Bài tiểu luận được 9 điểm MỤC LỤC Lời mở đầu 1 I, Những vấn đề chung về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1 1.1 Khái niệm chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1 1.2 Quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 1 II. Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại. 4 2.1 Ưu điểm của các quy định về quản lý chất thải nguy hại. 4 2.2 Hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại. 5 KẾT LUẬN 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 Lời mở đầu Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác lại tạo ra một số lượng lớn các loại chất thải, trong đó có một lượng đáng kể chất thải nguy hại đã và đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, từ quy mô nhỏ đến ảnh hưởng quy mô rộng lớn và tác động xấu tới sức khỏe, đời sống con người và chất lượng môi trường chung. Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Trong những biện pháp mà nhà nước ta sử dụng trong lĩnh vực này và cũng như trong tuyệt đại đa số các lĩnh vực khác trong đời sống, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về môi trường kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của vấn đề môi trường. Một trong những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là vấn đề quản lý chất thải nguy hại. Quản lý không tốt vấn đề này, rất có thể Việt Nam sẽ trở thành bãi rác thải của thế giới. Chính vì vậy, trong bài tập học kì này, em đã quyết định chọn đề tài: “Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại”. I, Những vấn đề chung về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1.1 Khái niệm chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác”. Định nghĩa này phù hợp với các định nghĩa về chất thải nguy hại của các hiệp định song phương, đa phương mà Việt Nam là thành viên, theo đó, đều cho thấy đặc tính gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại. Hiện nay, các nguồn phát sinh chất thải nguy hại cơ bản bao gồm: + Sản xuất công nghiệp +Canh tác nông nghiệp + Dịch vụ khám chữa bệnh + Tiêu dùng dân dụng Quản lý chất thải nguy hại là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải nguy hại. Hoạt động quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện bởi đối tượng của hoạt động quản lý này là chất thải nguy hại, một loại chất thải có khả năng gây nguy hiểm cao cho môi trường và con người. Để quản lý và kiểm soát chất thải nguy hại được hiệu quả, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại đòi hỏi phải có sự điều chỉnh bằng các quy định pháp luật đối với hoạt động này.
Trang 1MỤC LỤCY
Lời mở đầu 1
I, Những vấn đề chung về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1
1.1 Khái niệm chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại 1
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại 1
II Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại 4
2.1 Ưu điểm của các quy định về quản lý chất thải nguy hại 4
2.2 Hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại 5
KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 2Lời mở đầu
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác lại tạo ra một số lượng lớn các loại chất thải, trong đó có một lượng đáng kể chất thải nguy hại đã và đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, từ quy mô nhỏ đến ảnh hưởng quy mô rộng lớn và tác động xấu tới sức khỏe, đời sống con người và chất lượng môi trường chung
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Trong những biện pháp mà nhà nước ta sử dụng trong lĩnh vực này và cũng như trong tuyệt đại đa số các lĩnh vực khác trong đời sống, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về môi trường kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của vấn đề môi trường
Một trong những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là vấn đề quản
lý chất thải nguy hại Quản lý không tốt vấn đề này, rất có thể Việt Nam sẽ trở thành bãi rác thải của thế giới Chính vì vậy, trong bài tập học kì này, em đã quyết
định chọn đề tài: “Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy
Trang 3I, Những vấn đề chung về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại
1.1 Khái niệm chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại
Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì:
“Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy,
dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác” Định nghĩa này
phù hợp với các định nghĩa về chất thải nguy hại của các hiệp định song phương,
đa phương mà Việt Nam là thành viên, theo đó, đều cho thấy đặc tính gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại
Hiện nay, các nguồn phát sinh chất thải nguy hại cơ bản bao gồm:
+ Sản xuất công nghiệp
+Canh tác nông nghiệp
+ Dịch vụ khám chữa bệnh
+ Tiêu dùng dân dụng
Quản lý chất thải nguy hại là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát,
phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải nguy hại.
