Bài viết phân tích và đưa ra những gợi mở một vài phương pháp đào tạo kĩ năng thực hành pháp luật cho sinh viên hiện nay trên thế giới có thể áp dụng ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 11 Đặt vấn đề
Do nhu cầu thực tế, việc sử dụng lao động đã qua đào
tạo trong ngành Luật để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật,
thực hiện tốt chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền
nên trong những năm gần đây [1], có rất nhiều trường đại
học (ĐH) ở Việt Nam mở thêm ngành đào tạo, thành lập
khoa Luật để đào tạo cử nhân Luật Để khắc phục những
nhược điểm trước đây như các cử nhân Luật ra trường
chưa thể sử dụng được ngay mà cần phải đào tạo lại, bổ
sung thêm kiến thức và nhiều kĩ năng làm việc mới có
thể đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động,
các cơ sở đào tạo Luật hiện nay đã cố gắng đưa thêm
nhiều môn học mới, thay đổi phương pháp đào tạo, gắn lí
thuyết với thực hành, kết hợp đào tạo thêm kĩ năng thực
hành pháp luật cho sinh viên (SV) Tuy nhiên, trên thực
tế vẫn cần có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm Trong bài
viết này, tác giả phân tích và đưa ra một số giải pháp để
nâng cao hơn nữa kĩ năng thực hành pháp luật cho các cử
nhân Luật sau khi tốt nghiệp
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Thực trạng đào tạo kĩ năng thực hành pháp luật ở các
trường đại học Việt Nam
Nhiều năm qua, ở Việt Nam, vì nhiều nguyên nhân cả
chủ quan và khách quan, kể từ khi Trường ĐH Luật đầu
tiên của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thành
lập năm 1979 là Trường ĐH Pháp lí Hà Nội, nay là ĐH
Luật Hà Nội, (sau này thành lập thêm Trường ĐH Luật
Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Nam và nhiều khoa
Luật thuộc các ĐH ở khắp các tỉnh thành trong toàn
quốc như Khoa Luật Trường ĐH Ngoại thương, Khoa
Luật của Học viện Ngân hàng, Khoa Luật của Học viện
Phụ nữ, Khoa Luật của ĐH Tài chính và Ngân hàng Hà
Nội, ) Các cơ sở đào tạo Luật ở Việt Nam hầu như chỉ tập trung vào giảng dạy Luật với những lí luận đôi khi là giáo điều và giảng viên thường phân tích, giảng giải cho SV hiểu các điều luật thành văn Rất ít vụ việc thực tế và các bản án được đưa vào nội dung giảng dạy hoặc nếu có đưa ra thì thường chỉ là một vài tình tiết nhỏ thiếu tính hệ thống
Một trong các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là việc trong một thời gian dài các tòa án nhân dân vẫn lưu giữ và coi các bản án như tài liệu mật, không công bố và chỉ những người có liên quan được biết Vì vậy, các giảng viên Luật rất khó để có thể tiếp cận được nội dung đầy đủ các bản án cũng như hồ sơ vụ án nên việc giảng dạy chủ yếu mang tính lí thuyết, thiếu tính thực tiễn là phổ biến Phương pháp giảng dạy chủ đạo vẫn là thuyết giảng Thầy giảng, trò nghe và ghi chép mặc dù nhiều môn Luật có khối lượng khá lớn các bản
án có thể đưa vào nghiên cứu và giảng dạy như: Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Lao động hay Luật Hôn nhân Gia đình
Năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về Cải cách tư pháp [2] Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị quyết này là đã khẳng
định: “Từng bước thực hiện việc công khai hóa các bản
án, trừ những bản án hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mĩ tục.” Gần
đây, việc lựa chọn phát triển án lệ và công bố án lệ đã lần đầu tiên được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) năm 2014 [3] Nhưng cho đến vài năm gần đây, việc tiếp cận một cách đầy đủ và toàn diện các bản án, quyết định của Tòa án vẫn không phải
là một việc dễ dàng Gần đây, tình hình sử dụng bản án trong công tác đào tạo Luật và nghiên cứu khoa học đã
Tăng cường đào tạo kĩ năng thực hành pháp luật
cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam
Phạm Thanh Nga
Hội Luật quốc tế Việt Nam
69 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Email: pham.nga.hlu@gmail.com
TÓM TẮT: Trong thời gian gần đây, với xu thế mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới cùng với việc thực hiện nghiêm túc chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, việc giáo dục pháp luật cho sinh viên không chỉ sinh viên ngành Luật mà mọi sinh viên được đẩy mạnh hơn bao giờ hết ở các trường đại học của Việt Nam Tuy nhiên, thực tế các doanh nghiệp nói riêng và người sử dụng lao động nói chung vẫn phải tiến hành đào tạo lại kĩ năng cho sinh viên mới tốt nghiệp được nhận vào làm Vì vậy, việc đào tạo kĩ năng thực hành pháp luật cho sinh viên Việt Nam ngay từ khi còn học ở các trường đại học là hết sức cần thiết Trong khuôn khổ bài viết, tác giả phân tích và đưa ra những gợi mở một vài phương pháp đào tạo kĩ năng thực hành pháp luật cho sinh viên hiện nay trên thế giới có thể áp dụng ở Việt Nam.
