1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

189 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Đào Tạo Cao Cấp Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ Dân Tộc Thiểu Số Tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hiện Nay
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 544,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

Trang 1

Quốc I, II, III: “Đào tạo những cán bộ theo cácchức danh: bí thư, phó bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân, các trưởng ban của Đảng ở huyện, quận và thị xã,

bí thư đảng ủy các xí nghiệp quốc doanh, các bệnh viện, trường học và các đảng bộ tương đương, ngoài diện trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc phụ trách Thành lập hai hệ đặc biệt ở hai trường Nguyễn Ái Quốc I và Nguyễn Ái quốc III, chuyêntrách đào tạo,bồidưỡng cánbộlãnhđạocấphuyện thuộc dântộcthiểusố.Ban DântộcTrungươnggiúpđỡcáctrườnglàmtròn nhiệmvụnày”[10]đãđánhdấumộtbước ngoặc quan trọngthểhiệnsựquantâm

củaĐảng đối vớicôngtácđào tạo,bồidưỡng cánbộ, đặcbiệtlàcánbộDTTS

Trongbốicảnhnềnkinhtếtrithứcvàhộinhậpquốctếhiện nay, bêncạnh nhữngthờicơnhưng cũng tiềmẩnkhôngítnhữngnguycơ, thách thứcđãảnhhưởng lớnđếnquátrìnhphát triển kinh tế,xãhội vàổnđịnh quốc phònganninh cácđịaphươngvùng dântộcmiềnnúi Vấn đề nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộDTTS nhằmphụcvụchosựnghiệp phát triểnkinh tế,xãhội vùng dântộcmiềnnúicóýnghĩavôcùng quan trọng.Điều này đồngnghĩa vớiviệccán bộDTTSphảicótrìnhđộhọc vấncơbản, hiện đại,amhiểuchuyênmôn nghiệpvụ,đồng thờiphảinắm vững tri thứclýluậnvàcókinh nghiệmthực tiễn trong lãnh đạo, quảnlý

chínhtrị(LLCT)trởthànhmộttrongnhữngyêucầucấpthiếtđểhọcóthểnângcaonhậnthức

Trang 2

chính trị, khắc phục lốitưduykinhnghiệm,biếtkếthừa, chọnlọcvàpháttriểnnhữngcơsởkhoa họcvàothựctiễn,từng bước đưachủtrương, đườnglối củaĐảng,chính sách,phápluậtcủaNhà nướcđivào đời sống củanhân dân.

Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ DTTS còn bộc lộ nhiều hạn chế, bấtcập chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của người cán bộ lãnh đạo, quản lýtrong tình hình mới Một số lượng không nhỏ cán bộ DTTS chưa qua đào tạo,bồi dưỡng LLCT, phần lớn trong số họ, bên cạnh sự hạn chế về tư duy lýluận, còn hạn chế về năng lực hoạt động thực tiễn (NLHĐTT) Điều này đãđược Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX

ngày 12 tháng 3 năm 2003 chỉ rõ: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quảnlý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm”[15] Nhận định trên của Đảng cách đây đã hơn

một thập niên, tuy nhiên cách nhìn nhận, đánh giá trên vẫn là mối quan tâmcủa các cấp, các ngành khi thực tế vẫn chưa có giải pháp tổ chức thực hiệnmột cách thấu đáo trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ DTTS, trong đó

có một phần trách nhiệm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Họcviện CTQG Hồ ChíMinh)

Học việnCTQGHồ ChíMinhlàtrung tâmđàotạo, bồidưỡngcánbộlãnhđạo,quảnlýcủaĐảngvàNhàNướcvàcác

đoànthểchínhtrị,xãhội,trongđócónhiệmvụđàotạo,bồidưỡngLLCTchođộingũcánbộDTTS Nhiềuthếhệcánbộđãđược đàotạovàtrangbịmộtcáchhệthốnglý luậncơ bảncủa chủnghĩa Mác-Lênin,tưtưởngHồ ChíMinh, cácchủtrương, chính sáchcủaĐảng,pháp luậtcủaNhà nước,giúphọcó thể vận dụngmộtcáchlinhhoạt, sángtạovàođiềukiệnhoàncảnhthựctếtrongtừnglĩnhvựccôngtác

Tuy nhiên, công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS vẫncòn nhiều bất cập về qui mô và chất lượng đào tạo: dự báo, kế hoạch đào tạo cán

bộ chưa mang tầm chiến lược; nội dung chương trình chưa thật sự phù hợp vớiđối tượng về mặt bằng trình độ, nhận thức, yếu tố tâm lý, phong tục,

Trang 3

tập quán; đội ngũ giảng viên (GV) chưa được cập nhật thường xuyên về nộidung, phương pháp giảng dạy; cơ sở vật chất- kỹ thuật (CSVC-KT) còn thiếuđồng bộ; một bộ phận học viên (HV) chưa tìm ra phương pháp học tập và nghiêncứu tốt nhất Nguyên nhân củanhững bấtcậpnóitrênmộtphầndocôngtácquảnlýđàotạocòn nhiềuhạnchế: quảnlýchương trìnhđàotạochưađisâuvàođốitượngđàotạolà cán bộDTTS;kếhoạchđào tạo cònbịđộng;độingũGV cótrìnhđộchuyênmôncaonhưng nghiệpvụ sưphạmchưađápứngđược yêucầu; công tácquảnlý HV còn xem nhẹ; sự phốihợp quảnlýđào tạogiữacác cấpthẩm quyền chưađồng bộ.Những nguyênnhânnóitrên đãảnhhưởnglớnđếnchấtlượng đào tạocán bộDTTS nhằmtăngcườngNLHĐTTtrongbốicảnh hiệnnay.

Xuất pháttừmụcđíchcó tínhcấp thiếtđó,tôichọn nghiên

cứuđềtài:Quảnlýđào tạoCaocấplýluậnchínhtrịchocánbộdântộc thiểusốtại HọcviệnChínhtrịquốcgia HồChí Minh trongbốicảnh hiệnnay.

2 Mục đích nghiên cứu của luậnán

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất những giảipháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm nâng cao NLHĐTTcho đội ngũ này tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luậnán

-Tổng quan vấn đề nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho

Trang 4

4 Khách thể, đối tượng nghiêncứu

- Khách thể nghiên cứu:Công tác đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ

DTTS tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh

- Đốitượng nghiên cứu:Quản lý công tác đào tạo Cao cấp LLCT cho

cán bộ DTTS tại Học viện CTQG Hồ ChíMinh

5 Giả thuyết khoahọc

Cán bộ DTTS có vai trò quan trọng trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý

ở địa phương vùng dân tộc miền núi Họ phải được thường xuyên đào tạo, bồidưỡng nâng cao năng lực, đặc biệt là NLHĐTT để hoàn thành tốt vị trí công tácđượcgiao

Đào tạo Cao cấp LLCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tăng cườngNLHĐTT cho cán bộ DTTS Trong những năm qua, mặc dù công tác quản lýđào tạo cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiênvẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa thật sự đáp ứng yêu cầu về nâng caonăng lực cho đội ngũ cán bộ DTTS góp phần giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụchính trị được giao