Hoạt động quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện bởi đối tượng của hoạt động quản lý này là chất thải nguy hại, một loại chất thải có khả năng gây nguy hiểm cao cho môi trường và con người Để quản lý và kiểm soát chất thải nguy hại được hiệu quả, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại đòi hỏi phải có sự điều chỉnh bằng các quy định pháp luật đối với hoạt động này
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã quy định về quy trình để triển khai
và thực hiện một cách lần lượt từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lý
và tiêu hủy chất thải nguy hại Đồng thời cũng quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến chất thải nguy hại, từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân Cụ thể là:
Trang 4- Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải lập hồ sơ về chất thải nguy hại và
đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh Nếu các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện về năng lực quản lý chất thải nguy hại thì được cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép, mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại (Điều 90 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
- Việc phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường
theo hai cách: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom
hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom chất thải nguy hại Chất thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo đảm không tác động xấu đến con người và môi trường (Điều 91 Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014)
- Việc xử lý chất thải nguy hại phải tiến hành bằng phương tiện, thiết bị
chuyên dụng phù hợp và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại Chất thải nguy hại được vận chuyển sang nước khác phải tuân thủ các điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)
Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên pháp luật môi trường đã có những quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý chất thải này Cụ thể:
+ Trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Quy định danh mục chất
thải nguy hại và cấp phép xử lý chất thải nguy hại (khoản 3 Điều 90 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014); quy định trình tự, thủ tục cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại (Điều 10 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP) và trình tự, thủ tục cấp lại, điều chỉnh giấy phép xử lý chất thải nguy hại (Điều 11 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP)
+ Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thống nhất quản
lý nhà nước về chất thải nguy hại trên phạm vi toàn quốc và ban hành một số quy định theo quy định của pháp luật; tổ chức quản lý, kiểm tra điều kiện, hoạt động và
Trang 5các hồ sơ, hợp đồng, báo cáo, chứng từ liên quan đến các chủ xử lý chất thải nguy hại; tổ chức xây dựng và vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về chất thải nguy hại; tổ chức, hướng dẫn việc triển khai đăng ký chủ nguồn thải, kê khai chứng từ chất thải nguy hại và báo cáo quản lý chất thải nguy hại trực tuyến;
tổ chức việc tăng cường sử dụng hệ thống thông tin hoặc thư điện tử để thông báo, hướng dẫn, trao đổi với tổ chức, cá nhân trong quá trình cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại; tổ chức thực hiện các nội dung về quản lý chất thải nguy hại phục vụ công tác lập và triển khai quy hoạch bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 94 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
+ Trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường: Quản lý hoạt động và các hồ
sơ, báo cáo, hợp đồng, chứng từ của các chủ nguồn thải chất thải nguy hại trong phạm vi địa phương mình (kể cả chủ nguồn thải được miễn thủ tục đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại); cập nhật cơ sở dữ liệu về chất thải nguy hại và triển khai đăng ký chủ nguồn thải, kê khai chứng từ chất thải nguy hại, báo cáo quản lý chất thải nguy hại trực tuyến tại địa phương; tăng cường sử dụng hệ thống thông tin hoặc thư điện tử trong quá trình đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình quản lý chất thải nguy hại, việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, thời hạn của báo cáo trước ngày 31/3 của năm tiếp theo
Với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý nhà nước đối với chất thải nguy hại, pháp luật đã xác định địa vị pháp lý của các cá nhân, các tổ chức sản xuất, kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực môi trường nói chung và chất thải nguy hại nói riêng, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể này tham gia vào các quan hệ khai thác, sử dụng các thành phần môi trường Cũng thông qua pháp luật, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho các hoạt động quản lý chất thải nguy hại trong phạm vi cả nước nhằm kiểm soát tốt chất thải nguy hại ngay từ nguồn thải, đồng thời thực hiện tốt các bước trong quá