TỪ KHÓA: Đào tạo; kĩ năng; thực hành pháp luật; sinh viên
Nhận bài 10/3/2021 Nhận bài đã chỉnh sửa 21/3/2021 Duyệt đăng 10/5/2021.
Trang 2có những tín hiệu lạc quan khi mà Tòa án nhân dân tối
cao bắt đầu tuyển chọn và phát hành ra công chúng một
số quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, khi mà có nhiều
bài bình luận án trong Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí
Khoa học Pháp lí và một số tạp chí chuyên ngành khác
và có sự xuất hiện của một số cuốn sách bình luận án
Việc công bố các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật là việc làm hữu ích không những cho công tác
nghiên cứu, đào tạo luật mà còn rất hữu ích cho những
người hành nghề Luật, các luật sư, luật gia, thẩm phán,
kiểm sát viên, cán bộ tòa án và viện kiểm sát Việc công
bố các bản án còn giúp cho người dân và doanh nghiệp
hiểu biết thêm về pháp luật và có thể dự đoán trước kết
quả giải quyết các vụ việc tương tự phát sinh
Việc nghiên cứu và đưa bản án vào nội dung giảng dạy
đã được các trường ĐH Luật chú trọng hơn trong những
năm gần đây Một số cơ sở đào tạo Luật của Việt Nam
đã tiến hành việc xây dựng hệ thống sách tình huống,
sách bình luận án bên cạnh hệ thống giáo trình, tập bài
giảng đã biên soạn [4], [5], [6] Song, một trong những
khác biệt và thách thức của đào tạo Luật ở Việt Nam so
với các nước phát triển là hàng năm các trường Luật ở
Việt Nam, đặc biệt là các Khoa Luật thuộc trường ĐH
đa ngành đã và đang tuyển sinh đào tạo hàng ngàn cử
nhân Luật, thạc sĩ Luật với điều kiện quá dễ dàng… tạo
cảm giác như ai cũng có thể học ĐH Luật, không học
chính quy thì học vừa làm vừa học, học từ xa ; khác xa
với con số tuyển sinh chỉ hơn trăm SV hàng năm của
các Khoa Luật ở các nước phát triển Vì thế, việc nâng
cao chất lượng đào tạo Luật ở Việt Nam đang đối mặt
với những thách thức quá lớn do chất lượng đầu vào
thấp và ý thức thái độ của người học chưa cao, trong khi
chất lượng giảng viên nhìn chung còn hạn chế, phương
pháp giảng dạy lạc hậu và cơ sở vật chất còn thiếu thốn
2.2 Một số phương pháp đào tạo kĩ năng thực hành pháp
luật cho cử nhân Luật
2.2.1 Sử dụng án lệ và quyết định của Tòa án trong việc
giảng dạy Luật cho sinh viên
Thực hiện quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính
trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
của Bộ Chính trị về phát triển án lệ tại Việt Nam, ngày
31 tháng 12 năm 2012 Chánh án Tòa án nhân dân Tối
cao đã ban hành Quyết định số 74/ QĐ-TANDTC phê
duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối
cao” trong đó đề cập nhiều vấn đề căn bản về án lệ như
mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng và các giải
pháp Thể chế hóa quan điểm trên trong các Nghị quyết
của Đảng, khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 đã
quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng
kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” Tại khoản 3 Điều 20 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định cụ thể hơn nhiệm
vụ này của Tòa án nhân dân, trong đó nhấn mạnh Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thống nhất trong xét xử” Đây là những cơ sở pháp lí quan trọng, có ý nghĩa cho việc xây dựng, phát triển và áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của các cơ quan Tòa án trong thời gian tới mà hoạt động đào tạo nghề Luật cần đón đầu
Hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng chưa đầy đủ, chưa rõ ràng hoặc có xung đột pháp luật Trong quá trình xét xử trên phạm vi toàn quốc, Tòa án nhân dân các cấp tham khảo quyết định của Tòa chuyên trách, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao qua việc hệ thống tuyển tập các quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được phát hành đến Tòa án nhân dân các cấp Các quyết định này là nguồn tham khảo nhằm hướng dẫn cho các Thẩm phán khi xét xử các vụ án tương tự trên thực tế, góp phần khắc phục những lỗ hổng của pháp luật một cách nhanh chóng, kịp thời, tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau Đây cũng là hình thức giải thích các quy định chưa rõ của pháp luật, tăng cường giáo dục pháp luật, tạo niềm tin cho người dân về tính minh bạch, công khai, bảo đảm sự thống nhất trong đường lối xét xử của hệ thống Tòa án
Việc sử dụng bản án, quyết định của Tòa án trong đào tạo nghề Luật có vai trò quan trọng trong công tác đào tạo ứng dụng, gắn kết công tác giảng dạy, học tập nghề với thực tiễn xét xử Điều này một mặt sẽ khuyến khích
và tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu và phát triển
tư duy bình luận án, mặt khác góp phần tăng cường thói quen nghiên cứu, cập nhật thực tiễn pháp lí của giảng viên và học viên Học viên sẽ không bỡ ngỡ, lúng túng trong thực tiễn hành nghề vì họ đã được đào tạo kĩ năng
áp dụng, vận dụng, tham khảo các bản án, quyết định của Tòa án
Với hoạt động giảng dạy, việc biến bản án, quyết định của Tòa án trở thành một học liệu quan trọng sẽ phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy tích cực Các bản án, quyết định có thể đóng vai trò như những bài tập tình huống điển hình giúp SV hiểu được cách thức vận dụng, áp dụng pháp luật cũng như những kiến thức
lí thuyết về pháp luật trong những tình huống cụ thể Ngoài ra, việc nghiên cứu, phân tích những án lệ cũng giúp cho SV rèn luyện những kĩ năng tư duy phản biện,
tư duy pháp lí hiệu quả hơn là những ví dụ do giảng
Trang 3viên xây dựng mang tính giả định.
Phương pháp giảng dạy bằng vụ việc (trong tiếng
Anh được gọi là case method) là một phương pháp
được phát triển từ khá lâu đời ở những quốc gia tiến
bộ như Hoa Kì, EU và một số quốc gia khác Trong
lĩnh vực pháp luật, phương pháp này được hình thành
từ những năm 1870, do Giáo sư Chritopher Langdell
khởi xướng việc thay đổi phương pháp giảng dạy từ cổ
điển (chủ yếu là diễn giảng học thuyết, còn thực hành
là nhiệm vụ của người học) sang phương pháp giảng
dạy bằng vụ việc khi giáo sư về công tác tại Khoa Luật
Trường ĐH Havard (Hoa Kì)
Phương pháp giảng dạy bằng vụ việc gặt hái được
nhiều thành công đã được chứng minh trong đào tạo
pháp luật Từ năm 1920, phương pháp giảng dạy Luật
bằng tình huống đã trở thành phương pháp giảng dạy
chiếm ưu thế tại ĐH Havard Các trường ĐH Luật
khác của Hoa Kì cũng học hỏi việc sử dụng phương
pháp này Hiện nay, phương pháp tình huống là phương
pháp giảng dạy Luật chính yếu ở Hoa Kì, Anh, Canada,
Australia, New Zealand, Singapore … Bên cạnh đó,
phương pháp này còn được phát triển ở những quốc gia
theo truyền thống pháp luật Châu Âu Điều này được thể
hiện bởi việc xây dựng những sách vụ việc (casebooks)
- phương tiện chính để phục vụ cho phương pháp giảng
dạy này như sách vụ việc về luật chung của Châu Âu
(Ius Commune Casebooks) và ấn phẩm sách vụ việc về
tư pháp quốc tế (Casebook on Conflict Law) cũng được
các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu tiến hành
Với đặc trưng là sử dụng bản án trong việc giảng dạy
và đào tạo Luật, nên một trong những điểm ưu việt của
phương pháp giảng dạy tình huống là đánh giá và thu
