1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG: KHAI THÁC KIẾN THỨC TỪ TRANH ẢNH, BẢN ĐỒ, PHÂN TÍCH BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ TRONG MÔN ĐỊA LÍ BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

15 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế hiện nay vẫn còn những học sinh chưa thấy được vai trò của môn Địa lí, xem đây là môn học phụ, học thuộc lòng, không cần phải tư duy động não, nên xem nhẹ, dẫn đến tình trạng nhìn vào bản đồ mà không biết bản đồ đó thể hiện cái gì, không biết phải khai thác từ đâu? Hay đọc đề bài thực hành vẽ biểu đồ mà không biết phải vẽ như thế nào, phải bắt đầu từ đâu…Tôi thấy các kĩ năng Địa lí của học sinh hiện nay rất yếu. Chính vì vậy tôi đã xây dựng chuyên đề: “Rèn luyện kĩ năng: khai thác kiến thức từ tranh ảnh bản đồ, phân tích bảng số liệu và biểu đồ trong môn Địa lí ở bậc THCS” nhằm giúp các em lĩnh hội được kiến thức một cách dễ dàng, nắm được một số kĩ năng địa lí cơ bản,vận dụng được những kiến thức đã học vào trong cuộc sống, tạo hứng thú học tập, phát huy tính tư duy ,tích cực và chủ động sáng tạo cho học sinh.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN ………

TRƯỜNG THCS ……

=====***=====

CHUYÊN ĐỀ

“RÈN LUYỆN KỸ NĂNG: KHAI THÁC KIẾN THỨC TỪ TRANH ẢNH, BẢN ĐỒ, PHÂN TÍCH BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ TRONG MÔN ĐỊA LÍ BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ ”

Người thực hiện: ………

…………, tháng 01/2022

Trang 2

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG: KHAI THÁC KIẾN THỨC TỪ TRANH ẢNH, BẢN ĐỒ, PHÂN TÍCH BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ TRONG MÔN ĐỊA LÍ

BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

I LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Hiện nay, trên thế giới với sự phát triển rất nhanh của nhiều lĩnh vực, nhất là những tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã góp phần đưa nhân loại đến những nền văn minh mới Đó là “nền văn minh tri thức” và con người ngày càng gần nhau hơn Việt Nam là một bộ phận của thế giới, phải tiếp cận và hội nhập vào “Nền văn minh tri thức” Giáo dục là ngành đảm nhận vai trò quan trọng này

Trong các môn học ở trường Trung học cơ sở thì môn Địa lí đã góp phần không nhỏ thể hiện vai trò trên, vì Địa lí luôn luôn gắn liền với thực tế cuộc sống,

xã hội loài người Dạy Địa lí chính là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, các thành phần tự nhiên với nhau, giữa tự nhiên với con người hay là những biến động và sự thay đổi ít nhiều của thế giới như: bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường … Từ đó giúp học sinh thấy được những cái hay, cái đẹp của thiên nhiên, vai trò của thiên nhiên đối với con người, biết vị trí địa lí giới hạn lãnh thổ

và sự phát triển kinh tế của từng châu lục, từng quốc gia

Nhiệm vụ của môn Địa lí là cung cấp những kiến thức, kĩ năng phổ thông

cơ bản thuộc khoa học Địa lí và hình thành năng lực, phẩm chất cần thiết cho học sinh, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vẫn còn những học sinh chưa thấy được vai trò của môn Địa lí, xem đây là môn học phụ, học thuộc lòng, không cần phải tư duy động não, nên xem nhẹ, dẫn đến tình trạng nhìn vào bản đồ mà không biết bản đồ

đó thể hiện cái gì, không biết phải khai thác từ đâu? Hay đọc đề bài thực hành vẽ biểu đồ mà không biết phải vẽ như thế nào, phải bắt đầu từ đâu…Tôi thấy các kĩ năng Địa lí của học sinh hiện nay rất yếu Chính vì vậy tôi đã xây dựng chuyên đề:

