1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BỒI DƯỠNG CHI TIẾT MÔN NGỮ VĂN 9, 21-22

23 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 59,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nét sáng tạo của Nguyễn Du trong TK đặc biệt là nghệ thuật miêu tả 1.Miêu tả nhân vật a, Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật: * Thủ pháp ước lệ tượng trưng: Đây là thủ pháp miêu

Trang 1

Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du qua các đoạn trích trong Truyện Kiều

1 Những nét sáng tạo của Nguyễn Du trong TK đặc biệt là nghệ thuật miêu tả;

2 Phân tích được thành công của ND về nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật tả nhânvật, nghệ thuật tả tâm trạng qua các đoạn trích (điểm chung và nét riêng của từng đoạntrích; có sự đối chiếu với các đoạn trích có nội dung, nghệ thuật tương tự trong tácphẩm) -> Chú ý giúp học trò biết sử dụng các đoạn trích và đặc biệt những thành công về nghệ thuật để phục vụ cho việc chứng minh đề LLVH liên quan đến quá trình sáng tạo của nhà văn

I SÁNG TẠO CỦA TRUYỆN KIỀU SO VỚI KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

1.Về nội dung,

-Từ câu chuyện tình Kim — Vân – Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du

đã tạo nên một “Khúc ca mới đứt ruột” (Đoạn trường tân thanh), nhấn vào nỗi đau bạc mệnh và gửi gắm những xúc cảm về nhân sinh của nhà thơ trước những điều trông thấy trong thời đại mình.

2 Cùng với sự sáng tạo về nội dung là những sáng tạo về nghệ thuật

- Lược bỏ các tình tiết về mưu mẹo, về báo oán… trong truyện của Thanh TâmTài Nhân, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều bằng thể lục bát truyền thống, với một ngônngữ trau chuốt tỉnh vi, chính xác đến trình độ cổ điển trong một truyện thơ Nôm

- Và hơn hết, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tập trung thể hiện nội tâm nhân vật một cách tài tình

II Những nét sáng tạo của Nguyễn Du trong TK đặc biệt là nghệ thuật miêu tả

1.Miêu tả nhân vật

a, Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật:

* Thủ pháp ước lệ tượng trưng: Đây là thủ pháp miêu tả được sử dụng trong văn

học Trung đại, lấy vẻ đẹp thiên nhiên tả vẻ đẹp con người Thiên nhiên là trung tâm, làchuẩn mực của cái đẹp

- Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”:

- Trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”

- Trong đoạn trích Cảnh ngày xuân”:

⇒ Về ngôn ngữ: tác giả sử dụng ngôn từ trang trọng, mĩ miều, hình ảnh tươiđẹp, trong sáng

- Hình ảnh: lựa chọn những hình ảnh đẹp trong tự nhiên

- Qua miêu tả thấy được tuyến nhân vật chính diện, cho thấy tình cảm yêu mến,ngưỡng mộ của tác giả đối với nhân vật

* Thủ pháp tả thực:

Trang 2

VD: tả Mã Giám Sinh.

- Qua miêu tả thấy được nhân vật phản diện, thể hiện sự khinh ghét của tác giả

b, Nghệ thuật miêu nội tâm nhân vật: qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

* Thủ pháp tả cảnh ngụ tình

- Cảnh vật được nhìn qua con mắt của kẻ đang đau buồn như Thúy Kiều khi ởlầu Nhưng Bích

* Thủ pháp độc thoại nội tâm

- Tác giả tả tâm trạng nhớ thương của Kiều với Kim Trọng, với cha mẹ

2.Thiên nhiên trong truyện Kiều

Nguyễn Du đã rất tài tình trong việc họa nên những bức tranh thiên nhiên sốngđộng, tuyệt mỹ, nhiều sắc thái, điều khiển ngôn ngữ tài tình đến độ bậc thầy, có thể táihiện những bức tranh tuyệt đẹp vào tâm trí người đọc thông qua ngôn từ nghệ thuật

a.Tả trực tiếp

* Cảnh ngày xuân và Kiều ở lầu Ngưng Bích:

-Chọn những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu để làm bật lên cái hồn của cảnh vật; kết hợp hài hòa giữa bút pháp miêu tả tỉ mỉ, chi tiết và bút pháp điểm xuyết, chấm phá.