hẹp khoảng cách giữa lí luận với thực tiễn và ngược
lại Ngoài ra, việc áp dụng phương pháp giảng dạy tình
huống giúp các SV phát triển được khả năng đọc và phân
tích các vụ việc - những kĩ năng cần thiết của luật sư, của
người có chuyên môn về pháp luật SV học cách phân
tích vụ việc theo các yếu tố như sau: các tình tiết tranh
luận, vấn đề pháp lí mà tòa án phải giải quyết, các cơ sở
để tòa án đưa ra phán quyết và những lí do giải thích cho
quyết định của tòa án Dựa vào các bản án, vụ việc đã
được tòa án giải quyết, các SV phân tích và tìm ra những
nguyên tắc, quy phạm pháp luật nào đó đã được áp dụng
và cách thức tòa án áp dụng những nguyên tắc, quy phạm
đó Trong nghề Luật, đây chính là cơ sở nền tảng để các
thẩm phán đưa ra bản án Theo đó, SV củng cố được
kiến thức - cốt lõi của các nguyên tắc pháp lí qua chính
những vụ việc đã được tòa án giải quyết và có khả năng
vận dụng được những nguyên tắc pháp lí đó trong những
tình huống khác nhau và từ đó, SV học hỏi và thực hành
cách “tư duy giống như một luật sư”
2.2.2 Sử dụng phương pháp diễn án - Moot court
Thuật ngữ “Phiên tòa giả định” (“moot court” hay
“mooting”) được sử dụng phổ biến tại các trường Luật trên thế giới như một hình thức hoạt động nghiên cứu
và thực hành pháp lí của SV các trường Luật, trong đó các SV đóng vai luật sư của các bên trong một vụ việc giả định, tranh luận về nội dung của vụ việc đó trước các thẩm phán của tòa giả định Tại phiên tòa giả định,
SV không phải chỉ hiểu và trình bày các quy định pháp luật, nguyên tắc và học thuyết pháp lí mà còn phải biết cách diễn giải và thuyết phục thẩm phán về các lập luận của mình [7]
Moot court được bắt nguồn từ thuật ngữ “moot” hay
“emoot” trong tiếng Anh cổ có nghĩa là cuộc họp của những người hiểu biết của địa phương để thảo luận về các vấn đề quan trọng của địa phương Trong giai đoạn thế kỉ XVIII, SV các trường Luật của Anh đã sử dụng
từ “mooting” để chỉ hoạt động tranh luận học thuật mà trong đó SV bắt chước các luật sư giải quyết các vấn đề tranh cãi trong cộng đồng địa phương Cuối thế kỉ XIX, khi các cơ sở đào tạo Luật được hình thành tại Mĩ, khái niệm phiên tòa giả định bắt đầu được sử dụng rộng rãi như một hình thức trao đổi học thuật của SV liên quan tới những vấn đề pháp lí giả định
Nhờ những hiệu quả cũng như lợi ích SV có được qua hình thức phiên tòa giả định như bồi dưỡng kiến thức trong lĩnh vực pháp luật liên quan, đồng thời hình thành nhiều kĩ năng mềm quan trọng mà trong vòng ba thập niên trở lại đây, hình thức giảng dạy luật thông qua phiên tòa giả định đã được áp dụng phổ biến tại rất nhiều trường ĐH trên khắp thế giới Từ những trường ĐH hàng đầu thế giới như Harvard Law School, King’s College London, Columbia University, Berlin University, … cho đến những trường ĐH nổi tiếng trong khu vực: Hong Kong University, National University of Singapore, Malay National University, …
Từ đó, hình thành nên các cuộc thi phiên tòa giả định
về các lĩnh vực Luật Thương mại quốc tế, Luật Hình
sự quốc tế, Luật Môi trường, Luật Nhân đạo quốc tế, nhân quyền, … nhận được sự ủng hộ đông đảo của cộng đồng SV quốc tế
Tại Việt Nam, trong những năm qua, đã có một số trường như Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường ĐH Luật Hà Nội, Học viện Ngoại giao quan tâm tới hoạt động này và đã cử đội tuyển SV tham gia các cuộc thi phiên tòa giả định quốc tế và đạt được một
số thành tựu nhất định Mặc dù kết quả chưa thực sự cao, việc áp dung moot-court còn hạn chế nhưng những điều trên là một tín hiệu đáng mừng cho SV ngành Luật nói chung
