Đề cương ôn thi học phần Kinh tế chính trị (Triết 2), tổng hợp toàn bộ kiến thức môn học, dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ. Bản đề cương đã bao gồm các ví dụ cụ thể, chi tiết. Phần cuối bản thảo có bài tập tự luyện, sát với các đề thi thực tế, đặc biệt phù hợp cho sinh viên AJC.
Trang 1Câu 1: Trình bày khái niệm HÀNG hóa, 2 thuộc tính của nó và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hang hóa Phân tích lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu lý luận này là gì?
Khái niệm: Hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi và mua bán.
Hai thuộc tính:
Giá trị sử dụng: là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa mãn nhu cầunao đó của con người Nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt và nhu cầu cho sản xuất Mộtvật có nhiều công dụng, nhưng người ta không thể phát hiện ra ngay một lúc, màphụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do công dụng và thuộctính khác nhau làm cho các hang hóa khác nhau về chất Giá trị sử dụng là môtphạm trù vĩnh viễn Giá trị sử dụng của hang hóa có đặc điểm là giá trị sử dụngcho người khác, nên nó là vật mang giá trị trao đổi
Ví dụ: than đá ngày xưa chỉ dung để đun, sưởi, làm chất đốt nhưng về sau, ngoàicác công dụng đó, nó còn được dung làm nguyen liệu cho công nghiệp hóa chất
Giá trị: là sơ sở, nội dung bên trong, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ởbên ngoài Giá trị là do lao động trừu tượng kết tinh, nó biểu hiện mối quan hệgiữa những người sản xuất hang hóa và là một phạm trù lịch sử Còn lượng giátrị của hang hóa là số lượng lao động tiêu hao để làm ra hang hóa quyết định.Bản thân số lượng lao động lại được đo bằng thời gian lao động, và thời gian laođộng được tính bằng giờ, ngày, tuần…Nhưng không phải căn cứ vào thời gianlao động cá biệt, mà phải căn cứ vào lượng lao động trunh bình của xã hội, tức
là phải căn cứ vào thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất
ra hang hóa Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lạo động đòi hỏi đểsản xuất ra một hang hóa nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xãhội, với trình độ lao động thành thạo trung bình, và một cường độ lao động trungbình của xã hội Thời gian lao động xã hội cần thiết là một lực lượng không cốđịnh, do đó lượng giá trị hang hóa cũng không cố định, Sự thay đổi của lượnggiá trị phụ thuộc vào năng suất lao động và cường độ lao động Nếu tăng năngsuất lao động thì tổng sản phẩm tăng, còn tổng giá trị không đổi, do đó giá trị cábiệt của một hang hóa giảm Còn cường độ lao động tăng thì tổng sản phẩm tăngnhưng đồng thời tổng giá trị cũng tăng, do đó giá trị các biệt của hang hóakhông đổi Vì vậy, tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa như kéo dài thờigian lao động
VD: 1m vải= 10kg thóc Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khácnhau về chất Khi hai sản phẩm khác nhau có thể trao đổi được với nahu thì giữachúng phải có một cơ sở chung nào đó Cái chung đó không phải là giá trị sửdụng của chúng, bởi vì, giá trị sử dụng của vải là để mặc, hoàn toàn khác với
Trang 2thóc là để ăn Cái chung đó là cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều
có lao động kết tinh trong đó Nhờ cơ sở đó mà các hàng hóa có thể trao đổiđược cho nhau.Vì vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là traođổi lao động của mình ẩn dấu trong những hàng hóa ấy
Câu 2: Phân tích nguồn gốc, bản chất và các chức năng của tiền tệ Chứng minh rằng: lý luận tiền tệ của C.Mác vẫn đúng trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Nguồn gốc của tiền tệ
Để tìm hiểu nguồn gốc của tiền tệ, ta hãy xem xét quá trình phát triển của cáchình thái biểu hiện của giá trị: Đầu tiên là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giátrị Hình thái này xuất hiện khi xã hội nguyên thủy tan rã và chỉ thường gặp ởnhững mầm mống đầu tiên của trao đổi Ở đây, giá trị của hàng hoá này chỉ biểuhiện đơn nhất ở một hàng hoá khác và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫunhiên , trực tiếp hàng lấy hàng , tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên Ví
dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo Cái áo ở đây đóng vai trò vật ngang giá - hìnhthái phôi thai của tiền tệ Khi quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn ,thường xuyên , thúc đẩy sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển thì hình thái thứhai là hình thái đầy đủ hay mở rộng của hàng hoả ra đời Hình thái này xuấthiện trong thực tế khi một làng luả nào đó được trao đối với nhiều hàng hoákhác một cách thông thường phổ biến Ở đây , giá trị của hàng hoá được biểuhiện ở nhiều hàng hoá khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá Đồng thời tỷ
lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao độngquy định Tuy nhiên , ở hình thái này , giá trị của hàng hoá được biểu hiện cònchưa hoàn tất , thống nhất và vẫn trao đổi trực tiếp hàng - hàng
Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo , = 10 đấu chè , 40 đấu cà phê = 0 , 2 gamvàng
Do đó , khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn , đòi hỏi phải có vậtngang giá chung , hình thái thứ ba xuất hiện : Ilình thái chung của giá trị Ởhình thái này , giá trị của mọi hàng hoá dược biểu hiện ở một hàng hoá , đóngvai trò làm vật ngang giá chung - vật ngang giá phổ biến ” Các hàng hoá đềuđối thành vật ngang giá chung , sau đó mới mang đổi lấy hàng hoá cần dùng Vật ngang giá chung trở thành môi giới Tuy nhiên , ở hình thái này , bất kỳhàng hoá nào cũng có thể trở thành vật ngang giá chung , miễn là nó được tách
ra làm vật ngang giá chung Ví dụ như 1 cái áo hoặc 10 đấu chè hoặc 40 đấu càphê hoặc 0 , 2 gam vàng = 20 vuông vải Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá pháttriển hơn nữa , đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vậtngang giá chung thông nhất thì hình thái thứ tự ra đời : hình thái tiền Giá trịcủa tất cả các hàng hoá đây đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò tiền
Trang 3tệ Lúc đầu có nhiều hàng hoả đóng vai trò tiền tệ nhưng dần dần được chuyểnsang các kim loại quý như đồng , bạc và cuối cùng là vàng.
Ví dụ như: 10 vuông vải hoặc 1 cái áo hoặc 10 đấu chè = 0 02 gam vàng Nhưvậy , tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá
Bản chất của tiền
Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra là 1 vật ngang giá chung cho tất
cả các loại hàng hoá Nó là sự thể hiện chung của giá trị , đồng thời nó biểuhiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá Tiền có 5 chứcnăng Nó là thước đo giá trị , là phương tiện lưu thông , phương tiện cất trữ ,phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới Trước hết , tiền là thước đo giá trị ,tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác Khi đó ,giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cảhàng hoá Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hànghoá Giá cả hàng hoá có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cảluôn bằng giá trị Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá , tức là tiền đóngvai trò là một phương tiện lưu thông Khi ấy , trao đổi hàng hoá vận động theocông thức H - T - H Đây là công thức lưu thông hàng hoá giản đơn Với chứcnăng này , tiên xuất hiện dưới các hình thức vàng thoi , bạc nén , tiền đúc vàcuối cùng là tiền giấy Tiền giấy là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc
XH công nhận Tiền giấy không có giá trị thực ( không kể đến giá trị của vậtliệu giấy dùng làm tiền ) Khi thực hiện chức năng này , tiền giúp quá trình muabán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả vềkhông gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khả năng khủng hoảng
Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất , giữ lại để khi cần thì đem ra muahàng Chỉ có tiền vàng , tiền bạc , các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thựchiện được chức năng lưu trữ Ngoài ra , tiền làm phương tiện cất , trữ còn có tácdụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông Khi kinh tế hàng hoá phát triển đếnmột mức độ nào đó tất yếu sẽ sinh ra mua bán chịu và tiền có thêm chức năngphương tiện thanh toán như trả nợ , đóng thuế Tiền làm phương tiện thanhtoán có tác dụng đáp ứng kịp thời như cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùngngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền Nhưng nó cũng làm cho khảnăng khủng hoảng tăng lên Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán ,loại tiền mới - tiền tín dụng - xuất hiện , có nghĩa là hình thức tiền đã phát triểnhơn Chức năng cuối cùng của tiên là tiền tệ thế giới Chức năng này xuất hiệnkhi buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia , hình lành quan hệ buôn bán giữacác nước Khi thực hiện chức năng này , tiền thực hiện các chức năng : thước
đo giá trị phương tiện lưu thông , phương tiện thanh toán , tín dụng , di chuyểncủa cái từ nước này sang nước khác Thực hiện trức năng này phải là tiền vànghoặc tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế Việc trao
Trang 4đổi tiền của nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hối đoái , tức làgiá cả của một dòng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác
Tóm lại , cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá , tiền có 5 chức năng Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiều chức năng một lúc.
