Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm
Trang 1Sau một thời gian được học tập rèn luyện cùng thầy cô giáo và các bạn trong lớp, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid -19 đang diễn biến hết sức phức tạp, thầy và trò lớp VB2 A(1) không ngừng vươn lên trong học tập và giảng dạy
Học phần Luật Hiến pháp là một trong những môn học trang bị cho người học một cái nhìn tổng thể khách quan về ngành luật Hiến pháp, ngành luật cơ bản tạo nền tảng cho toàn bộ các ngành luật khác Các quy phạm của ngành luật khác được xây dựng, ban hành trên cơ sở nguyên tắc và quy phạm của Luật Hiến pháp Hiến pháp là đạo luật có giá trị pháp lý tối cao, tất
cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.
Cùng với những kiến thức của môn học khác, sinh viên có khả năng phân tích những mối quan hệ mà Luật Hiến pháp điều chỉnh có tính cốt yếu gắn liền với kiến trúc thượng tầng của một xã hội Đó là những mối quan hệ liên quan đến nguồn gốc, bản chất quyền lực của Nhà nước; quan hệ giữa Nhà nước và các thành tố trong hệ thống chính trị; giữa các cơ quan Nhà nước với nhau; những mối quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước quản lý các lĩnh vực của xã hội, giữa các cơ quan Nhà nước với các tổ chức
và công dân Việt Nam; phát sinh trong quá trình Nhà nước thực hiện chức năng đối ngoại.
Chương trình giảng dạy và thời gian học tập đã được nhà trường và khoa rất quan tâm sắp xếp phù hợp, đặc biệt với những người vừa làm vừa học như chúng em Trong quá trình học tập bản thân em cũng như các bạn trong lớp luôn có tinh thần học hỏi, rèn luyện, trau dồi kiến thức.
Xin trân trọng cảm ơn nhà trường, cảm ơn thầy giáo Tiến sĩ Trần Nho Thìn - Khoa Luật đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho các sinh viên trong lớp VB2 A(1).
Xin kính chúc thầy giáo mạnh khỏe, thành đạt và hạnh phúc!
Trang 2Mục lục Trang
I Mở đầu……… 3
1 Lí do chọn đề tài……… ………… 3
2 Phương pháp nghiên cứu ……… … ………… 3
3 Mục tiêu nghiên cứu ……… ……… … ………… 3
II Nội dung……… ……… ………… 4
1 Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013:………… 4
1.1 Khái niệm về quyền con người:……… 4
1.2 Khái niệm về quyền cơ bản của công dân:…….……….… ……… 4
1.3 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:……… 4
2 Các nội dung và đặc điểm cơ bản phần "quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" trong Hiến pháp năm 2013:……… 4
3 Các quyền con người, quyền cơ bản của công dân:……….5
3.1 Các quyền dân sự, chính trị:……….……… 5
3.2 Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa:……… 6
3.3 Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương:……… …6
4 Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013: ……….……… 7
4.1 Khái niệm về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân :………… 7
4.2 Thực hiện cơ chế bảo vệ nhân quyền trên thế giới:……… 7
4.3 Thực hiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam: ……….……….8
4.3.1 Cơ quan bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam:…………8
4.3.2 Các hoạt động biểu hiện về việc bảo vệ quyền con người, quyền công: ……… ……….……….10
4.3.3 Cải thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam: ……….……… ……….10
Trang 3I Mở đầu:
1 Lí do chọn đề tài:
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946,
1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người Hiến pháp năm 2013 cũng xác định rõ nguyên tắc, điều kiện thực thi quyền công dân và quy định: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và
xã hội Để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, cần có hệ thống các cơ quan chuyên trách và các thủ tục, quy tắc có liên quan Ở Việt Nam, hiện chưa có một
cơ quan chuyên trách về bảo vệ quyền con người, quyền công dân Trước năm
2013, trách nhiệm bảo vệ các quyền con người, quyền công dân của các cơ quan Nhà nước chưa được xác định rõ, thường chỉ gắn với cơ quan lập pháp (Quốc hội) Cho tới khi Hiến pháp 2013 ra đời, qua việc phân tích nội dung bản Hiến pháp này,
em thấy cơ chế bảo vệ các quyền con người, quyền công dân đã được tăng cường, được hiến định thông qua việc ghi nhận các nghĩa vụ của Nhà nước trong lĩnh vực nhân quyền Điều đó khiến em và bao người cảm thấy yên tâm hơn, tự tin hơn trong cuộc sống với tư cách là con người, công dân Đó là lý do em chọn đề tài "Cơ chế
bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013".