Nếuđềxuất đượcmộthệgiải pháp quản lýđào tạoCao cấpLLCTchocánbộDTTSnhằm tăngcườngNLHĐTTvàđược thực hiện thống nhất theomộtquátrìnhtừkhâuphát triển chương trìnhđàotạo; kếhoạchhóacôngtácHV;pháttriểnđộingũGVtheo yêu cầu chuẩnhóa độingũ; hoàn thiệncơ sởvật chấtvàcảitiếncơchếphối hợpquản lý, đồng thời hiệnthựchóa các giải phápnày vàothực

cườngNLHĐTTchocánbộDTTS trongbốicảnh hiện nay

6 Phạm vi nghiêncứu

- Về nội dung:Chủ yếu giới hạn ở các nội dung quản lý đào tạo Cao cấp

LLCT cho cán bộ DTTS khu vực Miền Trung - TâyNguyên

- Về không gian:Nghiên cứu tổng quan về đào tạo LLCT cho cán bộ

DTTSt r o n g n ư ớ c v à q u ố c t ế ; n g h i ê n c ứ u , đ á n h g i á , k h ả o s á t s â u c ô n g

t á c

Trang 5

quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện Chính trị khu vựcIII, trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

- Về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý đào tạo chương trình Caocấp LLCT cho cán bộ DTTS từ năm 2007 đến năm 2014 Phương hướng, giảipháp đến năm2020

7 Phương pháp nghiêncứu

a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Luận án dựa trên cơ sở hệ thống các quan điểm khoa học của Đảng Cộng sảnViệt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cánbộ

Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các tư liệu, đặc biệt là các văn kiện,văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các tài liệu và các côngtrình nghiên cứu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến luận án đượcxuất bản hoặc công bố trên các tạp chí, sách, kỷ yếu hội thảo để xác định cơ sở

lý luận cho vấn đề nghiêncứu

b.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Luận án vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành vàchuyên ngành, trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp:

- Phương pháp tổng kết thực tiễn:Tổng hợp các số liệu về công tác

quản lý đào tạo cán bộ DTTS qua quá trình nghiên cứu thu thập được từ các

hồ sơ lưu, báo cáo tổng kết, đánh giá công tác quản lý đào tạo cán bộ DTTSlàm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo cho đối tượngnày

Trang 6

+ Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo nội dung nghiên cứu.

Mục đích của phương pháp là thu thập số liệu để đánh giá thực trạng công tácquản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS làm cơ sở đề xuất các giảipháp quản lý đào tạo phù hợp đối với đối tượng này tại Học viện CTQG Hồ ChíMinh

- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá của các

nhà khoa học, các nhà quản lý, nhà giáo có kinh nghiệm trong quản lý đào tạo

- Phương pháp thống kê kinh tế - xã hội: Sử dụng phương pháp này mục đích để

xử lý số liệu kết quả điều tra; phân tích vấn đề nghiên cứu; đánh giá độ tin cậycủa số liệu điềutra

8 Những luận điểm bảovệ

- Cán bộ DTTS là nguồn lực quan trọng tham gia lãnh đạo, quản lýtrong các cơ quan, tổ chức chính quyền các cấp; là lực lượng góp phần quyếtđịnh sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và ổn định an ninh quốc phòng vùngdân tộc miền núi trong bối cảnh hiệnnay

- Đào tạo một cách hệ thống nhằm tăng cường NLHĐTT cho đội ngũcán bộ DTTS là nhiệm vụ chính trị mang tầm chiến lược của Đảng và Nhànước, trong đó có vai trò trách nhiệm của hệ thống Học viện chínhtrị

- Để cán bộ DTTS đảm đương được nhiệm vụ do Đảng và Nhà nướcgiao phó trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc biệt chú trọng công tác quản

lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộDTTS

- Quản lý quá trình đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằmnâng cao NLHĐTT phải được quán triệtchặt chẽ,đồng bộ từ khâuphát triểnchương trình đào tạo,kếhoạchhóacôngtácHV, phát triển độingũGVtheoyêu

Trang 7

cầu chuẩn hóa đội ngũ, hoàn thiện cơ sở vật chất và xây dựng cơ chế phối hợp quản lý một cách hệ thống.

9 Những đóng góp mới của luậnán

- Luận án làm rõ thêm nội hàm của một số khái niệm: năng lực,

- Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lýđào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộDTTS

10 Kết cấu của luậnán

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án kết cấu làm 3 chương

Chương 1:Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ

dân tộc thiểu số tại các Học viện chính trị và kinh nghiệm quốc tế

Chương 2:Thực trạng quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân

tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh

Chương 3:Giải pháp tăng cường quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho

cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bốicảnh hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1 CƠSỞLÝLUẬNVỀQUẢNLÝĐÀOTẠOCAOCẤPLÝLUẬNCHÍ

NHTRỊCHO CÁNBỘDÂN TỘC THIỂUSỐTẠICÁCHỌCVIỆNCHÍNHTRỊVÀKINHNGHIỆMQ

UỐCTẾ1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấnđề

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là vấn đề được hầu hết các nước trên thếgiới đặc biệt quan tâm Đối với Việt Nam, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ

đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng đặcbiệt quan tâm và khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[54, tr.309] và

“huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[54, tr.309] Quan điểm củaNgười là những định hướng quan trọng góp phần thực hiện thành công nhiệm vụxây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ qua các thời kỳ cách mạng

Tác giả Đức Vượng đã tổng hợp khá rõ nét các quan điểm của Người về côngtác đào tạo, huấn luyện cán bộ qua các công trình“HồChí Minh đào tạo cán bộ vàtrọng dụng nhân tài”,“HồChí Minh về vấn đề đào tạo cán bộ” Theo Bác, trướctiên vai trò quan trọng của công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ đó chính là mụctiêu và phương châm đào tạo cán bộ lý luận phải dám nghĩ, dám làm: “Học lýluận không phải để nói mép, nhưng biết lý luậnmàkhông thực hành là lý luậnsuông Học là để áp dụng vào việc làm Làm mà không có lý luận thì không khác

gì đimòtrong đêmtối,vừa chậm chạp vừa hay vấp váp Có lý luận thì mới hiểuđược mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm chođúng”[55, tr.357] Cán bộ được huấn luyện sau khi học “họ có thể tự mình tìm raphương hướng chính trị, có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nênngười tổ chức và lãnh đạo”[82,tr.55] Kế hoạchmởlớp phải hợp lý, phân cấp đàotạo phải phù hợp “mở lớp nào cho ra lớp ấy; lựa chọn người dạy và người họccho cẩn thận; đừngmởlớp lung tung” [55, tr.363] Người huấn luyện phải thực sự

sâu,cótinhthầnphấnđấukhôngngừngtronghọctậpđểphụcvụsựnghiệp

Trang 9

giáo dục “người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tưtưởng, đạo đức, lề lối làm việc” [56 tr.356] và “phải học thêm mãi thì mới làmđược công việc huấn luyện của mình người huấn luyện nào tự cho là mình biết

đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất”[55, tr.356] Đối tượng huấn luyện trước hết phải

là cán bộ, nhất là cán bộ có chức, có quyền, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng,của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở địa phương Nội dung huấn luyện baohàm trên tất cả các mặt về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và rèn luyện

tư cách phẩm chất đạo đức, chú trọng đến huấn luyện lý luận chính trị về thếgiới quan, nhân sinh quan đúng đắnmàtiêu biểu đó là chủ nghĩa Mác - Lênin; nộidung chương trình đào tạo phải thiết thực, ngắn ngọn, phù hợp với nhận thức củacán bộ DTTS; phương pháp đào tạo luôn luôn chú ý đến lý luận liên hệ với thựctiễn “thực tiễnmàkhông có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễnmùquáng Lýluậnmàkhông liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[57, tr.73] Đối với cán bộDTTS, phương pháp đào tạo phải đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,không rập khuôn, máy móc, các dân tộc khác nhau, phương pháp đào tạo cũngkhác nhau “một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền, huấnluyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác”[57,tr.303]