+ Đó có thể là bức tranh mùa xuân tinh khôi, tràn đầy sức sống:

“Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

+Hay đó cũng có thể là không gian rộng lớn, bao la, mênh mông, heo hút:

+ Trong đoạn thơ miêu tả cảnh vật trước lầu Ngưng Bích, bằng việc sử dụng cáccặp từ đối lập “xa – gần”, “nọ - kia”, “sớm - khuya”, Nguyễn Du đã khắc họa được quátrình mở rộng chiều kích của không gian và thời gian, không gian bao la, rộng lớn,mênh mông, bát ngát lại càng như bao la hơn, rộng lớn hơn, mênh mông bát ngát hơn.Thời gian đằng đẵng, xoay vòng, lại như càng dài ra thêm Sự mở rộng chiều kíchkhông gian và thời gian này gắn sự quan sát, cảm nhận của Thúy Kiều è Không gian,thời gian càng tăng chiều kích, con người càng nhỏ bé, lẻ loi

a/ Hai câu thơ cổ:

Phương thảo liên thiên bích

Trang 3

Lê chi sổ điểm hoa

Vẻn vẹn 10 chữ mà miêu tả được đặc điểm nổi bật của khung cảnh mùa xuân:

- Màu xanh của cỏ non tràn ngập không gian, tiếp nối với sắc xanh của bầu trời.(Tả diện)

- Cành lê điểm vài bông hoa trắng (Tả điểm)

- Sự tương phản về màu sắc (xanh >< trắng) làm nổi bật tính chất của từng sựvật được miêu tả

- Phương thảo (cỏ thơm) gợi sự liên tưởng đến khung cảnh mùa xuân tràn đầysức sống và sực nức hương thơm làm ngây ngất lòng người

b/ Hai câu thơ của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

- Sự vật được miêu tả: giống như trong hai câu thơ cổ (cỏ, hoa lê)

- Tính chất của sự vật: khác biệt ở chỗ Nguyễn Du nhấn mạnh đến màu xanhtươi của cỏ (cỏ non xanh), qua đó thể hiện sức sống phơi phới của mùa xuân Bên cạnh

đó là sắc trắng của hoa lê, nổi bật trên nền xanh bát ngát (tận chân trời) của cỏ non

Chẳng biết tự bao giờ, mùa xuân đã có sức thu hút kì diệu với lòng người đếnvậy Xuân tuyệt diệu, xuân trẻ trung, tinh khiết đã làm say lòng các thi nhân, văn sĩ Đã

có biết bao áng thơ, áng văn, biết bao bản nhạc ca ngợi mùa xuân nhưng bức tranhxuân chắc hẳn sẽ kém đi sự huyền diệu nếu không có cảnh ngày xuân trong thơ đại thihào Nguyễn Du Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã vẽ nên khung cảnhtuyệt diệu của mùa xuân để lưu truyền cho muôn đời:

Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Mở đầu bức tranh xuân, tác giả thông báo trực tiếp về thời gian : “Ngày xuân con én đưa thoi – Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi ra các cách hiểu khác nhau “Con én đưa thoi” có thể hiểu là những cánh én

chao liệng trên bầu trời như thoi đưa, bởi chim én là tín hiệu của mùa xuân Bên cạnh

đó, “con én đưa thoi” còn có thể hiểu là thời gian trôi rất nhanh chẳng khác nào thoi đưa Nếu hiểu theo cách hai thì câu thơ “Ngày xuân con én đưa thoi” không chỉ đơn

thuần là câu thơ tả cảnh mà ngầm chứa trong đó bước đi vội vàng của thời gian Cách

hiểu này dường như rất lô gích với câu thơ tiếp theo : “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” Nhà thơ Nguyễn Du đã đưa ra những con số rất cụ thể Mùa xuân có