“Rèn luyện kĩ năng: khai thác kiến thức từ tranh ảnh bản đồ, phân tích bảng số

liệu và biểu đồ trong môn Địa lí ở bậc THCS” nhằm giúp các em lĩnh hội được

Trang 3

kiến thức một cách dễ dàng, nắm được một số kĩ năng địa lí cơ bản,vận dụng được những kiến thức đã học vào trong cuộc sống, tạo hứng thú học tập, phát huy tính tư duy ,tích cực và chủ động sáng tạo cho học sinh

II NỘI DUNG:

1 Tổng quan vấn đề rèn luyện một số kĩ năng Địa lí ở trường THCS.

1.1 Các khái niệm về kĩ năng Địa lí:

- Kĩ năng, kĩ xảo nói chung là cách thức, mức độ, thực hiện một hành động nào

đó, thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng, kĩ xảo thực chất là những hành động thực tiễn mà học sinh hoàn thành được một cách có ý thức trên cơ sở những kiến thức Địa lí

- Muốn có kĩ năng, kĩ xảo, trước hết học sinh phải có kiến thức và biết cách vận dụng chúng vào thực tiễn

- Kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ xảo

- Kĩ năng hoàn thiện được hình thành sau khi đã có kĩ xảo Kĩ năng hoàn thiện đòi hỏi ở học sinh kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong hành động

1.2 Đặc điểm môn Địa lí ở cấp THCS

Môn Địa lí trong nhà trường có khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khối

lượng kiến thức phong phú về Địa lí tự nhiên, Địa lí kinh tế - xã hội và những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt là kĩ năng bản đồ Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững các kĩ năng và kiến thức Địa lí trong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau:

+ Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tượng, khái niệm Địa lí, các mối quan hệ Địa lí, nhất là mối quan hệ nhân quả

+ Phát triển cho học sinh tư duy Địa lí đó là tư duy liên hệ tổng hợp xét đoán dựa trên bản đồ

+ Tận dụng triệt để các thiết bị dạy học Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ trong đó quan trọng nhất là bản đồ

+ Tăng cường hướng dẫn học sinh quan sát, thu thập thông tin, vận dụng kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết vấn đề có liên quan trong cuộc sống

Trang 4

2 Thực trạng giảng dạy môn Địa lí trong trường THCS Tân Tiến.

2.1 Thuận lợi:

- Được sự chỉ đạo quan tâm sâu sắc của các cấp, ban ngành, đặc biệt là Sở Giáo dục & đào tạo, Phòng Giáo dục& đào tạo , Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn và các anh chị đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm

- Sách giáo khoa cải cách đã có nội dung phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

- Học sinh tìm hiểu có hệ thống từ Địa lí đại cương được mở rộng qua giáo trình địa lí các châu, từ Địa lí tự nhiên Việt Nam đến Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam

- Có các loại bản đồ,tranh ảnh phục vụ giảng dạy

- Trong những năm qua, bộ môn Địa lí được các cấp, các ngành quan tâm hơn như

tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 THPT chuyên, thi học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh, thi tốt nghiệp THPT

- Giáo viên có đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, máy vi tính, máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy

- Nhà trường có kết nối internet nên việc truy cập thông tin về chuyên môn cũng có nhiều thuận lợi

- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và một số em có sách tham khảo đó là điều cần thiết cho các em học tập ở trường và ở nhà

2.2 Khó khăn:

Hiện nay sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, vì thế mà một số em và gia đình của các em chỉ chú trọng môn khoa học tự nhiên, xem nhẹ môn Địa lí và cho rằng đây là môn học phụ, học thuộc lòng không cần đầu tư suy nghĩ nhiều nên các em thờ ơ với môn học, học mang tính chất đối phó Chính vì vậy một số học sinh chưa biết đọc bản đồ, khai thác các bảng số liệu…, nói chung kĩ năng địa lí của học sinh còn yếu

Môn học chỉ dừng lại ở những câu hỏi, bài tập thực hành một cách thụ động Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh được đo lường bằng trí nhớ

Trang 5

Nhiều thiết bị dạy học của bộ môn như: bản đồ, tranh ảnh được cấp về từ lâu nên đã bị hư hỏng và xuống cấp Dẫn đến nhiều bài học không có bản đồ để sử dụng

3 Một số giải pháp chủ yếu để rèn luyện kĩ năng cho học sinh.

3.1 Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ.