2.2.3 Sử dụng phương pháp diễn vai - Role play
Phương pháp diễn vai (Role play) là việc cho SV tham gia diễn những kịch bản giả định liên quan đến một tình huống pháp luật cụ thể Trước đây, phương
Trang 4pháp này chủ yếu được sử dụng ở các cơ sở đào tạo
thực hành pháp luật như Học viện Tư pháp khi đào tạo
luật sư, thẩm phán hay kiểm sát viên Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, các trường đào tạo cử nhân luật
cũng đã bắt đầu áp dụng để đào tạo kĩ năng cho SV khi
áp dụng pháp luật Để có thể tiến hành phương pháp
này, cần chuẩn bị những bước sau [7]:
Bước 1: Tạo tình huống kịch: Đầu tiên, giảng viên
cần chọn tình huống cho một đoạn kịch bất kì Điều
quan trọng là phải dựa trên nhu cầu và sở thích của SV
và đem lại cho họ cơ hội luyện tập những gì được học
trên lớp Bên cạnh đó, vở kịch đó cũng cần hấp dẫn để
thu hút các SV Để SV tự lựa chọn tình huống cho mình
cũng là một cách hay SV có thể tự nghĩ ra những đề
tài mà chúng thấy quan tâm hoặc được lựa chọn đề tài
tương tự một loạt các tình huống cho trước Những tình
huống đó có thể xuất phát từ những tình huống trong
cuộc sống đời thường, từ nội dung một cuốn sách hoặc
một bộ phim
Bước 2: Phát triển nội dung: Trên bối cảnh của vở
kịch, SV cần phải đưa ra những ý tưởng để phát triển
tình huống của câu chuyện Tuy nhiên, lời thoại như thế
nào còn tùy vào khả năng và kiến thức của SV Giảng
viên có thể đơn giản hóa cho phù hợp Như vậy, SV bắt
buộc phải nói Để phát triển các mâu thuẫn và xung đột
thì giảng viên hãy biến hóa những lời thoại trong kịch
bản Một khi xuất hiện những tình huống gay cấn thì vở
kịch trở nên thú vị hơn rất nhiều
Bước 3: Chuẩn bị lời thoại: Giảng viên sẽ phải phân
công nhóm SV chuẩn bị lời thoại cho phù hợp với nội
dung kịch bản của từng nhân vật Lưu ý SV sử dụng đúng
ngôn ngữ, đặc biệt là các thuật ngữ chuyên ngành Luật
Bước 4: Chuẩn bị thông tin: Các SV cần được cung
cấp đầy đủ thông tin về vở kịch đặc biệt là những đoạn
mô tả vai để chúng có thể yên tâm đảm nhận vai của
mình Việc mô tả vai một cách kĩ càng giúp SV phân biệt
được các nhân vật, nên dùng ngôi thứ hai hơn là ngôi thứ
ba Nếu một vai có gặp rắc rối nào đó, giảng viên hãy chỉ
mô tả vấn đề và để tự SV tìm cách giải quyết
Bước 5: Phân vai: Giảng viên có thể yêu cầu cả lớp
xung phong đóng kịch trước lớp nhưng thông thường là
nên phân vai từ trước cho mỗi SV Giảng viên cũng có
thể giao việc đóng vai như một bài tập về nhà SV sẽ
tìm hiểu trước và chuẩn bị lời thoại và sau đó cùng nhau
diễn kịch trong giờ học tiếp theo
Một lớp có thể được phân ra thành một hoặc một vài
nhóm diễn kịch Nếu cả lớp là một nhóm thì cần phải
giữ lại một số vai phụ mà bình thường có thể không
dùng đến nếu trong lớp có ít người hơn dự tính Nếu
trong kịch bản có quá ít vai thì có thể giao 1 vai cho 2
học viên Nếu lớp được chia thành vài nhóm diễn kịch,
thì giáo viên khi quyết định phân vai phải cân nhắc đến
khả năng và tính cách của từng SV
Tóm lại, sự tương tác đạt hiệu quả tối ưu khi giảng
viên để cho SV làm việc trong cùng nhóm với bạn của mình Dù có tham gia vào phần diễn kịch hay không thì vai trò của giảng viên cũng hết sức quan trọng Họ phải là người lắng nghe và lưu ý những lỗi mà SV mắc phải có thể là về các kiến thức pháp lí, kĩ năng và cách
áp dụng pháp luật, ngôn ngữ ngành luật, Đây sẽ tư liệu để giảng viên tham khảo và chuẩn bị những bài luyện tập lần sau Một điều quan trọng nữa là giảng viên không nên cắt ngang câu chuyện bằng việc sửa lỗi