Những quan điểm trên của Bác đã trở thành những bài học vô cùng giá trị, làmnền tảng tư tưởng giúp Đảng vàNhànước ta trên con đường xây dựng và pháttriển đội ngũ cán bộ phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của đất nước Trongnhững năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặcbiệt về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS đã được các nhà nghiên cứu đề cập mộtcách sâu sắc, có thể tiếp cận vấn đề này dưới các góc độ khác nhaunhư:

+ Nghiên cứuvề quản lý đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cán bộdân tộc thiểu số:Đây là mảng nghiên cứu thu hút nhiều nhà khoa học tham

gia nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của cán bộ DTTS đối với quá trình phát triểnkinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi Công tác đào tạo, bồi dưỡng đãt á c

Trang 10

động không nhỏ đến phát triển nguồn nhân lực cán bộ DTTS, một số các côngtrình nghiên cứu tiêu biểu như:

Cuốn sách“Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc ở nước ta trongthời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Luận cứ và giải pháp”

[69] của các tác giả Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng đã khẳng địnhquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc, đặc biệt đối với cán

bộ DTTS qua từng giai đoạn lịch sử Đó là những nội dung cơ bản làm luận cứkhoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta trong thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH Công trình đánh giá sâu sắc thực trạng đội ngũ cán bộ DTTStheo các đối tượng khác nhau; phân tích và luận giải vấn đề phát triển đội ngũcán bộ DTTS trong giai đoạn hiện nay phải gắn với thực tiễn lịch sử cách mạngcủa đất nước, đặc biệt là gắn với yêu cầupháttriển kinh tế - xã hội của vùng,miền, địa phương khu vực miền núi Các giải pháp cơ bản chú trọng các khâutạo nguồn, qui hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ; phát huy vai trò của hệthống các Trường chính trị trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; qui hoạch phát triển

và hoàn thiện hệ thống chính trị ở miền núi, vùng dân tộc và đổi mới chính sáchgiáo dục - đào tạo đối với cán bộ DTTS trong giai đoạn hiệnnay

Cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốtcấp huyện người các dân tộc Tây Nguyên” [59] do Lê Hữu Nghĩa chủ biên.

Công trình nghiên cứu sâu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ DTTS khuvực Tây Nguyên trên cơ sở phân tích thực trạng, rút ra một số kinh nghiệm và đềxuất các giải pháp, trong đó có đề cập đến giải pháp tăng cường công tác đàotạo, bồi dưỡng cán bộ như: cụ thể hóa mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu củađối tượng và thực tiễn tình hình ở Tây Nguyên; đổi mới nội dung, phương thứcđào tạo đảm bảo tính hệ thống, cơ bản, hiện đại và thiết thực giữa tri thức lý luận

và tri thức kinh nghiệm, giữa lý luận và thực hành;

Trang 11

tăng cường các điều kiện đảm bảo cho quá trình đào tạo; hoàn thiện cơ chế phốihợp và thực hiện chế độ chính sách ưu tiên đối với cán bộ DTTS.

Cuốn sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc nước ta hiện nay”[68] của tác giả Lô Quốc Toản đã phản ánh những thành

tựu của phát triển nguồn cán bộ DTTS thông qua việc khôi phục và phát triểncác trường dân tộc phổ thông nội trú, thực hiện chế độ cử tuyển học sinh DTTSvào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Thực trạng công tác phát triểnnguồn cán bộ này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập về nhận thức, cơ chế, chínhsách cũng như đầu tư cho công tác đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũcán bộ DTTS Giải pháp tác giả đề ra là: tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thốngcác trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo,nâng cao chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo dự bị đại học, hệ cử tuyểncủa các trường đại học, cao đẳng ở miền núi phía Bắc; quản lý chặt chẽ nguồncán bộ DTTS từ cơ sở và làm tốt công tác qui hoạch đội ngũ này ở tất cả các cấp,các ngành, lĩnh vực, kết hợp với phát hiện, bồi dưỡng nhân tài; thực hiện phâncấp phối hợp giữa các cấp, các ngành để phát triển đội ngũ cán bộ DTTS; xâydựng cơ chế chính sách, pháp luật, đầu tư tài chính nhằm từng bước xây dựng vàhoàn thiện đội ngũ cán bộ DTTS ở các cấp, các ngành đủ phẩm chất, năng lực vàtrình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển các tỉnh miền núiphía Bắc nước ta

Mộtsốcông trình nghiên cứu khác:“Mộtsốvấnđềvềphát triển nguồnnhân lựcdântộcthiểusốchosựnghiệp đẩy mạnh công nghiệphóa,hiệnđại hóaởViệt Nam”[70]củaNguyễnĐăng Thành;“Nângcaochất lượng nguồnnhân lựcdântộcthiểusố ởcác tỉnhmiềnnúi phíaBắcvàTây Nguyên hiện nay”[29]của

VũĐình Hòe-Đoàn Minh Huấn nghiên cứusâunguồn nhân lựcDTTSởnướctatrêncơsởphân tích kháiniệm,lýthuyếtvềnguồn nhân lựcvàphát

nghiệmcủanướcngoàivềchínhsáchđốivới người bảnđịavàDTTS;quá trình

sáchcủaĐảngv à Nhànướcv ề pháttriểnnguồnnhânlựcDTTSt ừ khithựchiện

Trang 12

đườnglối đổimớiđếnnay;đềxuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng nguồnnhânlựccánbộDTTSởnhữngđịa bànmiềnnúiđông đồngbào dân tộcsinhsống,đặcbiệtởcác tỉnhmiềnnúi phíaBắcvàTâyNguyên.

+Nghiên cứuvềquảnlýđào tạo,bồidưỡng LLCTcho cánbộDTTS:Đào

nghiên cứu sâu về vấn đề đào tạo cán bộ chuyên trách cấp xã ở Tây Bắc (hầu hết

là cán bộ DTTS) trên cơ sở đánh giá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lựccông tác của đội ngũ này; nguyên nhân dẫn đến những bất cập của công tác lãnhđạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp cơ sở các tỉnh Tây Bắc Tác giả đã đềxuất một số giải pháp cơ bản như: đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình,phương pháp cho phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn theo vùng, miền;gắn công tác đào tạo với công tác qui hoạch cán bộ của địa phương; tăng cườngbồi dưỡng kiến thức cho GV nhằm phục vụ tốt cho công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ DTTS Công trình có giá trị tham khảo nhất định trong vấn đề xác địnhyêu cầu và vai tròcủacông tác đào tạo LLCT đối với cán bộ nói chung và cán bộDTTS ở từng khu vực miền núi nóiriêng

Tổng quan đề tài cấp Bộ “Những căn cứ lý luận và thực tiễn xác địnhnội dung, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở miền núi đáp ứng yêu cầu của cách mạng tronggiai đoạn hiện nay”[79] của Trần Ngọc Uẩn

nhấn mạnh việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo cho cán bộ chủ chốt

cơ sở miền núi phải phù hợp với đối tượng đào tạo và sát với thực tiễn miền

núi Bổ sung nghiên cứu trên, tác giả có công trình “Phương thức đào tạo cán

bộ ởcác trường chính trị tỉnh, thành phố trong thời kỳ mới”[80] nghiên cứu

sâu về vị trí, vai trò, đối tượng đào tạo và chương trình đào tạo cán bộ cơ sởhiệnnay