Bản đồ là nguồn tri thức quan trọng và được xem như quyển sách thứ hai trong nghiên cứu và học tập môn Địa lí

Các đối tượng Địa lí trải rộng trong không gian, giáo viên không thể dẫn học sinh đến từng nơi được Vì vậy dạy học Địa lí không thể không có bản đồ Các đối tượng Địa lí được thể hiện trên bản đồ thông qua hệ thống kí hiệu bản đồ

Để khai thác được những tri thức Địa lí trên bản đồ, trước hết học sinh phải hiểu bản đồ, đọc đựơc bản đồ, nghĩa là phải nắm bắt những kiến thức lý thuyết về bản đồ, trên cơ sở đó có đựơc những kĩ năng làm việc với bản đồ

Đọc bản đồ là kĩ năng tương đối khó và phức tạp đối với học sinh Trong kĩ năng này, học sinh phải vận dụng đồng thời cả những kiến thức về bản đồ cũng như những kiến thức về Địa lí Trên cơ sở hiểu biết tính quy ước và tính khái quát của bản đồ, học sinh có thể tìm ra những tri thức Địa lí trên bản đồ

* Khi tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức trên bản đồ theo các bước sau:

Bước 1: Đọc tên bản đồ để biết đối tượng địa lí thể hiện trên bản đồ là gì.

Ví dụ: Bản đồ địa hình thì đối tượng thể hiện trên bản đồ chủ yếu là địa hình

( các dạng địa hình và sự phân bố của chúng); bản đồ khí hậu thì đối tượng thể hiện chủ yếu của bản đồ sẽ là các yếu tố khí hậu ( Nhiệt độ, khí áp, gió, mưa ) hoặc bản

đồ công nghiệp thì đối tượng thể hiện chủ yếu sẽ là các trung tâm và các ngành công nghiệp

Bước 2: Đọc bảng chú giải để biết cách người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ

như thế nào? Bằng các kí hiệu gì? Bằng các màu gì?

Trang 6

Bước 3: Dựa vào các kí hiệu, màu sắc trên bản đồ để xác định vị trí của các đối

tượng địa lí và thông qua những kí hiệu đó rút ra nhận xét về tính chất, đặc điểm của các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ

Bước 4: Dựa vào bản đồ kết hợp với kiến thức Địa lí, vận dụng các thao tác tư duy

(so sánh, phân tích, tổng hợp) để phát hiện các mối liên hệ Địa lí không thể hiện trực tiếp trên bản đồ (đó là mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh tế với nhau ) nhằm giải thích sự phân bố cũng như đặc điểm các đối tượng , hiện tượng địa lí

Ví dụ 1: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ H10.1 “Lược đồ

tự nhiên khu vực Nam Á” trong SGK Địa lí Lớp 8.(Bài 10: Điều kiện tự nhiên khu vực Nam Á)

Tên lược đồ: “Lược đồ tự nhiên khu vực Nam Á ”

Cách thể hiện trên luợc đồ: đồng bằng được thể hiện màu xanh lá cây, sơn nguyên màu vàng, núi cao màu nâu, hoang mạc: màu vàng nhạt với những chấm đen Ngoài ra trên lược đồ còn có các kí hiệu chỉ một số loại khoáng sản trong vùng

- CH: Kể tên các miền địa hình chính từ Bắc xuống Nam? HS có thể dựa vào màu sắc thể hiển trên lược đồ để xác định vị trí cũng như kể tên các miền địa hình chính

từ bắc xuống nam: phía bắc là hệ thống núi Hymalaya hùng vĩ, phía nam là sơn nguyên Đê-can và ở giữa là đồng bằng Ấn-Hằng rộng và bằng phẳng

Trang 7

- CH: Cho biết các hệ thống sông chính của Nam Á?