để tránh tình trạng làm SV mất hứng
Bước 6: Kết thúc: Khi phần đóng kịch đã hoàn thành,
một chút thời gian để tóm tắt lại nội dung câu chuyện cũng vô cùng bổ ích Điều này không có nghĩa là chỉ ra lỗi sai và sửa Sau vở kịch, SV sẽ hài lòng với chính bản thân chúng, chúng cảm thấy rằng, kiến thức pháp luật của mình đã được sử dụng vào một công việc khá phức tạp và hữu ích Ngoài ra, giảng viên cũng có thể hỏi ý kiến của các SV về vở kịch và khuyến khích những ý kiến đóng góp Mục đích ở đây là để thảo luận những diễn biến của vở kịch và ôn lại những vấn đề chúng đã từng học Cùng với việc thảo luận nhóm, giảng viên có thể phát phiếu câu hỏi để đánh giá hiệu quả
Tóm lại, đóng kịch là một phương pháp khá hay trong việc đào tạo các cử nhân Luật tại các trường ĐH Vở kịch càng thú vị càng lôi kéo được nhiều SV tham gia Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các giảng viên có thể xây dựng trong SV niềm yêu thích học tập môn Luật, từ
đó đạt được kết quả cao hơn trong quá trình giảng dạy
và học tập các kiến thức pháp luật
2.2.4 Cho sinh viên đi thực tế - Field trip
Trong từ điền Cambridge đã định nghĩa “Field trip is
a visit made by students to study something away from their school or college” có nghĩa là tham quan học tập
trải nghiệm là một chuyến đi do các SV thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu sự việc ở ngoài môi trường học tập (trường ĐH) [7]
Một chuyến tham quan thực tế luôn được tổ chức với mục đích giáo dục trong không khí thư giãn, khám phá Tham quan học hỏi nghĩa là sẽ không chỉ có đi thăm quan các địa danh mà đồng thời còn được gặp gỡ những chuyên gia, ghé thăm những trụ sở liên quan đến ngành học Giảng viên và các trường sẽ tổ chức cho SV được tham quan một nơi chốn nào đó như đến tòa án để tham
dự một phiên xét xử, hay đến một văn phòng Luật để xem cách vận hành một văn phòng Luật, không gian luật sư làm việc, tìm hiểu công việc hàng ngày của luật
sư, hay cho SV thăm quan khu vực hành chính công như phòng đăng kí kinh doanh của một sở kế hoạch đầu tư hay thăm quan một nhà máy để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, tổ chức công đoàn, Phương pháp học tập này sẽ giúp cho SV Luật
có những trải nghiệm thực tế về xã hội, hiểu được môi trường làm công việc trong tương lai hay các bài học
Trang 5về thực tế áp dụng pháp luật trong đời sống hàng ngày
Việc học tập trực quan như vậy sẽ giúp SV luật hiểu và
nắm vững kiến thức nhanh hơn
2.2.5 Hội thảo (Seminars)
Điểm mạnh của các buổi hội thảo tại các trường ĐH là
sự góp mặt của các tên tuổi trong ngành Luật, có khi là
một giảng viên, các học giả là các giáo sư có uy tín đến từ
một trường ĐH khác, có khi là một luật sư, doanh nhân
nổi tiếng hay một thẩm phán, kiểm sát viên nhiều kinh
nghiệm thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật [7] Ở các
chương trình đào tạo tiến sĩ, các nghiên cứu sinh cũng sẽ
thường xuyên dự các hội thảo khoa học cấp trường, quốc
gia hay quốc tế để lắng nghe các công trình nghiên cứu
khoa học của những người đi trước
Ở các buổi hội thảo, đôi khi các SV được chia thành
những nhóm nhỏ để trao đổi suy nghĩ của mình Đôi
khi, cuối buổi hội thảo, mỗi nhóm phải cử một đại
diện lên thay mặt cho cả nhóm để thuyết trình Phương
pháp này rất tốt cho SV ngành Luật, giúp SV rèn luyện
kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng
nghiên cứu khoa học, viết báo cáo, phân tích, Hơn
hết là kĩ năng áp dụng và vận dụng những kiến thức đã học cũng như các quy định của pháp luật vào những tình huống cụ thể