Quy luật lưu thông tiền tệ của C.Mác
Được xem là cơ sở, là tiền đề cho các mức tiếp theo xác định lượng tiền cầnthiết trong lưu thông, đặt nền tảng cho cơ sở khoa học và phương pháp luận củaviệc quản lý lưu thông tiền tệ
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, các mối liên hệ chủ yếu đều dothị trường (cung và cầu) quyết định, kể cả mối quan hệ hàng hóa-tiền tệ Vì vậylưu thông tiền tệ cũng phải được quản lý dựa trên cơ sở xác định mức cung vàcầu tiền tệ nhằm đảm bảo cân bằng cung và cầu tiền tệ
Mức cung tiền tệ: là lượng tiền được cung ứng nhằm thỏa mãn các nhu cầuthanh toán và dự trữ của các chủ thể trong nền kinh tế
Mức cầu tiền tệ: Là nhu cầu của công chúng hay nền kinh tế đối với việc nắmgiữ tiền, hay là những tài sản có tính thanh khoản
Việc điều tiết cung và cầu tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường phải dựavào các tín hiệu thị trường (mức chung giá cả, tỷ giá hối đoái và tình hình tăngtrưởng kinh tế) sao cho Ms = Md (trong đó Ms là tổng cầu tiền và Md là tổngcung tiền), và đây chính là sự nhận thức và vận dụng quy luật lưu thông tiền tệcủa C.Mác
Câu 3: Phân biệt giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa Phân tích nội dung (yêu cầu) và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa Thực tiễn nhận thức và và vận dụng quy luật giá trị trong sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế
ở nước ta như thế nào?
Phân biệt giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa
Khái niệm
Giá trị hàng hóa là do chính sứclao động tạo ra và được tính theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết
Giá cả hàng hóa là mức thỏa thuận giữa người mua và người bán Giá cả hàng hóa của một mặt hàng có thể thay đổi tùy theothỏa thuận giữa người mua và người bán
Giá trị hàng hóa là phẩm chất của món hàng đã được làm ra
Giá cả hàng hóa là một mặt hàng
có thể thay đổi tùy vào sự thỏa thuận giữa người mua và người bán
Trang 5Là giá trị thực bao gồm toàn bộ chi phí để tạo ra món hàng đó.
Là con số được quy định cho món hàng
Giá cả hàng hóa là giá trị hàng hóa trên thị trường Giá cả hàng hóa có thể cao hơn hoặc thấp hơngiá trị hàng hóa
Phân tích nội dung (yêu cầu) và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa.
Nội dung
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ởđâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt độngkhách quan, không lệ thuộc vào ý muốn con người Đặc điểm hoạt động của nócũng có khác biệt giữa các phương thức sản xuất, tùy thuộc vào quan hệ sảnxuất thống trị
Quy luật giá trị qui định việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sởgiá trị, tức là dựa trên cơ sở lao động xã hội cần thiết
Yêu cầu
Trong sản xuất, quy luật giá trị đòi hỏi nhà sản xuất phải căn cứ vào giá trị xãhội, phải hạ thấp giá trị cá biệt sao cho giá trị cá biệt không được vượt quá giátrị xã hội
Tuân theo yêu cầu này, các nhà sản xuất mới có thể tồn tại và phát triển, ngượclại sẽ thua lỗ và phá sản
Trong trao đổi, quy luật giá trị đòi hỏi người mua kẻ bán phải căn cứ vào giátrị, phải thực hiện nguyên tắc đúng giá, tức là nguyên tắc mua bán đúng giá trị.Người mua muốn mua hàng hóa dưới giá trị, người bán muốn bán hàng hóatrên giá trị, từ đó đi đến thống nhất nguyên tắc đúng giá
Tác dụng
Điều tiết sản xuất và lưu thông Thông qua giá cả thị trường, quy luật giá trị tựphát thu hẹp hay mở rộng sản xuất ở ngành này hay ngành khác Đồng thờikhơi nguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao
Kích thích cải tiến kĩ thuật, phát triển lực lượng sản xuất Các hàng hóa sanxuất trong những điều kiện khác nhau nên có giá trị cá biệt khác nhau Nhưngtrên thị trường đòi hỏi mọi người phải tuân theo giá cả thị trường Do vậy, buộcmọi người phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức lại sản xuất làm cho giá trị cá biệt củamình thấp hơn giá trị của xã hội Lúc đầu chỉ có một số người đi tiên phong,sau trở thành phổ biến trên toàn xã hội Như vậy, quy luật giá trị có tác dụngthúc đẩy cải tiến kĩ thuật, phát triển sản xuất
Phân hóa người sản xuất Quy luật giá trị đòi hỏi mọi người phải đảm bảo thờigian lao động xã hội cần thiết Do đó, người nào có giá trị cá biệt thấp hơn giá
Trang 6trị xã hội sẽ phát tài và trở nên giàu có Còn người nào có giá trị cá biệt caohơn giá trị xã hội sẽ vào thế bất lợi, làm ăn thua lỗ, phải thu hẹp sản xuất Từ
đó đưa đến sự phân hóa kẻ giàu người nghèo Đây là cơ sở để quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời.