Dựa vào H10.1 HS có thể dễ dàng thấy được 3 con sông lớn: sông Ấn, sông Hằng, sông Bra-ma-pút bắt nguồn từ dãy Hymalaya chảy xuống vùng đồng bằng

- HS dựa vào lược đồ H10.1, kết hợp với các kiến thức đã học để giải thích sự phân

bố lượng mưa của Nam Á trong H10.2:

+ Lượng mưa ở Se-ra-pun-di lớn nhất(11000mm) do gió mùa Tây Nam từ biển vào, gặp dãy Hymalaya nên đã gây mưa như trút nước ở sườn đón gió

+ Dãy Gát Tây chắn gió mùa Tây Nam nên lượng mưa ở ven biển phía Tây( Mum-bai) lớn hơn ở sơn nguyên Đê-can

+ Khu vực Mun-tan thuộc đới khí hậu nhiệt đới khô, và do gió mùa Tây nam gặp dãy Hymalaya chắn gió đã chuyển hướng Tây Bắc, lượng mưa giảm dần trong quá trình di chuyển của gió Tây nam nên lượng mưa ở đây rất thấp( 183mm)

Ví dụ 2: Bài 33 “Vùng Đông Nam Bộ” Phân tích bản đồ kinh tế vùng Đông Nam Bộ

Trang 8

- Học sinh có thể nhận ra dễ dàng vùng kinh tế Đông Nam Bộ có đầy đủ các ngành công nghiệp quan trọng như: năng lượng, luyện kim, cơ khí, chế biến lương thực thực phẩm, hóa chất, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng, lắp ráp các thiết bị điện tử Từ đó nói lên trình độ công nghiệp của vùng khá phát triển hòan chỉnh Nhận định này được củng cố hơn khi phân tích Thành Phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh lớn nhất vùng, là đầu mối giao thông quan trọng nối với các vùng khác so với cả nước và với các nước trong khu vực

- Dựa vào bản đồ có thể đi sâu phân tích: sự phân bố các trung tâm công nghiệp thuộc những ngành khác nhau như: thuỷ điện được xây dựng ở những nơi có nguồn nước như sông Đồng Nai, sông Bé…

3.2 Kĩ năng phân tích biểu đồ:

- Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích biểu đồ theo các bước:

- Đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới biểu đồ, xem biểu đồ thể hiện, hiện tượng

gì ?

-Tìm hiểu xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì?(nhiệt độ, lượng mưa, các ngành kinh tế, dân số ) trên lãnh thổ nào và thời gian nào, được thể hiện trên biểu

Trang 9

đồ như thế nào? (theo đường, cột, hình quạt ) và trị số các đại lượng được tính bằng gì? (mm, %, triệu người )

- Dựa vào các số liệu thống kê đã được trực quan hóa trên biểu đồ, đối chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượng địa lí được thể hiện

Ví dụ 1: Khi dạy Bài 21: Thực hành: Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa (Lớp 6)

Tên biểu đồ: Biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội

- Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là nhiệt độ và lượng mưa của Hà Nội qua các tháng trong năm Nhiệt độ được thể hiện bằng đường đồ thị, lượng mưa được thể hiện bằng hình cột Trị số của nhiệt độ được tính bằng (oC), lượng mưa được tính bằng ( mm)

- Dựa vào đường đồ thị thể hiện nhiệt độ và các cột thể hiện lượng mưa của Hà Nội rút ra nhận xét về lượng mưa và nhiệt độ ở đây như sau: về nhiệt độ: có sự chênh lệch của các tháng trong năm Có tháng nhiệt độ cao (tháng 7) có tháng nhiệt độ thấp (tháng 1), có tháng mưa nhiều (tháng 8), có tháng mưa ít (tháng 12) Sự chênh lệch về nhiệt độ và lượng mưa giữa các tháng cao nhất và thấp nhất tương đối lớn

Trang 10

(về nhiệt độ chênh lệch nhau khoảng 12oC, về lượng mưa chênh lệch nhau khoảng

280 mm)

Ví dụ 2: Bài 6: “Sự phát triển nền kinh tế Việt Nam”( Địa lí 9) phần II mục 1: “Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế”

H6.1 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP từ năm 1990 đến năm 2002

Câu hỏi: Dựa vào H6.1, hãy phân tích xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Xu hướng này thể hiện rõ ở những khu vực nào?