3 Kết luận
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, bên cạnh những phương pháp dạy học truyền thống, các trường
ĐH và cơ sở đào tạo pháp luật cần kết hợp các phương pháp giảng dạy mới, hiện đại, gắn liền với thực tế, tạo
cơ hội cho SV có thể vận dụng và áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã được học vào việc giải quyết các tình huống pháp lí trong thực tế Bên cạnh việc thuyết giảng trên giảng đường, giảng viên có thể cho SV đi tham quan thực tế các cơ sở thực hành pháp luật, tham gia diễn án, đóng vai trong những tình huống pháp luật cụ thể để giải quyết những vấn đề pháp lí liên quan bằng việc vận dụng và áp dụng những kiến thức và kĩ năng pháp luật đã được học Có như vậy, khi tốt nghiệp, tham gia làm việc tại các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, các em không bị bỡ ngỡ Người sử dụng lao động không phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí để đào tạo lại nhân lực ngành Luật
Tài liệu tham khảo
[1] Quốc hội, (28/11/2013), Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam.
[2] Bộ Chính trị, (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02
tháng 6 năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 về phát triển án lệ tại Việt Nam.
[3] Quốc hội, (2015), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa
đổi).
[4] Đỗ Thị Mai Hạnh, (4/2015), Sử dụng bản án trong
giảng dạy pháp luật phần lí thuyết - Kinh nghiệm qua
một trường hợp ở Anh, Tạp chí Khoa học pháp lí Việt
Nam, số 89, tr.74-80.
[5] Nguyễn Minh Hằng, (4/2015), Kinh nghiệm về sử dụng
bản án, quyết định của Tòa án trong đào tạo nghề luật,
Tạp chí Khoa học pháp lí Việt Nam, số 89, tr.26-31.
[6] Trương Nhật Quang, (4/2015), Sử dụng bản án trong giảng dạy: Góc nhìn từ người làm thực tiễn, Tạp chí
Khoa học pháp lí Việt Nam, số 89, tr.20-25.
[7] Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, (2015), Tài liệu tập huấn giảng viên TTT.
[8] Lê Tiến Châu (4/2005), Thực trạng đào tạo cử nhân luật
ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lí.
[9] Pierre Macqueron, (4/2015), Việc sử dụng quyết định của Tòa án trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy tại Cộng hòa Pháp, Tạp chí Khoa học pháp lí Việt Nam, số
89, tr.68-73.
[10] Nguyễn Văn Đại - Đinh Ngọc Thắng, (2020), Tư duy về đào tạo cử nhân luật: Tư duy và tiếp tục đổi mới, Tạp
chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, số 49, tr.32-43
DEVELOPING LAW PRACTICE SKILLS FOR UNIVERSITY STUDENTS
IN VIETNAM
Pham Thanh Nga
Vietnam Society of International Law
69 Chua Lang, Dong Da, Hanoi, Vietnam
Email: pham.nga.hlu@gmail.com
ABSTRACT: Learning motivation has a positive effect on students’ participation in the learning space, and educators can apply this approach in curriculum design
to improve the quality and to distribute the courses The internal, external motivations and related values will influence the goals that students desire
to achieve after the course This article will examine the self-regulation for learning motivation of students who can actively search for reference resources according to the course program to improve their learning outcomes It makes sense that students are given the opportunity to use technology devices, or encouraged to use their own initiatives to self-adjust their motivations in learning and find information to support their learning process
KEYWORDS: Training; practical skills; law practice; students.