1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng(LC) và liên hệ thực tiễn”( TIỂU LUẬN 9 điểm)

12 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 36,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu 1 NỘI DUNG 1 I,Tìm hiểu những vấn đề khái quát chung về thư tín dụng 1 1. Khái niệm thanh toán bằng thư tín dụng 1 1.1 Định nghĩa thư tín dụng (Letter of credit – LC) 1 1.2 Các đặc trưng cơ bản của Thư tín dụng (LC) 2 1.3 Phân loại thư tín dụng 2 2. Thanh toán bằng LC 3 2.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của thanh toán bằng LC 3 2. 2 Vai trò của hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng. 3 II, . Pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng. 4 1. Quy định quốc tế về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng 4 2. Mối quan hệ giữa tập quán quốc tế về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng với pháp luật Việt Nam 5 3. Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng: 5 4.Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng 6 4.1 Chủ thể tham gia quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng. 6 4.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong thanh toán bằng thư tín dụng 7 III,Thực tiễn phát sinh trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng 8 IV. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng 9 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Lời mở đầu

Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa , sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ đã kéo theo quan hệ thương mại trong nước và quốc tế ngày càng phát triển và đa dạng Từ

đó rất nhiều phương thức thanh toán ra đời, trong đó hình thức thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) , đây là phương tiện thanh toán chủ yếu trong quan hệ thương mại quốc tế ,có một vị trí và vai trò quan trọng và đang được hầu hết các quốc gia sử dụng ,trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, dù đã kịp thời ban hành nhiều văn bản pháp luật ,nhưng trong thực tiễn vẫn còn nhiều khó khăn trong áp dụng, dẫn đến các bên tham gia thường xuyên xảy ra những tranh chấp liên quan đến thanh

toán thư tín dụng Do vậy , em đã chọn đề tài “Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng(L/C) và liên hệ thực tiễn” để nghiên cứu và hiểu rõ hơn về vấn đề này.

NỘI DUNG

I,Tìm hiểu những vấn đề khái quát chung về thư tín dụng

1 Khái niệm thanh toán bằng thư tín dụng

1.1 Định nghĩa thư tín dụng (Letter of credit – L/C)

Thư tín dụng (Letter of credit – L/C) trong quan hệ thương mại quốc tế

được thừa nhận rộng rãi Theo UCP600: “ Tín dụng là một thỏa thuận,dù mô tả hoặc đặt tên như thế nào,nhưng không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp” Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là các quy định trong Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Thư tín dụng là Văn bản pháp lý trong đó ngân hàng nơi người mua mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho người bán khi người bán thực hiện đúng và đầy đủ những điều quy định ghi trong văn bản này Khi đề nghị mở thư tín dụng, người mua phải lưu ký hoặc được ngân hàng bảo lãnh cho vay một số tiền bằng số tiền mở thẻ tín dụng để bảo đảm trả tiền cho người bán Thư tín

Trang 3

dụng hình thành trên cơ sở và để thực hiện hợp đồng mua bán nhưng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Thư tín dụng là phương tiện quan trọng về phương thức tín dụng chứng từ.”

Cả hai cách định nghĩa trên đây, dù được dựa trên và hướng tới những

chuẩn mực khác nhau trong thanh toán quốc tế nhưng đều tìm cách làm rõ các vấn đề mang tính bản chất của thư tín dụng

1.2 Các đặc trưng cơ bản của Thư tín dụng (L/C)

Thư tín dụng có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Thư tín dụng độc lập với hợp đồng mua bán

Thứ hai, Thư tín dụng là cam kết đơn phương của ngân hàng về việc trả

tiền cho người bán,người thụ hưởng thư tín dụng

Thứ ba, Thư tín dụng là sự thoả thuận giữa ngân hàng phát hành và người

yêu cầu mở thư tín dụng

Thứ tư, Thư tín dụng là công cụ thanh toán có khả năng hạn chế rủi ro Thứ năm, Nội dung thư tín dụng gồm rất nhiều điều khoản như: số hiệu, địa

điểm, tên, địa chỉ của người có liên quan, giao nhận, những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình…Những điều khoản này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của các bên vì nó thể hiện rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia Đây là đặc điểm mà các phương tiện thanh toán khác không có được Giao dịch thương mại giữa các bên không có sự tin tưởng trước thì thư tín dụng rất thích hợp để sử dụng