Trang 4

chín mươi ngày thì đã trôi đi quá nửa (“đã ngoài sáu mươi”) Câu thơ ẩn chứa sự nuốitiếc khôn nguôi của con người trước sự chảy trôi chóng vánh của thời gian Mùa xuânvốn đến và đi theo quy luật của tự nhiên, bao đời vẫn thế nhưng ở đây nhà thơ đã nhìndưới cái nhìn tâm lí mang màu sắc chủ quan nên mùa xuân cũng trở nên sống động Tabắt gặp sự gần gũi trong cách cảm nhận thời gian của đại thi hào Nguyễn Du với

“hoàng tử thơ ca” Xuân Diệu sau này Nhà thơ Xuân Diệu của thời thơ mới trước mùa

xuân tươi đẹp cũng đã có những dự cảm về sự tàn phai, nuối tiếc :

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

(Xuân Diệu – Vội vàng)

Sự tương đồng trong cách cảm nhận bước đi mùa xuân giữa hai nhà thơ cáchnhau mấy thế kỉ thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế của những hồn thơ kiệt xuất Chỉ cónhững người biết yêu, biết quý trọng thời gian mới có thể cảm nhận được sự chảy trôi,vận động tế vi đến như vậy

Nếu như hai câu đầu, Nguyễn Du nghiêng về miêu tả thời gian thì hai câu saunhà thơ tập trung miêu tả cảnh sắc :

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã làm sống dậy một bức tranh xuân căng tràn nhựa

sống Tất cả cảnh vật đều được miêu tả ở trạng thái viên mãn nhất “Cỏ non xanh tận chân trời“, màu xanh của cỏ tiếp nối với màu xanh của trời như trải ra ngút ngàn Màu

xanh vốn là màu của sự sống, hơn nữa đây là xanh non, xanh lộc biếc nên sự sống lạicàng tràn trề, trào dâng Nguyễn Du không phải là nhà thơ đầu tiên miêu tả cỏ xuân,

trước ông, nhà thơ Nguyễn Trãi đã viết trong bài Bến đò xuân đầu trại :

Độ đầu xuân thảo lục như yên,

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên

(Cỏ xanh như khói bến xuân tươi

Lại có mưa xuân nước vỗ trời)

Nếu Nguyễn Trãi sử dụng thủ pháp so sánh “thảo lục như yên” để miêu tả vẻ

xuân như mờ ảo, sương khói trong ngày mưa nơi bến đò thì Nguyễn Du lại vẽ trực tiếp

bức tranh cỏ xuân Chỉ với câu thơ : “Cỏ non xanh tận chân trời”, ông đã đem đến cho

người đọc cảm nhận về hình ảnh, màu sắc, đường nét, sức sống của cỏ… Tất cả đềuhài hoà, lắng đọng trong chiều sâu câu thơ 6 chữ, tạo nên nét xuân riêng rất Nguyễn

Du Cái tài của đại thi hào không chỉ dừng ở đó, bức tranh cỏ xuân xanh biếc như làmnền cho sự đột phá ở câu thơ tiếp theo :

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Trang 5

Miêu tả những bông hoa lê trắng trong, tinh khiết, nhà thơ không viết là

“điểm trắng” mà sử dụng đảo ngữ “trắng điểm” khiến cho màu trắng càng được

nhấn mạnh Bên cạnh đó, biện pháp đảo ngữ khiến người đọc cảm nhận màu

trắng của hoa lê chủ động tô điểm cho bức tranh xuân thêm tuyệt diệu Chỉ “một vài bông hoa” nhưng cũng đủ làm nên thần thái của bức tranh xuân Chính điều

này đã khiến câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du tạo được dấu ấn riêng sắc nét so với câu thơ cổ của Trung Quốc :