Thực tiễn nhận thức và và vận dụng quy luật giá trị trong sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế ở nước ta như thế nào?
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế khách quan, nên đòi hỏi chúng ta cần phảinắm bắt quy luật này và tạo điều kiện cho nó hoạt động Bởi nó chi phối sự lựachọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển
Nó có khả năng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, đồng thời cải tiến kĩthuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động Lực lượng sản xuất xã hộiphát triển nhanh
Ở nước ta, việc nhận thức và vận dụng quy luật giá trị trong sản xuất kinh doanh
và quản lý kinh tế tuy còn những hạn chế song đang từng bước khắc phục
Năm 1986 là năm đánh dấu công cuộc đổi mới khi chúng ta từng bước tiến hànhchuyển dần từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang thực hiện cơ chế thịtrường Nhiều nhà sản xuất kinh doanh nhờ nắm bắt và vận dụng đúng quy luậtgiá trị, đã không ngừng cải tiến kĩ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ làm tăngnăng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm va thành công trong sản xuất kinhdoanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước Bên cạnh đó, cũng không ít nhàsản xuất kinh doanh đã chưa nhận thức và vận dụng đúng quy luật giá trị, dẫn tớihoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản
C
âu 4: Trình bày quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong doanh nghiệp tư bản? Tại sao nói sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách không ngừng mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật là quy luật kinh tế cơ bản và tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản? Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận này?
Quá trình sản xuất GTTD trong doanh nghiệp TB
Sản xuất của TB là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng, giátrị và GTTD
Đây cũng chính là quá trình nhà TB tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư liệusản xuất để sản xuất ra GTTD
Công nhân làm việc dưới sự điều hành của nhà TB và sản phẩm làm ra thuộc sởhữu của nhà TB
Sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách không ngừng mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật là quy luật kinh tế cơ bản và tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Trang 7 Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại 1 quy luật kinh tế phản ánh bảnchất nhất của phương thức sản xuất đó, quy luật kinh tế đó được gọi là quy luậtkinh tế cơ bản.
Sản xuất GTTD là quy luật kinh tế cơ bản của CNTB , thực chất của quy luậtnày là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều GTTD bằng cách tăng cường bóc lộtcông nhân làm thuê
Như C.Mác đã chỉ rõ, sản xuất GTTD là quy luật tuyệt đối của CNTB GTTDphản ánh đầy đủ nhất bản chất bóc lột của CNTB, phản ánh mối quan hệ giaicấp Tư sản bóc lột giai cấp công nhân làm thuê
Quy luật GTTD vạch rõ mục đích của nền sản xuất TBCN và phương tiện để đạtmục đích đó:
Mục đích của nền sản xuất TBCN là GTTD càng nhiều càng tốt
Phương tiện và thủ đoạn để có nhiều GTTD là tăng cường các phương tiện kỹthuật và quản lý (thể hiện ở 2 phương pháp sản xuất GTTD)
So với các phương thức bóc lột của các xã hội trước CNTB thì phương thức bóclột GTTD có điểm khác biệt:
Khát vọng bóc lột là không có giới hạn
Phương pháp bóc lột rất tinh vi hiện đại, dựa trên cơ sở sự phụ thuộc về kinh tế
và biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức một quan hệ mua bán sòng phẳnggiữa nhà TB và công nhân làm thuê
Tác động của quy luật GTTD Sản xuất nhiều GTTD là mục đích, là động lựcthúc đẩy nền sản xuất TBCN phát triển và bị thay thế bởi 1 phương thức sảnxuất tiến bộ hơn
Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận này
Về mặt thực tiễn
Khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước
ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuậtmới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứusản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phươngthức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện điểm xuấtphát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt
để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài,cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp cơ bản để tăngnăng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 8Câu 5: Phân biệt tư bản bất biến và tư bản khả biến Máy móc và dây chuyền sản xuất có tạo ra giá trị thặng dư được không?
Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Tư bản bất biến
Khái niệm: Là bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất Trong quá trìnhsản xuất nhờ lao động cụ thể của công nhân mà giá trị của nó được bảo tồn vàchuyển vào sản phẩm, nghĩa là giá trị của nó không biến đổi về lượng Ký hiệulà: C
Cấu trúc: Về mặt hiện vật, tư bản bất biến gồm
- Máy móc, thiết bị, nhà xưởng (C1)
- Nguyên, nhiên vật liệu… (C2)
Đặc điểm: Giá trị của chúng được lao động cụ thể của người công nhân bảo tồn
và chuyển dịch nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm Trong đó, C1 chuyển giá trịnhiều lần, C2 chuyển giá trị một lần Giá trị sử dụng của tư liệu sản xuất đượcbảo tồn dưới dưới hình thức giá trị sử dụng mới của sản phẩm
Tư bản khả biến
Khái niệm: Là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động Trong quá trình sảnxuất, bộ phận này không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng củacông nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng Ký hiệu: V
Tư bản khả biến là phần tư bản dùng để thuê người lao động làm việc trongkhoảng thời gian nhất định Tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức tiền lương
Đặc điểm: Sử dụng tư bản khả biến sẽ tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị củachính tư bản khả biến bỏ ra ban đầu Lượng giá trị đó được chia thành hai bộphận
- Một bộ phận chuyển thành tư liệu sinh hoạt của người công nhân, bù lại giátrị sức lao động của người công nhân và mất đi trong quá trình tiêu dùng củahọ
- Bộ phận còn lại chính là giá trị thặng dư thuộc về nhà tư bản
Nhà tư bản không sở hữu được sức lao động đã mua bằng tư bản khả biến, màchỉ sử dụng sức lao động đó trong thời gian nhất định trong ngày
Như vậy, TBBB là điều kiện cần thiết không thể thiếu đc để sản xuất ra giá trị thặng dư còn TBKB có vai trò quyết định trong quá trình vì nó chính là bộ phận tư bản lớn lên.
Ý nghĩa: Sự phân chia tư bản thành tư bản khả biến và tư bản bất biến có ýnghĩa quan trọng
Vì: vạch rõ nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là do lao động không côngcủa người công nhân tạo ra
Trang 9 Tư bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó có vai tròquan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động của côngnhân Tư bản bất biến là phương tiện tạo ra giá trị thặng dư.
Máy móc hiện đại, dây chuyền tự động hóa và người máy có tạo ra GTTD không?
KHÔNG, vì:
Nguồn gốc của GTTD chính là lao động sống, chính lao động của con người đãtạo ra giá trị hàng hoá Giá trị thặng dư được Marx xem là phần chênh lệch giữagiá trị tiền và hàng nhà tư bản bỏ ra - Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ
ra máy móc dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra vốn đểthuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến Tuy nhiên, người lao động đã đưavào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số giá trị mà nhà tư bản trả cho ngườilao động Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư
Có thể lấy một ví dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong mộtgiờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng Đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ sởsức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được 1100đồng Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động
Vẫn biết rằng, quá trình lao động dù là giản đơn hay phức tạp cũng là sự kết hợpcủa người lao động với tư liệu sản xuất Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sứcsản xuất ngày càng được nâng lên, càng tạo ra nhiều của cải vật chất để đáp ứngnhu cầu của xã hội Nhưng khi nghiên cứu quá trình tạo ra và làm tăng giá trịhàng hoá thì máy móc tham gia vào đây không còn được xét là nhân tố vật thểnữa mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định, giá trị củachúng được chuyển dần hoặc chuyển ngay vào trong một chu kỳ sản xuất sảnphẩm Dù máy móc có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể tựchuyển giá trị của mình vào sản phẩm Một cái máy không dùng vào quá trìnhsản xuất là một cái máy vô ích, ngoài ra nó còn bị hư hỏng dần bởi sức mạnhhuỷ hoại của tự nhiên Chính lao động sống, lao động của con người đã làm chomáy móc sống lại, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới Nhưng một tưliệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm mới một giá trị lớn hơn phần
mà nó đã hao mòn đi trong quá trình sản xuất Tức là, tư liệu sản xuất nói chung
và máy móc nói riêng chỉ tạo điều kiện cho việc làm tăng giá trị của hàng hoáchứ bản thân không trực tiếp tham gia vào quá trình làm tăng giá trị
Vì vậy, quan điểm trên là hoàn toàn sai, máy móc chỉ làm gia tăng giá trị thặng
dư bằng việc tăng năng suất chất lượng cũng như số lượng hàng hóa để nhằmmục đính thu lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị gốc (giá trị đầu tư ban đầu vàlương nhân công) Chứ bản thân máy móc không thể tự tạo ra giá trị thăng dưnếu như không có tính chất con người (ko có con người lập trình và điều khiển
Trang 10máy móc không thể tự hoạt động vào quá trình tạo ra sản phẩm) tức có nghĩacon người là chủ thể tạo nên giá trị thặng dư chứ không phải máy móc.