- Tên biểu đồ: Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP từ năm 1990 đến năm 2002

- Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là cơ cấu GDP của ngành Nông-lâm-ngư nghiệp, ngành Công nghiệp- xây dựng và ngành Dịch vụ được trình bày theo dạng biểu đồ miền

- Qua biểu đồ rút ra nhận xét:

+ Tỉ trọng của Nông-lâm-ngư nghiệp trong cơ cấu GDP từ sau năm 1991 không ngừng giảm thấp hơn khu vực Dịch vụ, khu vực Công nghiệp- xây dựng, đến năm

2002 chỉ còn hơn 23% chứng tỏ nước ta đang chuyển từng bước từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp

Trang 11

+ Tỉ trọng của khu vực công nghiệp- xây dựng đã tăng lên nhanh nhất, chúng tỏ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang phát triển

+ Khu vực dịch vụ có tỉ trọng tăng khá nhanh trong nửa đầu thập kỉ 90 Nhưng sau

đó tỉ trọng của khu vực này giảm rõ rệt, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủng

hoảng tài chính vào cuối năm 1997 nên các hoạt động kinh tế đối ngoại tăng trưởng chậm

3.3 Khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí:

Việc khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí được tiến hành theo các bước:

- Nêu tên các bức tranh (hoặc ảnh) nhằm xác định xem bức tranh hay, bức ảnh đó thể hiện cái gì? (đối tượng địa lí nào?), ở đâu?

- Chỉ ra những đặc điểm, thuộc tính của các đối tượng địa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh)

- Nêu biểu tượng và khái niệm Địa lí trên cơ sở những đặc điểm và thuộc tính của nó.Tuy nhiên, tranh ảnh chỉ có tác dụng giúp học sinh khai thác được một số đặc điểm và thuộc tính nhất định về đối tượng Vì vậy, giáo viên cần gợi ý cho học sinh dựa vào kiến thức địa lí đã học, kết hợp với bản đồ, biểu đồ, các tư liệu địa lí khác

để giải thích đặc điểm, thuộc tính cũng như sự phân bố (vị trí) của đối tượng địa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh) đó

Ví dụ : Bài 2: Con người và môi trường địa lí (Lớp 7)

Mục 2: Tranh “Khu công nghiệp luyện kim ở Đức”.(Hình 21.3-SGK/75)

Trang 12

-Tên tranh: Tranh “Khu công nghiệp luyện kim ở Đức”.

- Đặc điểm khu công nghiệp thể hiện trên bức tranh: Một khu công nghiệp được xây dựng bên bờ một con sông

- Biểu tượng và khái niệm về khu công nghiệp: Hệ thống ống khói san sát, khói bụi

mù mịt, hệ thống nước thải đổ ra sông

- Dựa vào các đặc điểm đó để giải thích các hoạt động công nghiệp có ảnh hưởng tới môi trường địa lí như thế nào? (gây ô nhiễm môi trường, biện pháp khắc phục)

3.4 Kĩ năng phân tích bảng số liệu:

Khi hướng dẫn học sinh phân tích bảng số liệu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước sau:

- Nắm được mục đích làm việc với bảng số liệu

- Đọc tiêu đề của bảng số liệu thống kê để nắm được chủ đề của bảng số liệu đó

- Hiểu được các đặc trưng không gian, thời gian của các đại lượng đựơc trình bày trong bảng

- Không bỏ sót số liệu nào

- Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể

- Tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình

- Xử lí các số liệu đã cho theo yêu cầu của bài tập (khi cần)

- Xác lập mối quan hệ giữa các số liệu so sánh, đối chiếu các số liệu theo cột, theo hàng để rút ra nhận xét

- Đặt ra câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các số liệu nhằm tìm ra kiến thức mới

Ví dụ : Phân tích bảng số liệu (Bài 3: Phân bố dân cư và các loại hình quần cư- Lớp 9)

Bảng 3.1 Số dân thành thị và tỉ lệ dân thành thị nước ta thời kì 1985-2003.

Số dân thành thị

( nghìn người)

11360,0 12880,3 14938,1 18771,9 20869,5

Tỉ lệ dân thành thị (%) 18,97 19,51 20,75 24,18 25,80

Ngày đăng: 20/01/2022, 14:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w