Trang 13

theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), trong đó nổi bật là công tác

tổ chức đào tạo thí điểm ở một số Trường chính trị đối với “chương trìnhđào tạo cán bộ lãnh đạo cơ sở miền núi”, “chương trình đào tạo cán bộ lãnhđạo cấp cơ

sở ở Tây Nguyên” Từ những hạn chế về chương trình đào tạo; đội ngũ GV; cơ

sở vật chất - kỹ thuật; chế độ chính sách, tác giả đề xuất các giải pháp: thực hiện

“đào tạo cơ bản”, “bồi dưỡng theo chức danh” cho cán bộ cơ sở; rà soát hệ

thống chương trình đào tạo tiến tới xây dựng và ban hành hệ thống chương trìnhđào tạo thống nhất; điều chỉnh hình thức đào tạo và đổi mới phương pháp giảngdạy; tăng cường công tác quản lý dạy và học; bồi dưỡng nâng cao trình độ, nănglực đội ngũ GV; tăng cường đầu tư nhân lực, vật lực phục vụ cho công tác đàotạo

Cuốn sách “Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnhđạo chính trị ở miền Trung và Tây Nguyên”[63] của tập thể đội ngũ giảng

viên Phân viện Đà Nẵng, đề cập đến thực trạng và đề xuất các giải pháp quản

lý nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộlãnh đạo, quản lý các tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đặc biệt là đàotạo cán bộ cấp huyện ngườiDTTS

Đề tài cấp Bộ “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số Tây Nguyên” [52] của tác giả Nguyễn

Văn Lý, từ bản chất của tư duy lý luận và tính tất yếu cần phải nâng cao năng lực

tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người DTTS ởTây Nguyên, tác giả nhấn mạnh tư duy lý luận sẽ là cơ sở giúp cho cán bộ DTTSnhận thức và vận dụng một cách sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước và sẽ tăng cường NLHĐTT cho đội ngũ này

ở địa phương Công trình góp phần khẳng định tầm quan trọng của công tác đàotạo LLCT cho cán bộ DTTS và giành một phần nhấn mạnh đến vai trò của Họcviện chính trị là phải quan tâm

Trang 14

đếncôngtácđàotạo, bồidưỡngđốitượngnày nhằm nâng caonănglựctư duy lýluậntrong giai đoạn hiện nay.

+ Nghiên cứu về quản lý đào tạo trong hệ thống Học viện chính trị:Xét

theo nghĩa rộng, đối tượng đào tạo ở các Học viện chính trị là cán bộ lãnhđạo, quản lý đang công tác trong các tổ chức bộ máy chính quyền các cấp,trong đó bao gồm cả cán bộ DTTS Nghiên cứu về quản lý đào tạo cán bộ ởcác cơ sở đào tạo nói trên có côngtrình:

Luận án “Quản lý hoạt động đào tạo cán bộ lãnh đạo ở Học viện Chínhtrị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”[81] của Nguyễn

-Thị Hồng Vân đã đề cập và phân tích khá sâu sắc về quản lý hoạt động đào tạo ởHọc viện CTQG Hồ Chí Minh, một cơ sở đào tạo mang tính đặc thù trong hệthống chính trị Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động đào tạo tácgiả đưa ra định hướng và quan điểm đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở Họcviện trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên xét tổng thể về mối quan hệ đào tạo cũngnhư chức năng, nhiệm vụ của Học viện, tác giả chưa đề cập đến đối tượng đàotạo là cán bộ DTTS, những bất cập trong quản lý đào tạo đối tượng này đang làvấn đề cần được quantâmđối với các cơ sở đào tạo trong hệ thống Học việnchínhtrị

Đềtài cấpBộ“Nângcaochất lượng,hiệuquảcác mặtcôngtác đào tạo bồidưỡngcánbộcủa Học việnChínhtrị-HànhchínhquốcgiaHồ ChíMinh(2010- 2020)”[74]của Tạ Ngọc Tấn đã tập trung làm rõ cơ sở phương pháp luận về

các vấn đề liên quan đến việc đánh giá và đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị trong xu thế đổi mới của đấtnước; đề xuất hệ thống các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng côngtác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phân cấp đào tạo

Ngoài ra, còn các công trình nghiên cứu về chất lượng và hiệu quả công

tác đào tạo cán bộ ở hệ thống Học viện như: “Qui mô và hình thức đào tạo,bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện”[76] của Phí Ngọc Tiếp;

"Đàotạo,bồidưỡngcánbộquảnlýởHọcviệnChínhtrịQuốcgiaHồChí

Trang 15

Minh - Thực trạng và giải pháp phát triển”[53] do Hà Lan làm chủ nhiệm (2004-2006); “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo ở Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh- vấn đề và kinh nghiệm”[48] của Vũ Nhật Khải; “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[67] của Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm; “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống trường chính trị, trường đoàn thể ở Trung ương hiện nay”[77] của Phạm Quang Thọ, tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu đề

cập đến việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ nói chung trong hệ thốngHọc viện chưa đề cập sâu chất lượng đào tạo cán bộ DTTS, một đối tượngđang được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và các chính quyền địaphương vùng miềnnúi

Trong xu thế phát triển, nhiều nước trên thế giới ngày càng nhận thức được rằng,con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước, nếuquan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng con người đúng hướng sẽtác động mạnhmẽđến sự phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao hiệu xuất công tác

và quản lý nhà nước, đồng thời đảm bảo cho việckhaiphánănglựctrong tình hình

thế giới ngày càng đi vào cạnh tranh gay gắt Qua nghiên cứu cho thấy, vấn đềquản lý đào tạo cán bộ, công chức phục vụ cho công tác quản lý điều hành bộmáy chính quyền đã được các nước đặc biệt quan tâm Từng nước có chiến lượcquản lý và phát triển nâng cao năng lực con người theo những phương thức khácnhau Trung Quốc là một nước đangphát triển,mụctiêuđàotạocánbộcủaTrungQuốc trongthế kỷXXIlà xâydựngđội ngũcánbộkhôngchỉcótốchất cao,có trithức,amhiểuthực tiễn,có chuyên mônsâu,màcòntrung thànhvớichủnghĩa Mác, kiêntrì conđườngXHCNmang màusắcTrung Quốc,biếtquảnlýĐảng,quảnlýNhà nước, quảnl ý quân đội Chínhvì lẽđó, hầuhếtcánbộ,công chức đượcđàotạocơbản,đặcbiệt phải qua cáckhóa

trườngĐảng.ChươngtrìnhđàotạocánbộcủaTrungQuốctậptrungcảicáchtrênbốn

Trang 16

mặt:tăng cườngcơsở lýluậncủachủ nghĩa Mác;mởrộng “tầmnhìn thếgiới”;bồidưỡng“tưduy chiếnlược”vàtăng cườngtudưỡngtínhĐảng.