Câu 6: Trình bày các phuong pháp sản xuất giá trị thặng dư thường được các nhà tư bản áp dụng Phân biệt giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng
dư siêu ngạch Ý nghiac của việc nghiên cứu các phuong pháp sản xuất giá trị thặng dư.
Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: đây là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không đổi, tức giá trị sức lao động không đổi hay năng suất lao động không đổi
Ví dụ: ngày lao động 9 giờ trong đó 6 giờ là thời gian lao động cần thiết, còn 3 giờ là thời gian lao động thặng dư thì m’=36 × 100%= 50%
Nếu ngày lao động được kéo dài thành 12 giờ trong đó thời gian lao động cần thiết vẫn là 6 giờ thì thời gian lao động thặng dư tăng lên 6 giờ và: m’=66 × 100%= 100% Việc kéo dài ngày lao động vấp phải những giới hạn nhất định nên nhà tư bản tìm cách tăng cường độ lao động, tăng mức độ khẩn trương, tăng số lượng lao động tiêu hao trong một đơn vị thời gian Về thực chất cũng chính là kéo dài ngày lao động b) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Đây là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư một cách tương ứng trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi Ví dụ: ngày lao động 8 giờ trong đó 4 giờ là thời gian lao động câng thiết và 4 giờ và thời gian lao động thặng dư thì:
m’= 46 × 100% ¿ > m’=100%
Nếu tăng suất lao động tăng gấp đôi thì giá trị các tư liệu sinh hoạt giảm xuống hai lần và giá trị sức lao động cũng giảm đi hai lần, do đó thời gian lao động cần thiết được rút ngắn hai lần tức là từ 4 giờ xuống còn hai giờ; do đó thời gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ lên 6 giờ
m’= 62 × 100% = 300%
Trang 11Sự xuất hiện giá trị thặng dư siêu ngạch: do cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, phương pháp sản xuất làm cho năng suất lao động cá biệt tăng do đó giá trị cá biệt của hàng hóa giảm thấp hơn giá trị thặng dư trội hơn Phần giá trị thặng
dư trội hơn giá trị thặng dư bình thường đó là giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh mẽ thúc đẩu các nhà sant xuất kinh doanh cải tiền kỹ thuật, tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, làm giá trị cá biệt của hàng hóa.
Phân biệt giá trị thặng dư tương đối và giá trị siêu ngạch:
⁕Giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và do đó kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động không thay đổi.
Ví dụ : Giả sử ngày lao động là 10giờ, trong đó 5giờ là thời gian lao động cần thiết
và 5giờ là thời gian lao động thặng dư thì = 100%.
Nếu thời gian lao động cần thiết rút từ 5 giờ xuống còn 2 giờ, thì thời gian lao động thặng dư sẽ tăng từ 5 giờ lên 8 giờ Tỷ suất giá trị thặng dư lúc này sẽ là = 400% Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn như cũ gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Để rút ngắn thời gian lao động cần thiết nhà tư bản phải tìm cách hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách hạ thấp giá trị tư liệu sinh hoạt Chỉ có nâng cao năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt cho công nhân, cũng như trong các ngành sản xuất tư liệu sản xuất trực tiếp liên quan đến các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt thì mới đạt được kết quả đó.
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm địa vị chủ yếu, thì đến giai đoạn sau, khi kỹ thuật đã phát triển, giá trị thặng dư tương đối lại chiếm địa vị chủ yếu Như vậy 2 phương pháp nâng cao trình độ bóc lột công nhân không gạt bỏ lẫn nhau, mà còn kết hợp chặt chẽ với nhau Hiện nay, chủ nghĩa
tư bản đang lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật để kết hợp 2 phương pháp bóc lột đó nhằm vừa bóc lột được nhiều hơn, lại vừa xoa dịu được tinh thần đấu tranh giai cấp của công nhân.
Trang 12⁕ Giá trị thặng dư siêu ngạch
Khái niệm - Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá trị của hàng hoá.
Giống: • Điểm giống nhau: Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối
có một
cơ sở chung là chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.