Trang 6trình quản lý chất thải nguy hại như thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý
và tiêu hủy chất thải nguy hại
II Ưu điểm và hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
2.1 Ưu điểm của các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp lý quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về môi trường; quyền, nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân liên quan đến chất thải nguy hại Pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan Nhà nước giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước đối với vấn đề này đạt hiệu quả cao Đồng thời pháp luật còn định hướng cho hành vi, xử
sự của các chủ thể khi tham gia các hoạt động liên quan đến chất thải nguy hại Qua
đó ngăn ngừa, hạn chế việc gia tăng số lượng chất thải nguy hại vào môi trường, giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con người cũng như môi trường sống So với giai đoạn trước đây, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng đã được cụ thể hóa
và quy định rõ ràng hơn, đáp ứng các yêu cầu về số lượng và mục đích sử dụng Với hệ thống cơ sở pháp lý cơ bản hoàn chỉnh này, đã tạo động lực cho công tác quản lý chất thải nguy hại được thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới Đặc biệt, giải quyết được các điểm nóng về quản lý chất thải nguy hại như thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải, chủ nguồn thải chất thải có số lượng chất thải nguy hại phát sinh thấp hơn dưới 600kg/năm
Các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã góp phần đáng
kể hạn chế các vi phạm về môi trường thông qua các biện pháp cụ thể Các biện chúng ta có thể kể ra là:
- Biện pháp pháp lý: với tư cách là hệ thống các quy phạm pháp luật điểu
chỉnh hành vi xử sự của con người, pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã tác động trực tiếp đến hành vi xử sự của các chủ thể Đây là biện pháp đem lại hiệu quả cao
Trang 7nhất, thông qua đó hoạt động quản lý chất thải nguy hại được thể chế hóa bằng pháp luật
- Biện pháp kinh tế: Đó là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt
buộc các chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý chất thải Biện pháp này thực hiện thông qua hình thức thu phí chất thải đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải có thể phát sinh ngay tại nguồn Áp dụng thuế cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc sức khỏe con người ở mức độ cao Đó còn là những biện pháp hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường Biện pháp kinh tế rất cần thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn thu nhập, lợi nhuận của doanh nghiệp
Ngoài ra hiện nay Nhà nước ta còn có các biện pháp kí quỹ đặt cọc được quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên
- Biện pháp khoa học công nghệ: Vận dụng các thiết bị khoa học công nghệ
tiên tiến vào việc quản lý chất thải Biện pháp này giúp hạn chế được lượng chất thải, đồng thời xử lý được khối lượng lớn và triệt để chất thải
- Biện pháp chính trị: Đảng đưa ra vấn đề môi trường và quản lý chất thải
trong cương lĩnh của mình, từ đó thể chế hóa thành pháp luật Biện pháp này có tác dụng định hướng và có tính bao quát cao
Các quy định của pháp luật ngày càng rõ ràng và cụ thể đã làm cho người dân hiểu pháp luật, nâng cao ý thức của họ Người dân sẽ tự giác thực hiện những hành vi có ích cho môi trường
2.2 Hạn chế của các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Bên cạnh ưu điểm, hệ thống pháp luật liên quan đến chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng vẫn còn những vướng mắc, hạn chế:
Trang 8Một số quy định của pháp luật liên quan đến quản lý chất thải nguy hại còn chung chung, trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với chủ thể vi phạm còn thấp, dẫn đến tình hình vi phạm về quản lý chất thải nguy hại gia tăng Cụ thể:
Thứ nhất, quy định về quá trình vận chuyển chất thải nguy hại: Vận chuyển
chất thải nguy hại được hiểu là quá trình chuyên chở chất thải nguy hại từ nơi phát sinh đến nơi xử lý Trên thực tế, vẫn còn tồn tại một số quy định của pháp luật liên quan đến vận chuyển chất thải nguy hại mang tính chung chung và chưa có tính khả thi như:
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thì chủ xử
lý chất thải nguy hại có trách nhiệm “ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại với các chủ nguồn thải chất thải nguy hại trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại; tiếp nhận, vận chuyển, xử lý số lượng, loại chất thải nguy hại bằng các phương tiện, hệ thống, thiết bị được phép theo đúng nội dung hợp đồng, chứng từ chất thải nguy hại và giấy phép xử lý chất thải nguy hại”