1.3 Phân loại thư tín dụng

- Theo hiệu lực cam kết của ngân hàng, thư tín dụng có thể được phân chia thành:

+ Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable Letter Of Credit)

+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable Letter Of Credit)

+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed Irrerrcable Letter Of

Trang 4

+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi (Irrrvocable Without Recouse Letter Of credit)

+ Thư tín dụng giáp lưng (Back To Back Letter Of Credit)

+ Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit)

+ Thư tín dụng tuần hoàn (Rerolving letter of Credit)

+ Thư tín dụng dự phòng (Standly Letter Of Credit)

+ Thư tín dụng có tài khoản đỏ (Red Clause Letter Of Credit)

- Căn cứ vào thời hạn thanh toán của thư tín dụng:

+ Thư tín dụng trả ngay (at sight)

+ Thư tín dụng trả chậm (usance L/C)

- Căn cứ vào phạm vi thực hiện:

+ Thư tín dụng thanh toán quốc tế

+ Thư tín dụng thanh toán nội địa

2 Thanh toán bằng L/C

2.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của thanh toán bằng L/C

Thanh toán bằng L/C là hình thức thanh toán qua ngân hàng, theo đó việc thanh toán được tiến hành từ một khoản tiền được bên mua lưu ký (ký quỹ) trước

ở ngân hàng phục vụ mình để trả tiền cho bên bán theo các chứng từ được bên bán xuất trình về số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng theo các điều kiện sử dụng L/C

Thanh toán bằng L/C có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, ngân hàng phát hành L/C tiến hành thanh toán tiền cho người

thụ hưởng (bên bán) từ một khoản tiền đã được bên mua lưu ký hay ký quỹ trước tại ngân hàng

Thứ hai, trong thanh toán bằng thư tín dụng, tuy nghĩa vụ trả nợ cho bên

bán vốn dĩ là nghĩa vụ của bên mua, phát sinh từ hợp đồng mua bán nhưng do ngân hàng đã phát hành thư tín dụng để cam kết sẽ tự mình thực hiện nghĩa vụ

Trang 5

đó theo yêu cầu của bên mua nên về nguyên tắc chính ngân hàng sẽ là người trực tiếp thanh toán tiền với bên bán, sau đó sẽ yêu cầu hoàn lại từ phía bên mua trên

cơ sở số tiền ký quỹ của bên mua khi mở thư tín dụng

Thứ ba, thanh toán bằng L/C luôn phản ánh mối quan hệ dịch vụ giữa ngân

hàng bên mua với người mua Đây là một trong nhiều hoạt động cung cấp dịch

vụ của ngân hàng và ngân hàng được thu phí cho dịch vụ này của mình

2 2 Vai trò của hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng.

Một cách khái quát, có thể hình dung vai trò tích cực của thanh toán bằng thư tín dụng được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, thanh toán bằng L/C tạo điều kiện cho các bên dù không biết

nhau, không tin tưởng nhau vẫn có thể hình thành các giao dịch mua bán hàng hóa, điều này làm gia tăng hoạt động thương mại trong nước cũng như quốc tế

Thứ hai, thanh toán bằng L/C thúc đẩy sự liên kết của các ngân hàng

thành một hệ thống trên toàn thế giới

Thứ ba, thanh toán bằng L/C giúp giảm bớt sự cách biệt về trình độ phát

triển giữa các doanh nghiệp cũng như các nền kinh tế trên thế giới

Thứ tư, thanh toán bằng L/C đôi khi là một hoạt động tài trợ xuất nhập

khẩu của ngân hàng đối với doanh nghiệp

II, Pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng.