Nhật Bản, Singapo là một trong số các nước đặc biệt quan tâm đầu tư công tácđào tạo cán bộ, công chức nhà nước Việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng và đào tạo,bồi dưỡng cán bộ được tiến hành rất chặt chẽ theo từng vị trí và lĩnh vực côngtác khác nhau Các khóa đào tạo cán bộ, công chức trung bình từ 3 - 4 tháng.Chương trìnhđược cải tiếnvàcập nhật kiến thức liêntụctheo yêu cầucủatừngthờikỳphát triểnkinhtế - xãhội của đất nướcvàtiếp cận những kinh nghiệmcủathếgiới;chútrọng nâng cao năng lựctưduysángtạovàtầm nhìnchiến lược trongxuthếphát triểncủa thế giới,tăngcườngcáckỹnăng lãnh đạo, quản lýchocôngchứcnhànước Đốivới cácchương trình dành cho quan chức cấp caocủaNhànước,chútrọng tăng cường năng lựctổchức thực hiện, năng lựchuyđộngvà sửdụng cóhiệuquảcác nguồn lực nhằm thúc đẩysựphát triểncủa đấtnước

Nhìn chung, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ DTTS đượcnhiều công trình tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, quản lý đào tạocao cấp LLCT cho cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh chưa có côngtrình nào nghiên cứu chuyên sâu, những tiếp cận nghiên cứu trên sẽ giúp chúngtôi kế thừa có chọn lọc nhằm từng bước hoàn thiện đề tài nghiên cứu góp phầnnâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ ChíMinh trong bối cảnh hiện nay

1.2 Các khái niệm cơ bản của đềtài

1.2.1 Quản lý

Quản lý là tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các hoạt động xã hội vàhành vi của con người nhằm đạt được mục đích của người quản lý và phù hợpvới qui luật khách quan C.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có và bất biến

về mặt lịch sử của đời sống xã hội “tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay laođộng chung nào tiến hành trên một quimôtương đối lớn, thì ítnhiềucũngđềucầnđếnmộtsựchỉđạođểđiềuhòanhữnghoạtđộngcánhân

Trang 17

và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thểsản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một ngườiđộc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải cónhạc trưởng”[8,tr 480].

Harold Koontz, tác giả người Mỹ cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu

nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích củanhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường trong

đó con người có thể đạt được cả mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vậtchất và sự bất mãn cá nhân ít nhất ” [33, tr.29]

F.W.Taylor là nhà thực hành về quản lý lao động và nghiên cứu các thao tác đưa

ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm vàsau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [75,tr.1]

Một số tác giả trong nước đã đưa ra những định nghĩa khác về quản lý: theotácgiảPhan Văn Kha“quảnlý làmộttập hợpcác hoạt độnglậpkếhoạch,tổchức, lãnhđạo,kiểm tracácquátrìnhtựnhiên,xãhội, khoahọc,kỹthuậtvàcôngnghệđểchúng phát

hữuvàtiềmnăng)vậtchấtvàtinhthần,hệthốngtổchứcvàcác thành viênthuộchệthống,các hoạt độngđểđạtđượcmục đíchđãđịnh”[46,tr.10];“Quản lý là tác động có địnhhướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mụcđích của tổ chức” [6, tr.9]; hay “quản lý được coi là sự kết hợp của quản và lý.Quản là cai trị, coi sóc, trông nom hệ thống nào đó, đưa hệ thống đó và thế ổnđịnh, có trật tự; lý là sắp xếp, tổ chức để làm cho hệ thống đó đi đến sự pháttriển Như vậy, quản lý là sự tích hợp của hai mặt: lý và quản đưa nó vào một thế

ổn định và phát triển”[5, tr.64]

Có thểthấy,tùytheo cách tiếp cận khácnhaucáctác giả cóthểđưaranhững kháiniệmvềquảnlýkhác nhau, nhưngbảnchấtcủahoạt động quảnlýđềulà sựtácđộnghợpquiluật củachủ thểquản lýđếnkháchthểquản lý nhằm

Trang 18

đạtđượcmụctiêuđãđịnh Nhưvậy,quảnlýlà sựtác độngcủachủ thể quảnlýlên các đốitượng quảnlýthôngquaviệc lậpkếhoạch,chỉ đạo,tổ chứcvàkiểmtra các hoạtđộngcủahệthống,tổchức nhằmđạtđược mục tiêuđãđịnh.

1.2.2 Đào tạo

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, đào tạo có nghĩa là “dạy dỗ, rèn luyện để trở nênngười có hiểu biết, có nghề nghiệp”[27, tr.593] Theo Từ điển Giáo dục học, đàotạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm,những tri thức, những kỹ năng, kỹxảo,đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạođức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập

và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước”[71,tr.76]

Đào tạo còn được hiểu đó là quá trình tác động đến con người làm cho người đónắm vững tri thức, kỹ năng, thái độ một cách hệ thống, có khả năng thực hiện cóhiệu quả những hoạt động nghề nghiệp nhất định Khái niệm đào tạo có nhữngđiểm khác biệt so với khái niệm giáo dục, giáo dục mang một ý nghĩa chung,phản ánh quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức của loài người, qua đó làm biếnđổi nhân cách; còn đào tạo là hoạt động được qui định về phạm vi, cấp độ, cấutrúc, qui trình một cách chặt chẽ với những hạn định cụ thể về mục tiêu, chươngtrình, nội dung đào tạo và có hệ thống cho mỗi khoá học với những thời gian,trình độ và tính chất cụ thể Quá trình này được tiếnhànhởcáccơsởgiáodục đàotạokhác nhau,tuỳ từngcấp học,thờigianhọc và nộidungđào tạo củamỗikhoáhọc,ngườihọcsẽđược cấp bằngtốtnghiệp tương ứng với trình độ,chươngtrìnhđãđào tạo

khóahọc,vềtínhchất,đàotạolàmộtthuộctínhcơbảncủaquátrìnhgiáodục

Ngày nay, đào tạo không còn là quá trình chuyển giao một chiều mà bằng nhữngphương tiện dạy - học hiện đại Các cơ sở đào tạo tiến hành đổi mới phươngpháp giảng dạy giúp người học chủ động tích cực, tự chiếm lĩnh và trang bị trithức cho bản thân, đó là quá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tựđào tạo của người học Chất lượng đào tạo sẽ đạt được hiệu

Trang 19

quả tốt nhất nếu quá trình đào tạo chuyển biến theo phương thức này, người học

sẽ được truyền đạt những kinh nghiệm, được mở rộng tầm hiểu biết và được bùđắp những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, thái độ để không chỉ làm tốt côngviệc được giao mà còn đương đầu với những thay đổi, thách thức của môitrường xung quang có ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức

Như vậy,đào tạođượcxác địnhlàquátrìnhlàmbiến đổi hànhvi conngười thông qua quá trình truyềnđạt vàtiếpnhận trithức một cáchcóhệthống vớisự hỗtrợcủacácphương tiệncầnthiếthaynói cách khác đào tạolàquá trình hoạt động thốngnhấthữucơ của haimặtdạy vàhọc.Thôngqua đàotạo,mỗi ngườisẽđược

trangbịnhững kiến thức nhấtđịnhvềchuyênmôn,nghiệpvụ,kỹnăng cần thiếtđểhọcóthểđảm nhậnđược công việcvàhoàn thành mộtcáchtốtnhấttheoyêucầucủatổchức hoặcnhucầucủa cánhân

1.2.3 Quản lý đàotạo

Trongnhàtrường, đàotạolàhoạt động quan trọngthểhiệnbảnchất, chức năng,nhiệmvụtheoyêucầucủaxã hội.Nếubảnchấtcủa đào tạolàhoạtđộngthống nhất hữucơcủa haimặtdạyvàhọc nhưđãphân tíchởtrênthìquảnlýđào tạolàquátrìnhtác độngcủachủthểquảnlýthực hiện đốivới tất cảcác nhântố,các hoạt độngvàquátrìnhdiễnratrong phạmvicủanhà trường,mụcđích cuối cùnglànhằmmanglạihiệuquảmàhoạtđộng đào tạohướng đến