Phương thảo liên thiên bích

Lê chi sổ điểm hoa

Câu thơ “Lê chi sổ điểm hoa” (Trên cành lê có mấy bông hoa) chỉ đơn giản

là lời thông báo, không có sự hoà quyện màu sắc giữa sắc màu hoa lê với sắc màu

“cỏ thơm” ở câu đầu Trái lại, câu thơ của Nguyễn Du là sự hoà quyện, kết hợp màu sắc tạo nên nét thần thái của cảnh vật Tác giả đã rất tinh tế khi lựa chọn màu sắc cho bức tranh xuân của mình Đó là xanh và trắng – những sắc màu trinh nguyên, thanh khiết, giàu sức sống, tiêu biểu cho mùa xuân Ta nhận ra rằng Nguyễn Du không chỉ là đại thi hào trong lĩnh vực thơ ca mà cũng là bậc thầy trong lĩnh vực hội họa Hai câu thơ tả cảnh thực sự là những câu thơ tuyệt bút.

Đã bao mùa xuân trôi đi, đã có bao áng thơ văn về mùa xuân ra đời nhưng bốncâu thơ của đại thi hào Nguyễn Du thì vẫn trường tồn cùng thời gian, không gì có thểthay thế Đó thực sự là bức tranh xuân vĩnh cửu cùng đất trời và lòng người

b Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

Khát quát chung về bút pháp tả cảnh ngụ tình

Thẩm mỹ tả cảnh ngụ tình là một thi pháp quen thuộc trong văn học trung đại.Đặc trưng của văn học trung đại là sùng cổ, phi ngã và ước lệ Ước lệ trong thơ văntrung đại đây chính là sử dụng hình ảnh tượng trưng để gợi tả nhưng chủ yếu là gợinhiều hơn tả Chính vì vậy những văn pháp được sử dụng chủ yếu trong văn học trungđại là văn pháp chấm phá, văn pháp đòn kích bẩy, văn pháp lấy động tả tĩnh, văn pháplấy điểm tả diện,… nhưng trong đó nổi bật nhất phải nhắc đến văn pháp tả cảnh ngụ

tình Tả cảnh ngụ tình, tức là mượn cảnh để gửi gắm tâm trạng của nhân vật trữ tình, tuy trung tâm là tả cảnh thiên nhiên nhưng cảnh vật lại được quyết định bởi tâm trạng của người thưởng cảnh, qua đó, cảnh vật được nhìn qua con mắt của tình cảm, tâm lí chi phối hoàn cảnh bên ngoài Đó là lí do vì sao thiên nhiên đột

ngột trở nên có hồn và khi phân tích chúng, ta có thể thấy được nhân vật đang vui haybuồn

Xuất phát từ đặc trưng của văn học trung đại, yêu thích sự tế nhị, cách nói vòng

vo ước lệ, vai trò của cá nhân trong những tác phẩm mờ nhạt, họ không được phép tựnói lên tình cảm và suy nghĩ của mình, vì vậy, các nhà văn, nhà thơ văn học trung đại

sử dụng nhiều bút pháp tả cảnh ngụ tình, để thông qua hình ảnh thiên nhiên, có thểthay người viết nói lên suy nghĩ của bản thân Bút pháp này từ đó trở thành đặc trưnglớn của văn học trung đại, và Nguyễn Du là người đa rất thành công Đây là bút phápđòi hỏi sự dung hòa giữa cảnh thiên nhiên và tâm trạng của con người, sự khéo léo và

tế vi phải đạt đến mức hoàn hảo mới đủ khả năng sử dụng bút pháp này

Trang 6

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều

Nguyễn Du đã từng có những câu thơ:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Đây là những câu thơ thể hiện rất rõ quan điểm sáng tác của Nguyễn Du, đối vớiông, thiên nhiên luôn được nhìn bằng con mắt của tâm trạng của không phải con mắtcủa trần thế Cảnh được quyết định bởi người Không quá khi cho rằng nghệ thuật tảcảnh trong tác phẩm truyện Kiều đã đạt đến mức xuất sắc, có những câu thơ đã đượcliệt kê là bất hủ bởi bút pháp tả cảnh ngụ tình không phải ai cũng làm được Cũnggiống như những nhà thơ đương thời, phong – hoa – tuyết – nguyệt là những hình ảnhthường xuyên được sử dụng trong các câu thơ của Nguyễn Du, Thiên nhiên trong