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài tiểu luận này sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu tài liệu
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 4Bài tiểu luận sẽ đi vào phân tích, làm rõ các cơ chế bảo vệ quyền con
người, quyền công dân được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013, cụ thể bao
gồm ba nghĩa vụ của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm; nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát Đây là những cơ sở hiến định quan trọng nhằm ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các nghĩa vụ nhân quyền trên thực tế, đặc biệt là nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm
II Nội dung
1 Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013:
1.1 Khái niệm về quyền con người:
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế
1.2 Khái niệm về quyền cơ bản của công dân:
Quyền cơ bản của công dân là quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, điều chỉnh những quan hệ đặc biệt quan trọng giữa công dân và Nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt động bình thường của xã hội
1.3 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là các quyền và nghĩa vụ được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của công dân và cơ
sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân
2 Các nội dung và đặc điểm cơ bản phần "quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" trong Hiến pháp năm 2013:
Nhìn chung, chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 có một số nội dung và đặc điểm sau:
Thứ nhất, vị trí chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 được đưa lên Chương II trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự thay
Trang 5đổi về nhận thức, đó là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp của nhiều
nước trên thế giới;
Thứ hai, Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định " Ở nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật" Quy định này thể hiện sự phát triển về nhận thức trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp;
Thứ ba, nhằm ngăn chặn sự tùy tiện hạn chế quyền con người, quyền công dân , Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc"Quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng" Theo nguyên tắc này, các cơ quan Nhà nước không được tùy tiện hạn chế các quyền Việc hạn chế các quyền phải bằng quy định của luật, chứ không phải bằng văn bản dưới luật, phải nhằm bảo vệ mục đích chính đáng được liệt kê (quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng) Đây là quy định phù hợp nhưng chưa tương thích với Luật Nhân quyền quốc tế, bởi lẽ, theo Luật Nhân quyền quốc tế có nhiều quyền con người không thể bị hạn chế vì bất kỳ mục đích nào, bằng bất kỳ hình thức nào, chẳng hạn như quyền không bị tra tấn, quyền tự do
tư tưởng, tự do tôn giáo và tín ngưỡng vv….;
Thứ tư, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số quyền mới như quyền sống
(Điều 19), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác (Điều 20) vv….Việc bổ sung các quyền mới giúp củng cố khuôn khổ các quyền hiến định, tuy nhiên, một số quyền khá trìu tượng nên việc thực hiện không dễ dàng;
Thứ năm, bên cạnh các quyền, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 như nghĩa vụ trung thành với
Tổ quốc, nghĩa vụ quân sự vv….;
Trang 6Thứ sáu, bên cạnh chương II, nội dung về quyền con người còn được thể hiện
tại một số chương khác như chương về Chính phủ (Khoản 6 Điều 96), Tòa án nhân dân (Khoản 3 Điều 102) vv…
3 Các quyền con người, quyền cơ bản của công dân:
Ngoài việc quy định những nguyên tắc chung về quyền con người, Hiến pháp năm 2013 quy định những nhóm quyền con người, quyền cơ bản của công dân
như sau:
3.1 Các quyền dân sự, chính trị:
So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 ghi nhận nhiều quyền dân sự và
chính trị nhất, ngoài ra còn bổ sung một số quyền mới chưa từng có như: quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 17), quyền sống (Điều 19), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20.3), quyền có nơi
