc gia thành viên tham gia ký kết hoặc việc chấp nhận và sử dụng tập quán quốc tế, án lệ quốc tế cũng thể hiện việc áp dụng phương pháp thực chất trong Tư pháp quốc tế

Việc sử dụng phương pháp này mang lại ưu việt lớn Bỏi không tốn thời gian tranh luận, không tốn thời gian tìm kiếm, việc áp dụng một hoặc nhiều điều luật có sẵn – không cần thông qua một khâu trung gian nào cả góp phần làm cho mối quan hệ Tư pháp quốc tế điều chỉnh được xác định ngay, áp dụng pháp luật nhanh chóng Các chủ thể khi giải quyết tranh chấp có thể tiết kiệm được thời gian và đôi khi còn có thể tiết kiệm được cả tiền bạc Tuy nhiên, một thực tế cũng xảy ra đó là hiện nay các quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh ngày càng đa dạng về nội dung nhưng số lượng các quy phạm thực chất – có sẵn về số lượng chưa đáp ứng được với sự đa dạng của các quan hệ đó

Do vậy, nhiều tình huống xảy ra không thể sử dụng phương pháp thực chất này mà phải sử dụng phương pháp tiếp theo là phương pháp xung đột

+ Phương pháp xung đột, hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột trong điều chỉnh các quan hệ tư pháp Nói một cách dễ hiểu thì nếu trong phương pháp thực chất, chúng ta tìm được những điều luật quy định cụ thể về qyền và nghĩa vụ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức thì khi áp dụng phương pháp xung đột đồng nghĩa với việc ta không tìm được những quy định cụ thể như vậy Mà chỉ tìm được các quy phạm pháp luật dẫn chiếu tới việc sử dụng điều

Trang 9

luật nào tiếp theo Quy phạm xung đột có thể hiểu là những quy phạm pháp luật (điều luật) không quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ và chế tài để giải quyết vụ việc mà chỉ có vai trò là bước điệm, xác định trong vụ việc đó sẽ sử dụng luật nước nào

Quy phạm xung đột được xây dựng bằng cách các quốc gia tự ban hành hệ thống pháp luật của nước mình hoặc xây dựng bằng cách các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế Việc ký kết điều ước quốc tế này không giống với việc ban hành các quy phạm thực chất Kết quả của điều ước quốc tế này là làm sinh ra các quy phạm xung đột – làm căn cứ áp dụng các trường hợp có thể phát sinh trong tương lai Phương pháp này có tính linh hoạt hơn so với phương pháp thực chất Đây là phương pháp điều chỉnh được coi là đặc trưng

cơ bản của Tư pháp quốc tế

+ Phương pháp điều chỉnh áp dụng tập quán, tương tự pháp luật

Trong trường hợp phương pháp thực chất và phương pháp xung đột không được thực hiện hoặc không thể thực hiện thì phương pháp điều chỉnh áp dụng tập qua, tương tự pháp luật Có thể thấy, phương pháp này được đưa ra sử dụng khi hệ thống pháp luật còn sự thiếu sót, chưa được hoàn chỉnh, hay trong trường hợp xảy ra, hệ thống pháp luật chưa có quy định, chưa có án lệ

để áp dụng Trong trường hợp liên quan đến Tư pháp quốc tế thì các quốc gia chưa có các điều ước quốc tế liên quan được ký kết Pháp luật trong quốc gia cũng chưa có điều luật để thực hiện thì các tập quán pháp tương tự luật của chính quốc gia sẽ được áp dụng để giải quyết

Để tránh khỏi những trường hợp khi phải sử dụng đến tập quán tương tự luật trong quá trình giải quyết liên quan thì các quốc gia đang từng bước cố gắng hoàn thiện luật và đưa ra các ký kết quốc tế mang tính hoàn thiện Tư pháp quốc tế Sự hợp tác này đem lại những lợi ích nhất định trong quán trình hợp tác phát triển mối quan hệ pháp luật giữa các quốc gia trên thế giới

Trang 10

1.5 Các nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế

Có thể thấy rằng, trong nội hàm các nghành luật, việc tồn tại những nguyên tắc nhất định là điều quan trọng giúp cho quá trình xây dựng, thi hành và áp dụng các quy phạm pháp luật một cách trơn tru và có hiệu quả Đối với Tư pháp quốc tế luôn có những nguyên tắc cơ bản sau:

+ Nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia Theo Hiến pháp năm 2013, nội dung cơ bản của nguyên tắc thể hiện ở việc Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt đối xử giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia trên thế giới Các chế độ sở hữu này đều được đối xử bình đẳng về mặt pháp lý, không phân biệt thể chế chính trị, kinh tế, xã hội mà các quốc gia đang hướng tới + Nguyên tắc miễn trừ quốc gia

Khi áp dụng nguyên tắc này, đồng nghĩa với việc công nhận quyền miễn trừ

tư pháp và miễn trừ tài sản của một quốc gia Có nghĩa là quyefn của quốc gia

sẽ không bị xét xử bởi bất kỳ một cơ quan tài phán nào dù cơ quan tài phán quốc tế hay cơ quan tài pháp của quốc gia khác trong quan hệ Tư pháp quốc

tế nếu chính quốc gia đó không đồng ý Tương tự quyền miễn trừ tài sản quốc gia cũng vậy Các tài sản của quốc gia sẽ không bị áp dụng các biện pháp đảm bảo thi hành án

+ Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và công dân các nước với nhau tại Việt Nam

Nội dung của nguyên tắc này cho phép công dân nước ngoài khi ở Việt Nam được hưởng những quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam Tuy nhiên, trong một số nội dung đặc thù mang tính chất cơ mật hoặc nội bộ quốc gia, quyền của công dân nước ngoài sẽ bị hạn chế Các nội dung bị hạn chế không

Trang 11

nhiều và hoàn toàn không gây ảnh hưởng tới các quyền cơ bản mà công dân được hưởng

+ Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên

Về bản chất, các quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh vẫn là các quan hệ dân sự nên việc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên là nội dung được thừa nhận Tuy nhiên, nhầm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên, giới hạn thực hiện nguyên tắc cũng được đặt ra ở một vài lĩnh vực mà các bên tham gia được lựa chọn pháp luật áp dụng

+ Nguyên tắc có đi có lại

Nội dung của nguyên tắc này được hiểu rằng một quốc gia sẽ giành chế độ pháp lý nhất định cho cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài trong phạm vi chế

độ pháp lý mà nước đó dành cho cá nhân hoặc pháp nhân nước mình Việc áp dụng nguyên tắc này nhầm mục đính bảo hộ một cách tối đa quyền và lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân nước mình tại nước ngoài trong quan hệ

Tư pháp quốc tế

Chương 2 Những vấn đề liên quan đến Công pháp quốc tế

2.1 Khái niệm Công pháp quốc tế

Công pháp quốc tế là hệ thống pháp luật bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng nhầm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau và trong trường hợp cần thiết được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể

Luật quốc tế thực hiện

Hệ thống các quy phạm của Công pháp quốc tế tồn tại sông song với các quy phạm thuộc hệ thống luật quốc gia và có ảnh hưởng, tác động đối với nhau

Trang 12

Công pháp quốc tế được chia thành các bộ phận gồm nhiều nhóm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ hợp tác giữa các chủ thể của Luật quốc tế như Luật điều ước quốc tế, Luật ngoại giao và lãnh sự, Luật biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế… Bên cạnh những điểm đặc thù, các ngành luật thuộc hệ thống Công pháp quốc tế điều có chung các đặc điểm về chủ thể, về đối tượng điều chỉnh, về trình tự xây dựng và biện pháp cưỡng chế Trong quản lí khoa học và đào tạo, Công pháp quốc tế được gọi là ngành luật quốc

tế, phân biệt với Tư pháp quốc tế là ngành luật gồm các quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài

Thuật ngữ “Luật quốc tế” hay “Công pháp quốc tế” được dùng ở đây để nói

về hệ thống pháp luật tồn tại một cách độc lập, song song với hệ thống pháp luật quốc gia chứ không bao hàm cả Tư pháp quốc tế - ngành luật thuộc hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia

+ Đối tượng điều chỉnh: Nếu như luật trong nước điều chỉnh về quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và quan hệ có yếu tố nước ngoài thì Luật quốc tế chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế như quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, môi trường… giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau điều là đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế

Trình tự xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế: trong hệ thống Luật quốc

tế dựa trên nguyên tắc cơ bản bình đẳng về chủ quyền các quốc gia nên không

có cơ quan làm luật Con đường duy nhất để hình thành các quy phạm pháp luật đó là sự thỏa thuận giữa các chủ thể Luật quốc tế với nhau dưới hình thức

ký kết các điều ước quốc tế; cùng nhau thừa nhậnnhững tập quán quốc tế trong quan hệ giữa họ Đây là đặc trưng quan trọng nhất

2.2 Nguồn của công pháp quốc tế

Trang 13

Theo Quy chế Tòa án quốc tế, thì nguồn của pháp luật quốc tế bao gồm: Những điều ước quốc tế mang tính phổ cập hoặc mang tính chất riêng, thiết lập các quy tắc được các quốc gia tranh chấ thừa nhận một cách rõ ràng; tập quán quốc tế với tư cách là chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như luật; các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa nhận; quyết định của Tòa án; học thuyết của các luật gia có trình độ cao của các nước khác nhau, như là nguồn bổ sung xác định các quy tắc của luật Ngoài

ra, nghị quyết của các tổ chức quốc tế cũng là một trong các nguồn của pháp luật quốc tế

Điều ước quốc tế là các loại văn bản pháp luật quốc tế được hình thành từ thỏa thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế Theo pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1988 thì điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bên ký kết, là thỏa thuận bằng văn bản được

ký kết giữa Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, nghị định thư, công hàm trao đổi và danh nghĩa ký kết

Tập quán quốc tế là quy tắc xử sự chung được hình thành trong thực tiễn các quan hệ quốc tế của các nước và được các chủ thể của pháp luật quốc tế công nhận, có giá trị như luật

Các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế là những nguyên tắc được xác định trong điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tổ chức và hoạt động của cơ quan tài phán quốc tế và được áp dụng cho cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Các nguyên tắc chung của pháp luật được vận dụng trong nhiều trường hợp nhầm giải thích nội dung quy phạm pháp luật quốc tế

Ngày đăng: 21/01/2022, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w