Khác:
Giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng dư siêu ngạch
Do tăng năng suất lao động xã hội
Toàn bộ các nhà tư bản thu
Biểu hiện mối quan hệ giữa công nhân
với tư bản
Do tang năng suất lao động cá biệt
Từng nhà tư bản thu
Biểu hiện mối quan hệ giữa công nhân
với nhà tư bản và giữa các nhà tư bản với nhau
Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp của sản xuất giá trị thặng dư
Khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp nhằm kích thích sản xuất,tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất Đối với quá trình phát triển nền kinh tế, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng linh tế, cần tận dụng triệt để nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Câu 7: Phân tích động cơ, thực chất và các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy
tư bản Phân biệt tích tụ cơ bản và tập trung tư bản Ý nghĩa của việc nghiên cứu
lý luận tích lũy tư bản là gì?
Trang 131 Phân tích động cơ, thực chất và các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy tư bản
a Động cơ
Động cơ thúc đẩy tích luỹ và tái sản xuất mở rộng là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản - quy luật giá trị thặng dư, quy luật này chỉ rõ mục đích sản xuất củanhà tư bản là giá trị và sự tăng thêm giá trị Để thực hiện mục đích đó, các nhà tư bản không ngừng tích luỹ để mở rộng sản xuất, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột công nhân làm thuê là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột côngnhân làm thuê Mặt khác, cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không ngừng làm cho
tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh tư bản tích luỹ
Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư Nói một cách cụ thể, tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành tư bản được là vì giá trị thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới
Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư Nói một cách cụ thể, tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành tư bản được là vì giá trị thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới
Có thể minh hoạ tích luỹ và tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa bằng ví dụ: năm thứ nhất quy mô sản xuất là 80c + 20v + 20m Giả định 20m không bị nhà tư bản tiêudùng tất cả cho cá nhân, mà được phân thành 10m dùng để tích luỹ và 10 m dành chotiêu dùng cá nhân của nhà tư bản Phần 10 m dùng để tích luỹ được phân thành 8c + 2v, khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ là 88c + 22v + 22m (nếu m vẫn như cũ) Như vậy, vào năm thứ hai, quy mô tư bản bất biến và tư bản khả biến đều tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên tương ứng
c Các nhân tố ảnh hưởng
Cùng với quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô tích lũy tư bản cũng không ngừng tăng lên Việc xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản phải đc chia làm 2 trường hợp:
Một là, trường hợp khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô của tích lũy tư
bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành 2 quỹ: quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản
Hai là, nếu tỷ lệ phân chia đó đã đc xây dựng thì quy mô của tích lũy tư bản phụ
thuộc khối lượng gía trị thặng dư Trong trường hợp này khối lượng gía trị thặng dư
bị phụ thuộc vào những yếu tố:
Trang 14- Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động: bằng cách cắt xén vào tiền công, tang cường độ lao động, kéo dài ngày lao động.
Năng suất lao động tăng sẽ làm tăng khối lượng sản phẩm tức tăng khối lượng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng – các yếu tố vật chất của quá trình tái sản xuất Mặt khác, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị hàng hóa giảm Nhờ vậy, mà với mộtlượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy có thể mua được nhiều tư liệu sản xuất và sức lao động hơn và phần dành cho tiêu dùng của nhà tư bản có thể giảm để tăng tích lũy vẫn không ảnh hưởng đến tiêu dùng
Năng suất lao động tăng thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ, tạo
ra nhiều sản phẩm mới
- Sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản tiêu dùng và tư bản sử dụng.
Trong quá trình sản xuất máy móc được sử dụng với tất cả các bộ phận cấu thành của
nó và toàn bộ giá trị của nó Nhưng trong quá trình tạo ra sản phẩm thì máy móc chỉ hao mòn dần và giá trị của nó cũng chuyển dần vào sản phẩm, tạo ra sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Máy móc càng hiện đại, phần giá trị của nó chuyển vào sản phẩm càng nhỏ tới mức không đáng kể và sự chênh lệch giữa tư bản
sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn Sự phục vụ không công của máy càng nhiều, quy mô tích lũy càng tăng
- Quy mô của tư bản ứng trước.
Quy mô của tư bản ứng trước tăng thì bộ phận tư bản khả biến và bất biến đều tăng, khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn
2 Phân biệt tích tụ cơ bản và tập trung tư bản
- Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá một
phần giá trị thặng dư Nó là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản
Ví dụ: Cho 1 tb có quy mô 60c+40v+40m (140 đvtt)
Giả sử tỉ lệ tích lũy: tiêu dùng là 1:1
Với 40m được chia làm 2 phần: tích lũy 20m, tiêu dùng 20m
Với 20m tích lũy sẽ được chia thành 2 bộ phận: c1=12, v1=8
Quy mô sản xuất năm II là: (60c+12c1)+(40v+8v1)
Với m’=100%, quy mô giá trị năm II là: 72c+48v+48m (168 đvtt)
Vậy, tích tụ tb tăng lên từ 140 đến 168
- Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn
hơn Tập trung tư bản thường diễn ra bằng 2 phương pháp là tự nguyện hay cưỡngbức
Ví dụ: Cho tb: A: 80c+20v, B: 160c+40v, C: 40c+10v
Tổng các tb cá biệt là: 280c+70v
- Giống nhau: Đều tăng qui mô tư bản cá biệt
- Khác nhau:
Trang 15 Tích tụ tư bản làm tăng thêm quy mô tư bản xã hội, có nguồn gốc do tư bảnhóa giá trị thặng dư, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân vàgiai cấp tư sản.