ở hợp pháp (Điều 22.1), quyền được xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai (Điều 31.2), quyền không bị kết án hai lần vì một tội phạm
Hiến pháp 2013 cũng đã củng cố hầu hết các quyền đã được ghi nhận rõ hơn trong Hiến pháp 1992 bằng quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng, bao gồm:
quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 16.1), quyền không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Điều 20.1), quyền được bảo vệ đời tư
và nơi ở (Điều 21, Điều 22.2), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25), quyền bình đẳng giới (Điều 26), quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28), quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29), các quyền trong tố tụng (Điều 31) đặc biệt, quyền sở hữu (Điều 32) là một trong những yếu
tố mở rộng sự tương thích của pháp luật Việt Nam so với quy định về các quyền
tố tụng (công bằng) theo Luật Nhân quyền quốc tế
3.2 Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa:
Trang 7Bên cạnh các quyền dân sự, chính trị, Hiến pháp 2013 cũng ghi nhận nhiều
quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và xã hội, tiêu biểu là: quyền không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 2 Điều 16), quyền bình đẳng giới (Điều 26), quyền tự do kinh doanh (Điều 33), quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Khoản 2 - Điều 18, Điều 41), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)
3.3 Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương:
Các nhóm dễ bị tổn thương thường được đề cập nhiều nhất bao gồm phụ
nữ, trẻ em, người khuyết tật vv….Các quy định liên quan bao gồm: nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện (Điều 26),
và những quyền liên quan: quyền của người bị tước tự do (Điều 31), quyền của trẻ em, thanh niên, người cao tuổi (Điều 37), quyền của người nước ngoài cần lãnh nạn (Điều 49), quyền của người thiểu số (Điều 5, 58 61, 75)
4 Cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013:
Phần trên của bài tiểu luận đã nêu các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được ghi rõ trong Hiến pháp 2013 Để bảo vệ những quyền này thì cần phải có cơ chế bảo đảm thực thi quyền con người, quyền cơ bản của công dân Vậy cơ chế đó là gì? Được vận hành như thế nào?
4.1 Khái niệm về cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân :
Cơ chế là một thuật ngữ khá sử dụng trong khoa học pháp lý Có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng nhìn chung là: cơ chế là cách thức hoạt động của một hệ thống mà theo đó quá trình được thực hiện Như vậy, căn cứ khái niệm
chung về cơ chế, chúng ta có thể hiểu: cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người là hoạt động của một hệ thống mà theo đó quy trình bảo vệ quyền con người được thực hiện Quy trình này nhằm "thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng và các
Trang 8quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo".1
Ở góc độ khác, chúng ta thấy trong lĩnh vực nhân quyền, thuật ngữ "cơ chế nhân quyền" hay cơ chế bảo quyền con người, quyền công dân thường được dùng để chỉ hệ thống các cơ quan (chuyên trách) và các quy tắc, thủ tục có liên quan được thiết lập với mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người; còn thuật ngữ "bảo vệ" được hiểu là trách nhiệm (hay nghĩa vụ) của các quốc gia phải đưa ra những biện pháp và xây dựng những cơ chế nhằm ngăn ngừa và xử
lý những hành vi vi phạm nhân quyền 2 Như vậy, có thể hiểu cơ chế nhân quyền
là hệ thống các cơ quan, thủ tục có liên quan được thiết lập nhằm ngăn ngừa và
xử lý nhanh những những hành vi vi phạm nhân quyền
4.2 Thực hiện cơ chế bảo vệ nhân quyền trên thế giới:
Thông thường ở các quốc gia trên thế giới, cơ chế bảo vệ nhân quyền được thực hiện bởi bốn nhóm cơ quan đó là: cơ quan nhân quyền quốc gia (cơ quan chuyên trách); cơ quan tư pháp, cơ quan bảo vệ hiến pháp và cơ quan ngoại giao (thực hiện việc bảo hộ công dân ở nước ngoài)