“Truyện Kiều” rất đỗi quen thuộc với tâm hồn con người Việt Nam Nhà thơ như mộthoạ sĩ tài ba phối sắc, tạo hình, dựng cảnh đểu thán tình, đem đến cho người đọc nhiềurung cảm Mùa xuân với “Cà non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vàibông hoa” Mùa hè với tiếng chim quyên và hoa lựu đỏ:

“Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.”

Ta quên sao được sự chuyển vần của bốn mùa trong nỗi buồn đau nặng trĩu lòngngười:

“Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngẳn đông đã sang xuân

Bốn mùa xuân – hạ - thu – đông cũng là thi liệu được Nguyễn Du sử dụng rấtnhiều Có thể thấy điểm chung của những hình ảnh thiên nhiên mà nhà thơ sử dụngđều ít nhiều nhuốm màu tâm trạng, nhà thơ không bao giờ tả cảnh chỉ để tả cảnh màbao giờ cũng hướng đến việc dự báo một sự việc gì đó sắp xảy ra, hoặc nhằm mục đíchmiêu tả tâm trạng, vì vậy, giữa mùa xuân đang rộn ràng ta vẫn thấy những câu thơ độtngột chìm xuống:

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đàng,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Thiên nhiên đột ngột nhuốm buồn, dự báo cho một cuộc gặp gỡ của hai conngười có số phận tương đồng, trắc trở Câu thơ vừa miêu tả cảnh vật buồn hiu hắt nhưtiếc thương cho hai số phận tài hoa bạc mạnh: Đạm Tiên – Thúy Kiều, báo hiệu trướcmột cuộc đời đầy sóng gió của Kiều Từ láy “nao nao” được sử dụng thật đắc Đó vừa

là cái điệu chảy lững lờ êm trôi của làn nước nhỏ vừa là tâm trạng xốn xang nhuộm nỗiniềm đầy bâng khuâng, một nỗi buồn vô định thấm đẫm cả đất trời và cả lòng người.Cảnh vật vẫn thế vẫn là những đường nét thanh tao nhưng tâm trạng lòng người đãkhác

Đặc biệt, cảnh thiên nhiên luôn thể hiện tâm trạng của nhân vật, được thể hiệnrất rõ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích:

Buồn trông cửa biển chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Trang 7

Cảnh vật truyền tải tâm trạng, từ nỗi buồn cô đơn đến sự lo lắng cho số phận vàcuối cùng là sự thảng thốt dự báo về một tương lai đầy sóng gió Tám câu thơ là mộtđiệp khúc buồn được lặp lại qua sự thay đổi của từng cảnh vật Cảnh được miêu tả từ

xa đến gần, từ màu nhạt đến màu đậm, âm thanh từ tĩnh đến động nỗi buồn cũng từ

"man mác" đến lo sợ hãi hùng Sự tăng tiến của hoàn cảnh ứng với sự thay đổi mạnh

mẽ của tâm trạng, đây chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình

Cảnh vật đôi khi cũng rất thơ mộng khi nhân vật đang vui vẻ:

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đã lên ngựa, người còn nghề theo…

Rất tế nhị và thanh tao, cái giây phút rạo rực trái tim Kim – Kiều dự cảm mộttình yêu đắm say chớm nở, khiến Nguyễn Du đồng cảm viết nên những vần thơ tình

tuyệt bút Cuộc chia tay trong hội Đạp thanh đâu dễ quên? Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du nâng cao cảm xúc nghệ thuật Thời gian trôi nhanh, không gian trở

nên trong sáng, tĩnh lặng, báo hiệu cho một tình yêu đang bắt đầu chớm nở giữa KimTrọng và Thúy Kiều