Đối tượng quảnlýtrongnhàtrườngbaogồm:lựclượngtham gia đàotạo(cánbộquản lý, giảng viên, học viên, cánbộphục vụ); các hoạt độngđào tạo;cácnguồn lực khác thamgiacôngtác đàotạo.Tuynhiên,đốivới nhữngcơ sở đào tạokhácnhau, cácyếutốcủa quátrìnhđào tạo có đốitượng quản lý khác nhau tùythuộcvàotừnglĩnh vựccụ thểcủaquátrình đàotạovàtất cảcácđốitượng quảnlýđềuđược quảnlýtheo bốnchứcnăngcơbản:xâydựngkếhoạch; thiếtkế vàxâydựng tổchức thực hiệnkếhoạch;chỉđạo; kiểmtra,đánhgiá quátrình thực hiệnvàkết quảthựchiệnkếhoạch[46,tr.15]

Với khái niệmquản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủthể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đềra,cùng với việc

Trang 20

xác định rõ đối tượng quản lý, các thành tố liên quan vận dụng vào lĩnh vực

đào tạo, có thể hiểu:Quản lý đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổchức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.

1.2.4 Cao cấp lý luận chínhtrị

Lý luận chính trị là một khái niệm mang nghĩa rộng, theo từ điển Giáo dục

học,lý luận là “hình thức cao nhất của tư duy khoa học, là hệ thống các khái

niệm, các phạm trù, các qui luật phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mốiliên hệ của các sự vật trong thực tiễn Lý luận là yếu tố cấu trúc cơ bản của khoahọc, nó liên kết những sự việc, những vấn đề, những giả định, những phươngpháp nhận thức v.v…thành một thể thống nhất”[71, tr.236]

Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh, “lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinhnghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làmthành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chânchính”[54, tr.237]

Xét về bản chất lý luận có thể hiểu đó là hệ thống những tri thức được khái quát

từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên mangtính qui luật của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạtbằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật

Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, phức tạp, liên quan đến lợi ích trực tiếp củacác giai cấp và các lực lượng trong xã hội nên có nhiều cách tiếp cận khác nhau:Theo Từ điển Bách khoa thư Hà Nội, chính trị theo nghĩa chung nhất đó là “tất

cả các hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia vàcác tập đoàn xã hội xoay quanh một vấn đề trọng tâm, là giành, giữ và sử dụngchính quyền Nhà nước”[73, tr.17] Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, chính trị đượchiểu là “những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động củagiai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước”[27,tr.369]

Trang 21

Từ những phân tích ở trên, LLCT là hệ thống những quan điểm, tư tưởng, trithức về đấu tranh giai cấp, về lãnh đạo quần chúng giành, giữvàxây dựng chínhquyền, về quản lý nhà nước Thực tiễn ở Việt Nam, LLCT thường được hiểu đó

là hệ thống những quan điểm, tri thức về đấu tranh giai cấp; về lãnh đạo quầnchúng giành, giữ và xây dựng chính quyền; về quản lý nhà nước trên cơ sở nềntảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhànước

Vậy,caocấp LLCTlàmộtchương trìnhđào tạocótínhđặcthùtronghệthống chínhtrịcủaĐảngCộngsảnViệt

1.3 Cán bộ dân tộc thiểu số và yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn trong bối cảnh hiệnnay

1.3.1 Cán bộ dân tộc thiểusố

1.3.1.1 Khái niệm cán bộ dân tộc thiểusố

Thuật ngữ “cán bộ DTTS” được sử dụng nhiều trong các văn bản của Đảng và

Nhà nước, tuy nhiên khái niệm về thuật ngữ này vẫn đang được các nhà khoahọc nghiên cứu để đi đến một quan điểm thống nhất

Thực chất “cánbộDTTS” chínhlàcánbộdântộc ítngười,làcụmtừđồng nghĩavàtậphợp bởi kháiniệm“cánbộ”và“dântộcthiểu số”,đểhiểu bản chấtcủakháiniệm cánbộDTTS,trướctiêncần làmrõkháiniệm“dântộcthiểu số” Trong Đại từ điển Tiếng Việt, “dân tộc thiểu số" được định nghĩa khá cô đọng,

đó là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có mộtdân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế

xã hội [27, tr.520] Thực tiễn ở nước ta có 54 dân tộc trong cộng đồng các dântộc Việt Nam, dân tộc kinh là dân tộc chiếm số đông, còn lại 53 dân tộc anh em

khác có số dân ít hơn gọi là “dân tộc thiểu số”.

Trang 22

Một số công trình nghiên cứu về cán bộ DTTS đưa ra khái niệm: đó là nhữngngười công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị; có thành phầndân tộc xuất thân từ các DTTS; có những trách nhiệm và quyền hạn nhất địnhđược tổ chức giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu củanhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; có nghĩa vụ tuyệt đốitrung thành với Đảng, với Tổ Quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhândân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích tốicaocủa Đảng, của Tổ quốc và nhândân [68,tr.19].

Hiểu theo nghĩa chung nhấtcán bộ DTTS là chỉ những người có thànhphần xuất thân từ các DTTS, tham gia công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có đầy đủ tư cách, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị.

1.3.1.2 Vịtrí,vaitròcánbộdântộcthiểusốtrongđờisốngchínhtrịcủađấtnước

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “cán bộ là những người đemchính sách của Đảng, của Chính Phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thihành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính Phủhiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[56, tr.54], điều này càng có ý nghĩa hơn khigắn với vai trò của cán bộ DTTS đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển cácvùng dân tộc Nhìn chung, do sống và làm việc trên địa bàn miền núi nên cán bộDTTS có vị trí, vai trò giống nhau nhưng tùy vào điều kiện, hoàn cảnh khácnhau của từng vùng, miền về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội mà họ có vị trí,vai trò mang tính đặc thù trong lãnh đạo, quản lý

Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi đa phần đều có sự góp mặt của cán bộDTTS là những cá nhân đại diện cho dân tộc mình tham gia công tác ở những vịtrí khác nhau trong các cơ quan chính quyền các cấp Đối với cán bộ DTTS khuvực miền Trung - Tây Nguyên, ngoài những đặc điểm mang tính tích cực, có tácđộng to lớn đến đồng bào các dân tộc, vẫn còn những hạn chế về cơ cấu, nănglực công tác nhưng vị trí, vai trò của họ lại ảnh hưởng rất lớn đến quá trình pháttriển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh quốc phòng vùng dân

Trang 23

tộc miền núi Đặc biệt, đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là cán bộ DTTScông tác ở các cơ quan cấp huyện thị và tương đương thuộc đối tượng đào tạocao cấp LLCT tại các Học viện chính trị lại có vị trí, vai trò hết sức quan trọng:

+ Cán bộ DTTSlà lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong quátrình xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền địa phương vùng miền núi vững mạnh.Đối với

vùng miền núi đông đồng bào dân tộc sinh sống thì vai trò của cán bộ DTTSkhông thể thiếu trong bất cứ lĩnh vực công tác nào Họ là những trụ cột, là nhữngngười tham gia điều hành tổ chức bộ máy ở cơ sở và góp phần thực hiện tốtnhiệm vụ chính trị do Đảng và nhân dân giao phó Bộ máy chính quyền địaphương đang dần dần được cải cách và hoàn thiện, đội ngũ cán bộ đoàn kết, nhấttrí xây dựng phong trào cách mạng quần chúng ngày càng sâu rộng Là lựclượng cán bộ lãnh đạo, quản lý tại chỗ, cán bộ DTTS sống và làm việc, có quan

hệ gần gũi với nhân dân, điều này càng khẳng định hơn vị trí, vai trò cán bộDTTS Để phát huy vị thế của cán bộ DTTS đối với công tác lãnh đạo, quản lýtại địa phương vùng đồng bào dân tộc, cần đặc biệt quan tâm đối với đội ngũ cán

bộ DTTS để họ thực sự là lực lượng “nòng cốt” đi đầu trong công tác xóa đóigiảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh quốc phòng ở địa phươngtrong giai đoạn hiệnnay