Cơ chế (quốc gia) trên, trong nhiều trường hợp, cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế được áp dụng như giải pháp tiếp nối của cơ chế quốc gia Trong một số trường hợp khác, cơ chế bảo vệ nhân quyền khu vực có thể thay thế cho cơ chế quốc gia, ví dụ: Tòa án nhân quyền Châu Âu có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại giữa cá nhân với quốc gia (là thành viên của Hội đồng Châu Âu) mà mình là công dân Nhìn chung, với sự giao lưu và hội nhập quốc tế ngày nay, các quốc gia thường có xu hướng chấp nhận và tham gia các cơ chế bảo vệ nhân quyền ở các cấp độ khu vực và quốc tế Các cơ chế này bổ sung, hỗ trợ cho cơ chế quốc gia trong việc bảo vệ hiệu quả hơn các quyền con người
4.3 Thực hiện cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam:
4.3.1 Cơ quan bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam :
Trang 9Như trên em đã phân tích ở những phần trên, bảo vệ quyền con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam Hiến pháp 2013 là một dấu ấn quan trọng trong việc quy định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Bên cạnh việc xác định những quyền cơ bản, Điều 119 của Hiến pháp cũng xác định sự cần thiết có cơ chế bảo vệ Hiến pháp Quy định này không những thể hiện nhận thức của Đảng và Nhà nước về sự cần thiết bảo vệ Hiến pháp, mà nó còn mang ý nghĩa tăng cường cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, bởi lẽ, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ các quyền cơ bản đã được hiến định
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chưa có cơ quan bảo vệ quyền con người, quyền công dân được hiến định mà việc này được xem là trách nhiệm của toàn bộ
hệ thống chính trị
Trước Hiến pháp 2013, trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công
dân của các cơ quan Nhà nước chưa được xác định rõ, thường chỉ gắn với cơ quan
lập pháp (Quốc hội) Hiến pháp 2013 đã tăng cường cơ chế bảo vệ các quyền được
hiến định thông qua việc ghi nhận cả ba nghĩa vụ của Nhà nước trong lĩnh vực nhân
quyền đó là: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thể hiện tại Điều 3: "Nhà nước bảo đảm
và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân", Điều 14 (1):"Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật" Cùng với đó, Hiến pháp đã ấn định nhiệm vụ mới là "bảo vệ quyền con người, quyền công dân" cho Chính phủ tại Điều 96 (6):"Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội", cho Tòa án tại Điều 102 (3):"Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân", và cho Viện Kiểm sát tại Điều
107 (3):"Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con
Trang 10trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ nhân quyền trên thực tế, đặc biệt là nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm
Nhằm hạn chế sự làm dụng của các cơ quan Nhà nước dẫn tới những vi phạm nhân quyền, đồng thời cũng tạo tiền đề cho việc bảo vệ nhân quyền ở cấp cao nhất, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc giới hạn quyền lực tại Điều 14 (2):"Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng" và cũng lần đầu tiên đề cập tới cụm từ "Cơ chế bảo vệ Hiến pháp" tại Điều 119 (2):"Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp" Bởi xét cho cùng, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ các quyền cơ bản
đã được hiến định như đã nêu Mặc dù vậy, cơ chế bảo vệ Hiến pháp vẫn chưa được hoàn thiện
Trên thực tế, ở Việt Nam chưa từng có bất kỳ trường hợp nào một văn bản pháp luật (dưới Hiến pháp) được tuyên bố về tính hợp hiến hay bất hợp hiến, cho dù đã có một số trường hợp văn bản luật không phù hợp với Hiến pháp
4.3.2 Các hoạt động biểu hiện về việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân
tại Việt Nam:
Nhìn chung, cơ chế hiện hành bảo vệ các quyền hiến định ở Việt Nam thể hiện qua một số hoạt động sau: xét xử, giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tòa án
Ngoài ra, cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng được thể hiện qua các hoạt động của báo chí truyền thông và các tổ chức đoàn thể trong xã hội Với các chức năng của mình, các tổ chức này tham gia giám sát hoạt động của