Tập trung tư bản chỉ phân phối và tổ chức lại tư bản xã hội, quy mô xã hộikhông thay đổi, có nguồn gốc từ các tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội, nó phảnánh trực tiếp quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau, đồng thời tácđộng đến mqh giữa gc công nhân với giai cấp tư sản
Giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản có mối quan hệ với nhau, trong đó tậptrung tư bản đẩy nhanh quá trình tích tụ tư bản Tích tụ tư bản là nguyên nhândẫn đến tập trung tư bản
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy tư bản là gì?
- Tích luỹ vừa là điều kiện vừa là quy luật của tái sản xuất mở rộng Muốn mở rộng
quy mô sản xuất phải không ngừng tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm thặng
dư, trên cơ sở đó mà tăng quy mô sản xuất
- Phải khai thác những nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ.
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng để vừa mở rộng sản xuất,
vừa đảm bảo ổn định đời sống xã hội
Phải tiến hành cả tích tụ và tập trung để làm cho quy mô của từng xí nghiệp cũng nhưcủa toàn xã hội đều tăng
TBCN vận động trải qua 3 giai đoạn:
+Giai đoạn 1: Lưu thông: là giai đoạn thu mua của TB , mua TLSX và SLĐ chuẩn bị cho việc sản xuất GTTD
+giai đoạn 2: Sản xuất: kết hợp TLSX với SLĐ, thực hiện sản xuất ra GTTD Đây là giai đoạn đặc biệt của Tư bản, được quyết định bới tính chất đặc biệt của sự kết hợp giữa TLSX với SLĐ.
Trang 16+giai đoạn 3: Bán sản phẩm: TBCN lấy hình thái TB hàng hóa, thực hiện giá trị và GTTD trong
nó và thu về tiền tệ, làm cho TB hàng hóa trở thành TB tiền tệ.
*Khái niệm tuần hoàn: Tuần hoàn của TB là sự vận động của TB trải qua 3 giai đoạn, biến hóa qua 3 hình thái, thực hiện chức năng để rồi trở về hình thái ban đầu với lượng giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên.
*Khái niệm chu chuyển của tư bản: Là sự tuần hoàn của TB được lặp đi lặp lại một cách có định kỳ.
*Dựa vào sự khác nhau về phương thức chu chuyển tư bản, TBSX được chia thành TB cố định và
-Một bộ phận giá trị TBCĐ khác vẫn ở trong hình thức vật chất vốn có để phát huy tác dụng trong nhiều quá trình SX Nó càng lâu bền thì thời gian sử dụng càng dài, sự hao mòn càng chậm, thời hạn thu hồi giá trị của nó càng dài.
-Hình thái tồn tại của TBCĐ: máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
+TBLĐ là bộ phận TB được tiêu dùng hoàn toàn trong chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm.
-Hình thức vật chất của nó tiêu hao toàn bộ trong 1 lần sản xuất; giá trị của nó cũng chuyển dịch 1 lần toàn bộ sang sản phẩm mới và trở về tay nhà TB cũng toàn bộ bằng tiền thu được do bán sản phẩm
Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận lưu thông tư bản đối với thực tiễn hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay:
Để nâng cao tốc độ chu chuyển TB, thu hồi vốn nhanh cần phải tăng tốc độ chu chuyển TB cố định, tận dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị Phải đẩy nhanh tốc độ xây dựng để đưa công trình, máy móc vào sản xuất càng sớm càng tốt.
Qúa trình tuần hoàn và chu chuyển vốn nhanh sẽ góp phần phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu tuần hoàn và chu chuyển của TB sẽ giúp các doanh nghiệp tìm ra các biện pháp phù hợp để tăng tốc độ chu chuyển vốn và đó chính là quá trình tái sản xuất vốn Tái sản xuất vốn mở rộng dẫn đến lợi nhuận tăng từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Từ đó góp phần tích cực đến sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế đất nước.