Nhìn chung, cảnh vật của thiên nhiên bao giờ cũng nhuốm màu tâm trạng, với

sự linh hoạt của ngòi bút, Nguyễn Du đã thành công diễn tả tâm trạng một cách vôcùng đặc sắc

*Đoạn trích Cảnh ngày xuân

-Sử dụng những từ láy đa nghĩa, vừa tả sắc thái thiên nhiên, vừa nói lên tâm trạng con người để tạo hiệu quả “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”:

“Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần theo phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Các từ “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” vừa là sắc thái cảnh vật, êm đềm,

trầm lắng, man mác, vừa là những từ gợi đến nỗi lòng con người: một nỗi buồn khónói, gợn nhẹ, mênh mang Tâm hồn con người phong phú, nhạy cảm trước sự biến đổicủa thiên nhiên, gợn chút nuối tiếc khi buổi du xuân đã kết thúc, ngày xuân tươi đẹpđang dần qua đi Đặc biệt từ láy “nao nao” sử dụng rất đắt, nó còn dự báo cho sự việcsắp tới, khi Kiều chuẩn bị gặp mộ Đạm Tiên, sự việc được xem như là khởi đầu chochuỗi truân chuyên định mệnh của cuộc đời Kiều

- Các hình ảnh thiên nhiên được nhìn qua đôi mắt tâm trạng của con người, nên cũng mang nặng tâm trạng:

Trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, mở đầu cuộc du xuân thì thiên nhiên tuythoáng một chút tiếc nuối vì “Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi”, nhưng cảnhvật hiện lên vẫn tươi xanh, mơn mởn, tinh khôi, thấm đẫm tâm trạng háo hức củanhững người trẻ trong buổi du xuân “Dập dìu tài tử giai nhân/Ngựa xe như nước áoquần như nêm Đến khi tàn cuộc, thì thiên nhiên đượm buồn Thời gian buổi chiều tàman mác một nỗi lưu luyến Hình ảnh thiên nhiên hiện lên nhỏ bé, trầm trầm: “ngọntiểu khê”, “dòng nước uốn quanh”, “nhịp cầu nho nhỏ”

*Kiều ở lầu Ngưng Bích

-Bỏ qua những quy luật bình thường của đời sống để làm nổi bật lên quy luật của tình cảm:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”

Trang 8

Cảnh “non xa – trăng gần”, đó là sự bố trí cảnh vật không theo quy luật phốicảnh, nhưng theo điểm nhìn của nhân vật Bởi vì trong cái nhìn của nhân vật vào banđêm, trăng sáng hơn nổi bật hơn, núi nhạt nhòa hơn, nên dễ có cảm tưởng trăng gầnhơn núi Nhưng quan trọng hơn cả là trong hoàn cảnh bị giam cầm, cảnh núi non mênhmông hoang tàn khiến Kiều cảm thấy cô đơn, lạc lõng, chỉ có ánh trăng là người bầubạn, nên mới có cảm giác “vẻ non xa tấm trăng gần”.

- Xây dựng những bức tranh tâm cảnh đa dạng, nhiều cung bậc, tăng tiến như những đợt sóng tràn, hình ảnh thiên nhiên trở thành ẩn dụ cho thân phận con người, cho tâm trạng con người:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

của bậc đại thi hào dân tộc Từ đó chúng ta thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của

Truyện Kiều

Nguyễn Du đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn nhiều thủ pháp nghệ thuật

trong việc miêu tả thiên nhiên: miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, miêu tả chấm phá, nghệ thuật lấyđiểm tả diện…

- Đặc sắc nhất chính là nghệ thuật sử dụng ngôn từ vào loại bậc thầy của

Nguyễn Du: sử dụng một cách đắc địa ngôn ngữ dân tộc với những từ láy, những từgợi tả; sử dụng tinh tế từ Hán Việt để tạo sắc thái trang trọng, hoài cổ, bàng bạc Đặcbiệt, Nguyễn Du rất tài tình trong việc vận dụng thể thơ lục bát, thể thơ truyền thốngcủa dân tộc để diễn tả sự vận động của thiên nhiên, cảnh vật “Nguyễn Du viết Kiềuđất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên)

Nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du qua các đoạn trích trong Truyện Kiều

Trang 9

1 Những nét sáng tạo của Nguyễn Du trong TK đặc biệt là nghệ thuật miêu tả;

2 Phân tích được thành công của ND về nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật tả nhânvật, nghệ thuật tả tâm trạng qua các đoạn trích (điểm chung và nét riêng của từng đoạntrích; có sự đối chiếu với các đoạn trích có nội dung, nghệ thuật tương tự trong tácphẩm) -> Chú ý giúp học trò biết sử dụng các đoạn trích và đặc biệt những thành công về nghệ thuật để phục vụ cho việc chứng minh đề LLVH liên quan đến quá trình sáng tạo của nhà văn

I SÁNG TẠO CỦA TRUYỆN KIỀU SO VỚI KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

Trong quá trình tiếp xúc với một nền văn học lớn như văn học Trung Quốc, sựvay mượn, tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài là một hiện tượng tự nhiên và tất yếu.Nhờ đó, các nhà văn Việt Nam đã có điều kiện tiếp xúc “với nguồn chất liệu, ngôn từ,thể loại, nguồn chương học… của văn học Trung Quốc Điều này cũng giống như nềnvăn học châu Âu chịu ảnh hưởng của văn học Hi Lạp, La Mã cổ xưa Tuy nhiên, điềuđáng nói ở đây là sự tiếp thu có sáng tạo vượt bậc, tạo thành tác phẩm có tầm cỡ thếgiới Sự sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Xiêu được thể hiện ở hai phương diệnnội dung và nghệ thuật

1.Về nội dung,

từ câu chuyện tình Kim — Vân – Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đãtạo nên một “Khúc ca mới đứt ruột” (Đoạn trường tân thanh), nhấn vào nỗi đau bạcmệnh và gửi gắm những xúc cảm về nhân sinh của nhà thơ trước những điều trôngthấy trong thời đại mình Chẳng hạn, trong Kim Vân Kiều truyện, chân dung Thúy Vân

— Thúy Kiều được kể dưới mắt Kim Trọng chỉ nói vẻ đẹp thiếu nữ Nhưng ở TruyệnKiêu, nhan sắc của hai chị em được Nguyễn Du được kể từ đầu, và mang ý niệm về sốphận:

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu do.

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Hay trong cảnh chơi xuân, tác giả Kim Vân Kiều truyện để hai chị e về trướccòn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đề Kim Trọng về trước, cho hai chị em lưu luyếnnhìn theo:

Bóng tà như giục cơn buồn,

Trang 10

Người đà lên ngựa, khách còn ghé theo.

Dưới câu nước chảy trong veo,

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

2 Cùng với sự sáng tạo về nội dung là những sáng tạo về nghệ thuật

Lược bỏ các tình tiết về mưu mẹo, về báo oán… trong truyện của Thanh TâmTài Nhân, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều bằng thể lục bát truyền thống, với một ngônngữ trau chuốt tỉnh vi, chính xác đến trình độ cổ điển trong một truyện thơ Nôm.Chúng ta vẫn còn trầm trồ thán phục trước bức bích họa bằng ngôn từ của Tố Như vềmùa xuân:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Chúng ta vẫn phải nghiêng mình kính nể trước những ngôn từ sắc sảo, tài tìnhcủa cụ Tiên Điền khi người lột tả bản chất con buôn của Mã Giám Sinh:

Đến đo cân sắc cân tài,

Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.