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT thì chủ
xử lý chất thải nguy hại thực hiện biện pháp quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại; báo cáo Tổng cục Môi trường về việc thay đổi nội dung, gia hạn hoặc chấm dứt hợp đồng bàn giao phương tiện vận chuyển không chính chủ trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện việc thay đổi, gia hạn hoặc chấm dứt
Như vậy, quy định về chủ xử lý chất thải về vận chuyển chất thải mới chỉ dừng lại ở việc “chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại”, nhưng còn chịu trách nhiệm như thế nào, hình thức ra sao thì hiện nay pháp luật vẫn chưa quy định rõ ràng
Trang 9- Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT thì
“Phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải có hệ thống định vị vệ tinh (GPS) được kết nối mạng thông tin trực tuyến để xác định vị trí và ghi lại hành trình vận chuyển chất thải nguy hại” Việc quy định phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải có hệ thống vệ tinh GPS chưa phù hợp với thực tế Bởi lẽ, khái niệm “hệ thống định vị vệ tinh GPS” ở Việt Nam là một khái niệm còn khá xa lạ đối với các chủ thể tiến hành những hoạt động liên quan đến chất thải nguy hại; hoặc nếu có được trang bị đầy đủ hệ thống định vị (GPS) thì quy định này sẽ khó được thực hiện trên thực tế vì khi phương tiện đi đến những địa điểm không có kết nối mạng, hay mạng không ổn định sẽ không thể cập nhật và nắm bắt được chính xác quá trình vận chuyển chất thải nguy hại
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thì “Các phương tiện, thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại phải đáp ứng yêu cầu
kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định Phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại” Tuy nhiên, như thế nào
để được coi là đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các phương tiện, thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại thì đến nay, vẫn chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật
Thứ hai, quy định về xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại:
Hiện nay, chủ thể vi phạm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là mức chế tài nặng nhất được đặt ra đối với các chủ thể vi phạm quy định mà Bộ luật Hình
sự quy định Lần đầu tiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Đây là bước tiến đột phá, quan trọng của pháp luật hình sự nước ta, mặc dù chỉ giới hạn trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại nhưng tạo cơ sở pháp lý để xử lý hình sự đối với những chủ thể này khi có những hoạt động có dấu hiệu tội phạm trong việc gây
Trang 10Thứ ba ,là việc xây dựng các quy định về quản lí chất thải mới chỉ căn cứ chủ
yếu vào kết quả của một dự án chưa mang tính tổng thể Vì vậy nội dung của quy
chế chỉ tập trung tới các hóa chất ở ba dạng: chất thải chứa kim loại, chất thải chứa chất hữu cơ vô cơ, chất thải chứa hợp chất nhưng bản chất chất thải có tính đa dạng hơn nhiều so với các hóa chất thuần túy và vì thế quy chế đã được ban hành nhưng thiếu tính khả thi vì nó chưa bao trùm hết các dạng chất thải nguy hại
Thứ tư, là việc xây dựng các tiêu chuẩn hiện nay dựa tên giả định trước rằng
đã đầy đủ cơ quan giám sát các hoạt động người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh phạt những người vi phạm Tuy nhiên hiện nay hệ thống thanh tra môi trường ở các
địa phương còn yếu, chưa có đủ chuyên môn và kinh nghiệm cần thiết Từ góc đọ khác có thể thấy những người tham gia xây dựng các tiêu chuẩn thường có tham vọng và đưa ra các tiêu chí tương đối nghiêm ngặt thường quá cao so với trình độ phát triển chung toàn quốc và do đó khó có đủ cơ sở để thực thi hiệu quả
Bên cạnh những vướng mắc của pháp luật, nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng các văn bản về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng chưa được nhiều cơ sở quan tâm; việc tổ chức thực hiện của một
số cấp chính quyền cho công tác bảo vệ môi trường trong giảm thiểu chất thải nguy hại còn thiếu quyết liệt, kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế Bên cạnh đó, việc thanh tra, kiểm tra và phát hiện ra hành vi vi phạm quy định của pháp luật liên quan đến chất thải nguy hại còn yếu kém, hoặc có phát hiện ra hành vi vi phạm nhưng việc xử phạt còn quá nhẹ so với hành vi vi phạm, hoặc xử lý vi phạm không đáp ứng yếu tố kịp thời của thực tế cần xử lý ngay,… dẫn đến thực tế không mang tính phòng ngừa, tính răn đe đối với các cơ sở thu gom, lưu giữ, vận chuyển
và xử lý chất thải nguy hại Cùng với đó là nhận thức của cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường và xử lý chất thải còn yếu kém Người dân hầu như chưa nhận thức được tác hại của rác thải và sự ảnh hưởng của rác thải với sức khỏe, môi trường sống, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao, coi quản lý chất thải là công việc