+ Cán bộ DTTSđóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiệnthắng lợi chủ trương, đường lối Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương vùng dân tộc miền núi.Vai trò này của cán bộ DTTS thể

hiện rõ qua thực tiễn đạt được trên các mặt của đời sống xã hội ở địa phươngvùng dân tộc miền núi trong nhiều năm qua Với trách nhiệm và vai trò củamình, họ đã góp phần xây dựng kế hoạch, phương hướng nhiệm vụ, đôn đốc,kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện và làm cho chủ trương, đường lối chínhsách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực Tuy nhiên, để thựchiện tốt vai trò của mình cán bộ DTTS phải thực sự là những người có nănglực đối với từng nhiệm vụ chính trị được giao; hiểu và lĩnh hộisâusắcquanđiểm,

Trang 24

đườnglối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;có khảnăngcụ thể hóavàođiều kiện hoàn cảnhcụthểcủatừng công việc, từng lĩnh vực, từngvùngmiềnkhácnhau Nhữngkinhnghiệmquíbáutừthực tiễncủa cánbộDTTSsẽgiúpĐảngvàNhànướcbổsung, hoànchỉnhchủtrương, đườnglối củaĐảng,chính sách pháp luậtcủaNhànướcngày cànghoàn thiện.

+ Cán bộ DTTSquyết định lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảoan ninh chính trị và xây dựng tình đoàn kết các dân tộc.Với vai trò là đội ngũ trụ cột ở

địa phương, lãnh đạo chỉ đạo việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước, cán bộ DTTS góp phần cải thiện tình hình kinh tế, xã hội vùng miềnnúi, nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc; giữ vững quốc phòng, an ninhnhất là an ninh nông thôn và biên giới Bên cạnh những thành quả đạt được, hầuhết các vùng miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do tác động bởi nhiềuyếu tố khác nhau: đời sống vật chất và tinh thần của người dân vẫn còn thấp,trình độ dân trí của đồng bào dân tộc chưa cao, một số phong tục tập quán lạchậu vẫn tồn tại, hiểu biết về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước còn hạn chế Điều đáng quan tâm, có những vùng đông đồngbào dân tộc sinh sống, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôngiáo, dân chủ, nhân quyền nhằm kích động, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc vàxuyên tạc chống phá lại chế độ ta, do đó để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế,

xã hội,giữvững an ninh, chính trị làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” củacác thế lực thù địch, cán bộ DTTS phải là lực lượng nòng cốt, vững vàng về lậptrường tư tưởng, có quan điểm cách mạng, nhận thức chính trị và phẩm chất đạođức tốt để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tình đoàn kết các dân tộc ở địaphương

+ Cán bộ DTTSlà những người có khả năng tuyên truyền, vận động,thuyết phục đồng bào dân tộc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Đây là thế mạnh của đội ngũ cán

bộ DTTS hiện nay, đa số cán bộ DTTS tham gia công tác trong các tổ chứcchính quyền ở địa phương là những người có uy tín, tiếng nói của họ có ảnhhưởng

Trang 25

to lớn đến tình cảm và nhận thức của người dân Do thấu hiểu phong tục tậpquán, ngôn ngữ đồng bào địa phương nên cán bộ DTTS có thể đi sâu, đi sát nắmbắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người dân và có phương pháp vận động,thuyết phục đồng bào thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữvững trật tự an ninh xã hội, ngăn chặn những hành vi viphạmpháp luật, giúpđồng bào tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước và tham gia, cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và pháttriển địaphương.

1.3.1.3 Đặc điểm cán bộ dân tộc thiểusố

Cán bộ DTTS ở nước ta chủ yếu sinh sống ở các vùng trọng điểm như Tây Bắc,Tây Nguyên và Tây Nam Bộ và một số tỉnh miền núi trên cả nước Theo số liệuđiều tra dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009, DTTS ở nước ta có trên 12,2triệu người trong tổng số 85,5 triệu người, chiếm tỷ lệ 14,3% dân số Trong số

đó, các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, DTTS số chiếm 78,56% vàphân bố theo tỷ lệ: các tỉnh miền núi Tây Bắc chiếm tỷ lệ 54,68%; Tây Nguyênchiếm tỷ lệ 35,29%; đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ lệ13,84%

Liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài, miền Trung -Tây Nguyên là khuvực có số lượng lớn đồng bào các dân tộc sinh sống, tập trung ở các tỉnh có cáchuyện miền núi như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Quảng Ngãi, Phú Yên và các tỉnh Tây Nguyên Riêng các tỉnh Tây Nguyên có

12 dân tộc bản địa và hiện diện hầu hết các dân tộc trên cả nước, phần lớn di cưđến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, điều này đã góp phần làm thay đổi cục diệnđồng bào dân tộc tại chỗ và cũng là một trong những lý do các nhà khoa họchiện nay khẳng định Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa và đa tôngiáo

Do vị trí địa lý từng vùng, miền, đặc điểm, điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa,

xã hội các dân tộc khác nhau, do đó cán bộ DTTS công tác trong hệ

Trang 26

thống chính trị ở miền Trung - Tây Nguyên tham gia học tập ở các Học việnchính trị có những đặc điểm như:

- CánbộDTTSlànhữngđạibiểuưu tú,cóảnhhưởnglớn đối với đồngbàocácdân tộc.HầuhếtcánbộDTTShiện đang thamgiacông tác trong

tộcmiềnnúilànhữngđạibiểuưutúcóuytínvàđạidiệnchođồngbàocácdân tộc.ĐasốcánbộDTTSđãđược chắt lọc,tuyểnchọnquanhiều khâutrongquátrình xâydựngvàpháttriểnđội ngũcán bộ các cấp, được rènluyệnthửtháchquahoạtđộngthựctiễn.Ngoài những cánbộ đãcóquá trình cốnghiếnlâu dài quacác thờikỳcáchmạngcủa đấtnước,đội ngũcánbộDTTShiện nay trẻ

lênđãmangtrongmìnhtruyềnthốngyêunướcvàtruyềnthốngđóngàycàngđược

ngườiconkếtụcsựnghiệpcủacha,anhđitrước.Đặcbiệt, với bảnchấtthật thà, chấtphác, cánbộDTTSítchịutácđộng tiêu cựccủaxãhộivàmặttráicủacơchếthịtrường,họluôngiữđượctưcách,phẩmchất

củangườicánbộ,lờinóiđiđôivớiviệclàm,nhiệt tình, tráchnhiệm đối vớinhiệmvụđược giao Ngoài ra, trướcxuthếphát triểncủaxãhộivàyêucầunhiệmvụ,cánbộDTTScóđiều kiện hơntrongviệc tiếp thu những kiếnthứckhoahọc tiêntiến, được giao lưu với nhiều vănhóacủa cácdântộcanh,em và tựkhẳngđịnhmìnhtrước nhữngkhókhăn,thửthách trong thực tiễn, điềunàyđãtạo chocánbộDTTScóýchí,lòngtrungthànhvàniềmtinvàosựlãnhđạocủaĐảng