1 Quy định quốc tế về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng

Hiện nay trên thế giới, nội dung pháp lý chủ yếu điều chỉnh về thư tín

dụng được quy định trong “các quy tắc thực hành thống nhất thư tín dụng” viết

tắt là UCP và đây cũng được coi là văn bản quan trọng nhất hiện nay điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng Đây là tập hợp các tập quán và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng, được soạn thảo bởi các nhà thực hành mà chủ yếu là ngân hàng dưới sự chủ trì của phòng thương mại quốc tế vào năm

Trang 6

1933 và đã được sửa đổi nhiều lần Cụ thể UCP đã trải qua 6 lần sửa đổi vào các năm 1951, 1964, 1974, 1983, 1993 và lần gần đây nhất là năm 2007

Mặc dù UCP là bộ quy tắc được áp dụng rộng rãi ở rất nhiều nước nhưng

nó cũng không mang tính chất bắt buộc với các bên có liên quan mà mang tính chất tùy nghi Chỉ khi trong thư tín dụng có dẫn chiếu áp dụng UCP thì UCP đó mới có giá trị pháp lý ràng buộc với các bên tham gia vào quan hệ thanh toán đó Ngoài UCP, các văn bản sau đây cũng có giá trị hiệu lực điều chỉnh các hoạt động thanh toán qua thư tín dụng:

- URR.525.1995 ICC: Quy tắc thống nhất hoàn trả tiền theo thư tín dụng

- ISP98: Quy tắc quốc tế về tín dụng dự phòng năm 1998

- eUCP 1.1: Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử - bản diễn giải số 1.1 năm 2007

- ISBP681.2007 ICC: Thanh toán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng – số 681 của ICC tuân thủ UCP 600 năm 2007

2 Mối quan hệ giữa tập quán quốc tế về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng với pháp luật Việt Nam

UCP là tập quán áp dụng toàn cầu, luật quốc gia chỉ có giá trị hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Ở nước ta, pháp luật thừa nhận việc áp dụng quy định của thông lệ và tập quán quốc tế trong lĩnh vực thư tín dụng

Khoản 4 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngân hàng được quyền thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại, bao gồm: a Tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành; b Tập quán thương mại khác không trái với pháp luật của Việt Nam”.

Khoản 3 điều 1 Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hướng dẫn về dịch vụ thanh toán

không dùng tiền mặt quy định: “Việc cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được thực hiện theo quy định của pháp

Trang 7

luật về quản lý ngoại hối, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và theo tập quán thương mại quy định tại khoản 4, Điều

3 Luật Các tổ chức tín dụng được các bên thỏa thuận áp dụng.”.

Căn cứ vào các điều luật trên thì các bên tham gia hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng được phép thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế Tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam cùng được sử dụng để điều chỉnh thanh toán bằng thư tín dụng

Trong trường hợp giữa tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam có sự khác biệt thì pháp luật Việt Nam chiếm ưu thế và phải được tuân thủ Trên thực

tế, các ngân hàng được phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế đều vận dụng UCP vào giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng nhằm hòa nhập vào mạng lưới thanh toán toàn cầu

3 Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng:

Một số những văn bản pháp luật chủ yếu hiện hành sau:

Thứ nhất là, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính

phủ Về thanh toán không dùng tiền mặt

Theo Khoản 3 Điều , Nghị định 101/2012/NĐ-CP của 2012 của Chính phủ Về

thanh toán không dùng tiền mặt, viết: “Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán) gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước), ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và một số tổ chức khác”

Thứ hai là, Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 của Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Thông tư này hướng dẫn dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bao gồm các dịch vụ: thanh toán từng lần qua tài khoản thanh toán mở tại Ngân

Trang 8

hàng Nhà nước Việt Nam ; thanh toán lệnh chi, ủy nhiệm chi; thanh toán nhờ thu, ủy nhiệm thu; chuyển tiền; thu hộ; chi hộ,quyền và nghĩa vụ các bên tham gia dịch vụ thanh toán… Hiện nay các quy định về thanh toán bằng thư tín dụng chủ yếu được quy định trong thông tư này

4.Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng 4.1 Chủ thể tham gia quan hệ thanh toán bằng thư tín dụng.

Trong quá trình thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng, thông thường các chủ thể tham gia gồm có:

-Bên yêu cầu mở thư tín dụng( Applicant For Letter Of Credit)

Là người mua hoặc nhà nhập khẩu, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành L/C và có trách nhiệm pháp lý đối với việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này

-Bên phát hành thư tín dụng

Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) hay ngân hàng mở (Open Bank) là ngân hàng được chỉ định theo yêu cầu của người mua, phát hành một hoặc nhiều L/C cho người bán hưởng

- Bên thụ hưởng thư tín dụng

Người thụ hưởng L/C (Benefciary) là người được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán

-Các chủ thể khác có liên quan

Các chủ thể này thường là Ngân hàng thông báo (Adrsing Bank) và Ngân hàng xác nhận (Cofirming Bank)

4.2 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong thanh toán bằng thư tín dụng

Hiện nay quyền và nghĩa vụ các bên trong thanh toán được quy định tại

Chương III Thông tư số 46/2014/TT-NHNN.

* Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán :

Trang 9

- Quyền: Yêu cầu tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan và thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật, được quyền thu phí khi cung ứng các dịch vụ thanh toán,có quyền từ chối cung cấp dịch vụ thanh toán, yêu cầu tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán hoàn trả đầy đủ số tiền thụ hưởng do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chuyển thừa, chuyển nhầm , Và một số quyền khác theo quy định của pháp luật

-Nghĩa vụ: Thông báo và hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán mà mình cung cấp; trả lời hoặc xử lý kịp thời các thắc mắc, khiếu nại.Thực hiện giao dịch thanh toán kịp thời, an toàn, chính xác; niêm yết công khai phí dịch vụ thanh toán,điều chỉnh kịp thời nhầm lẫn, sai sót của giao dịch thanh toán,tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và về đảm bảo an toàn, bảo mật, quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng, Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

* Quyền và nghĩa vụ của tổ chức , cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán:

- Quyền: Được lựa chọn sử dụng dịch vụ thanh toán ,thỏa thuận về quyền

và nghĩa vụ,yêu cầu cấp thông tin về việc thực hiện các dịch vụ thanh toán theo thỏa thuận,khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi: giao dịch thanh toán chậm so với thỏa thuận, không thực hiện giao dịch thanh toán hoặc thực hiện giao dịch thanh toán không khớp đúng với lệnh thanh toán, thu phí dịch vụ thanh toán không đúng loại phí hoặc mức phí mà tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

đã công bố và các vi phạm khác trong thỏa thuận,

-Nghĩa vụ : Thực hiện đúng, đầy đủ các điều kiện, quy trình đối với các dịch vụ thanh toán theo quy định.Hoàn trả hoặc phối hợp với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoàn trả đầy đủ số tiền thụ hưởng do tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán chuyển thừa, chuyển nhầm Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin và chứng từ thanh toán mà mình cung cấp.Tự bảo vệ các bí mật thông tin tài khoản, giao dịch của cá nhân do

Trang 10

mình quản lý ,không được sử dụng các dịch vụ thanh toán cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác

III,Thực tiễn phát sinh trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng

Phần lớn các doanh nghiệp của nước ta đều có quy mô vừa và nhỏ so với các doanh nghiệp trên thế giới, tính minh bạch về tài chính của các doanh nghiệp còn hạn chế nên trong quan hệ thanh toán quốc tế, lựa chọn phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là giải pháp tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của các bên Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động này đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết

Trước hết, nghiệp vụ thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta còn nhiều hạn chế Việc không phát hiện được những sai biệt của chứng từ và không thông báo những sai biệt, từ chối bộ chứng từ sau thời hạn kiểm tra chứng từ đã hết, thông báo sửa đổi thư tín dụng không tuân thủ nguyên tắc của UCP… thường hay xảy ra ở các Ngân hàng Việt Nam

Trên thực tế, những vướng mắc về văn bản pháp luật cũng như những bất cập trong cơ chế vận hành của UCP đã làm phát sinh nhiều tranh chấp và việc giải quyết những tranh chấp này chưa thực sự hiệu quả Ví dụ: tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, trong năm 2003, đối với thư tín dụng xuất khẩu có đến 40% bộ chứng từ xuất khẩu Việt Nam mà Ngân hàng Ngoại thương đóng vai trò

là ngân hàng thông báo và xác nhận bị phía ngân hàng bạn thông báo có sai sót Trong đó, 1,2 % tranh chấp không dùng UCP; 17,8% tranh chấp được ngân hàng giải quyết ổn thỏa trên cơ sở của UCP; còn lại 40% tranh chấp vận dụng UCP để giải quyết không hiệu quả Nhiều trường hợp nhà xuất khẩu Việt Nam phải lập lại bộ chứng từ hoặc chuyển sang phương thức nhờ thu Nhiều tranh chấp gây thiệt hại nặng cho khách hàng cũng như bản thân ngân hàng

Ngày đăng: 20/01/2022, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w