Và hơn hết, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tập trung thể hiện nội tâm nhân vật một cách tài tình Dễ dàng nhận thấy trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh

Tâm Tài Nhân ít tả cảnh, tả tình còn ngược lại, trong Truyện Kiêu, Nguyễn Du lại rấtchú trọng tả cảnh, tả tình… Nội tâm của nhân vật Thúy Kiều được Nguyễn Du thể hiệnrất phong phú, đa dạng, có khi được biểu hiện trực tiếp, có khi lại được bộc lộ gián tiếpqua bút pháp tả cảnh ngụ tình Trong Kiều ở lầu Ngưng Bích, cảnh chiều tà bên bờbiển, cánh buồm thấp thoáng, cánh hoa trôi man mác, nội cỏ rầu rầu, tiếng sóng ẩm ẩmthể hiện nỗi cô đơn, thân phận nổi nênh vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớngười yêu, cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ của Thúy Kiều Cảnh được Thúy Kiềunhìn từ xa đến gần, từ nhạt đến đậm, từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mônglung đến lo âu, kinh sợ Ngọn gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi làcảnh tưởng tượng hãi hùng báo trước số phận dông bão của nàng

Những điểm khác biệt của Truyện Kiều so với Kim Vân Kiều truyện đã thể hiệnmột ý thức vay mượn, tiếp thu sáng tạo đồng thời khẳng định tấm lòng và tài năng củaNguyễn Du Đó cũng chính là chìa khóa mang đến thành công tột bậc của tác phẩmnày

II Những nét sáng tạo của Nguyễn Du trong TK đặc biệt là nghệ thuật miêu tả;

1.Miêu tả nhân vật

a, Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật:

Trang 11

* Thủ pháp ước lệ tượng trưng: Đây là thủ pháp miêu tả được sử dụng trong văn

học Trung đại, lấy vẻ đẹp thiên nhiên tả vẻ đẹp con người Thiên nhiên là trung tâm, làchuẩn mực của cái đẹp

- Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”: Giới thiệu chị em Thúy Kiều: “đầu lònghai ả tố nga”, “mai cốt cách tuyết tinh thần” – mĩ từ ca ngợi 2 cô gái đẹp người đẹpnết

+ Tả Thúy Vân: dùng hình ảnh mây, tuyết, hoa, ngọc để nói về vẻ đẹp trongsáng, hiền hậu, đoan trang của Vân

+ Tả Thúy Kiều: dùng hình ảnh “làn thu thủy, nét xuân sơn” để tả vẻ đẹp đôimắt của Kiều, ca ngợi tài năng của Kiều “vốn tính trời”, “nghề riêng ăn đứt hồ cầmmột chương”

- Trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”, tác giả dùng hình ảnh hoa để tảKiều: “lệ hoa mấy hàng”, “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”, vừa tả người đẹp, vừathể hiện nỗi tủi nhục khi phải bán mình chuộc cha

- Trong đoạn trích Cảnh ngày xuân”: Tả nam thanh nữ tú đi hội đạp thanh là

“yến anh”, “tài tử”, “giai nhân”, vẻ đẹp của con người hòa với cảnh sắc thiên nhiên,khiến thiên nhiên thêm sinh động

⇒ Nhận xét:

- Về ngôn ngữ: tác giả sử dụng ngôn từ trang trọng, mĩ miều, hình ảnh tươi đẹp,trong sáng

- Hình ảnh: lựa chọn những hình ảnh đẹp trong tự nhiên

- Qua miêu tả thấy được tuyến nhân vật chính diện, cho thấy tình cảm yêu mến,ngưỡng mộ của tác giả đối với nhân vật

- Cho thấy phẩm chất con người qua một chuỗi hành động:

+ Không có tôn ti trật tự, con người không có giáo dục: “Trước thầy sau tớ laoxao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”

+ Bản chất chợ búa, con buôn: “Đắn đo cân sắc cân tài” bắt Kiều đàn hát, làmthơ để xem tài, sau khi ưng ý mới “tùy cơ dặt dìu” hỏi giá, tiếp tục “Cò kè bớt mộtthêm hai”, coi Kiều như một món hàng và trả giá bốn trăm lượng

⇒ Nhận xét:

Ngày đăng: 20/01/2022, 09:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w