Trong quanhệgiađìnhvàdòng tộc,giàlàng, trưởngbảnlànhững ngườicóuytíncao nhấtđốivớiđồngbàodân tộc,còntrong quanhệ xãhội,cánbộDTTSlànhữngngườiđượcđồngbàotínnhiệm,tintưởng gửi gắmniềm tin vào quátrình lãnhđạovà xửlýcácmốiquanhệ xãhộigắnvới họ.Đâylà lýdocánbộDTTScó ảnhhưởnglớnđốivớiđồng bàocácdân tộc, tuynhiên điềunàycũng đòihỏirấtlớn vềuytínvàtráchnhiệmcủahọtrongquátrình giảiquyếtcông việcvàđiềuhòacác mối quanhệtrongcộngđồngxãhội

- Cán bộ DTTSlà những người am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán,vănhóacácdântộcthiểusố.ĐâylàưuthếlớnnhấtcủacánbộDTTSdohọ

Trang 27

sinh ra, lớn lên, sống và cùng giao lưu văn hóa đã tạo được sự gần gũi, gắn bóđối với đồng bào các dân tộc Sự am hiểu, thông thạo địa bàn, tâm lý, phong tục,tập quán, ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc đã giúp cán bộ DTTS có ưu thếhơn trong việc tham mưu, đề xuất những vấn đề liên quan đến DTTS, vận động,tuyên truyền, thuyết phục đồng bào dân tộc trong việc thực hiện đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

- Cán bộ DTTSchịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế và xãhội đối với việc nâng cao trình độ, năng lực công tác.Bên cạnh những đặc điểm

có tính tích cực, cán bộ DTTS còn có những đặc điểm khác gắn với thực trạngđội ngũ cán bộ hiện nay Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộDTTS khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang công tác ở các cơ quan chínhquyền các cấp tăng lên đáng kể, tỷ lệ cán bộ DTTS có bằng cao đẳng và đạihọc tương đối cao hơn so với những năm đầu của thập kỷ trước Tuy nhiên,xét mặt bằng chung về yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ và trong bối cảnh đấtnước đang tiến hành đổi mới, phần lớn cán bộ DTTS còn hạn chế về trình độchuyên môn nghiệp vụ, năng lực tư duy lý luận, kinh nghiệm công tác vànăng lực xử lý các tình huống trong thực tiễn Nguyên nhân chủ yếu củanhững hạn chế nêu trên, một phần là do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế -

xã hội đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển đội ngũ cán bộ DTTSnhư:

+ Do sống trong cộng đồng tổ chức theo xã hội cổ truyền với những luật tụcriêng, cơ chế vận hành tự quản, khép kín, điều này làm cho cán bộ DTTS có ýthức cộng đồng trội hơn ý thức sống và làm việc trong môi trường với nhữngthiết chế qui định của Nhànước

+ Đời sống kinh tế, xã hội ở các vùng miền núi hết sức khó khăn,mứcsống vàtrình độ dân trí thấp, cán bộ DTTS đã phải cân nhắc, sắp xếp công việc gia đình

để nâng cao trình độ và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao; một bộ phậncán bộ DTTS vẫn còn tư tưởng trông chờ vào các chế độ chính sách ưu đãi đốivới người dân tộc, thiếu sự rèn luyện trong học tập, công tác để phấn đấuvươnlên

Trang 28

+ Đội ngũ cán bộ DTTS tham gia công tác trong bộ máy chính quyền địaphương đã được chú trọng, số lượng tăng qua từng năm, tuy nhiên tỉ lệ vẫn chưacao, chưa phù hợp với tỉ lệ dân số của từng tỉnh; có sự chênh lệch khá lớn giữacán bộ cấp tỉnh, huyện và xã, tập trung chủ yếu ở cấp xã, các đơn vị sự nghiệp(giáo dục, y tế), khối Đảng, đoàn thể còn trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, cácngành khối kinh tế cán bộ DTTS còn ít thamgia.

họctập,rènluyệnvàsinh hoạt.NhiềuHV tham gia học tậptươngđốivấtvả,mặcdùnóitiếng kinhkhá tốtnhưngkhảnăng nhận thức, phân tíchnhữngvấnđềliên quanđến nộidunghọctập, hiểuvàtraođổibằng tiếng kinhvẫncònhạnchế,mặtkhácHVlàngườidântộcthườngcótínhtựtinênphầnlớntrongsốhọítmạnhdạnvàcởimởtrong giao tiếp, trao đổi thảo luận tronggiờgiảngvàchủ độngđưaranhữngquanđiểm,ýkiếncủabảnthântrướctậpthể

1.3.2 Tầmquan trọng của công tác đào tạo lý luận chính trị cho cán bộdân tộc thiểu số trong bối cảnh hiệnnay

Bối cảnh hiện nay đang vận động và phát triển dưới những hình thái quá

độ, nghịch lý biểu hiện sự xung đột giữa cái cũ và cái mới làm thay đổi căn bảnphương thức sản xuất và kinh tế dẫn đến những biến đổi về văn hoá, chính trị, xãhội đối với mỗi quốc gia, dân tộc.Đặcđiểm nổi bật của bối cảnh hiện nay đó làtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Cách mạng khoa học và côngnghệ,kinhtếtrithứcdiễnramạnhmẽđãtácđộngsâusắcđếnsựpháttriển

Trang 29

của nhiều nước; các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hìnhthức vàmứcđộ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển; hòa bình độc lập dân tộc, dânchủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giaicấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua

vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tàinguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra phức tạp[14,tr.67]

Các nước đang phát triển và kém phát triển đang phải đối đầu với cuộc đấu tranhgay go, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt vàxâm lược của các nước lớn để bảo vệ chủ quyền quốc gia Những vấn đề toàncầu mang tính cấp bách đang thách thức cả nhân loại, đó là vấn đề gìn giữ hòabình, chống khủng bố, đẩy lùi sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp, ônhiễm môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh Để giải quyếtvấn đề trên đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường sự hợp tác quan hệ songphương, đa phương trên tất cả các lĩnh vực

Nằm trong xu thế biến đổi chung của thế giới, bên cạnh những thành tựu to lớn

về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhậpquốc tế, đất nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém ảnh hưởng đến tiến trìnhphát triển chung của đất nước Đặc biệt, đối với các tỉnh miền núi tiềm lực kinh

tế cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn ở mức thấp: kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực thấp; còn nhiều mâuthuẫn, khó khăn bộc lộ trong quá trình quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môitrường, thu hút đầu tư phát triển; việc tổ chức lại sản xuất, bảo đảm không giansinh sống cho các buôn, làng, bản nhất là giải quyết đất đai và nâng cao dân trícòn nhiều vấn đề bất cập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xã hội và ảnh hưởng đến khốiđoàn kết dân tộc; thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân chưa thực sựvững chắc; các lực lượng và hệ thống chính trị nắm tình hình, nắm dân cư chưa

phảiđốiphóvớinhiềutìnhhuốngvềanninhchínhtrị.Cácthếlựcthùđịch

Trang 30

lợi dụng chiêu bài “nhân quyền”, “tự do dân tộc”, “tự do tôn giáo” đang ra sứckích động chống phá cách mạng làm mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn;vấn đề an ninh nông thôn, an ninh lương thực, an ninh biên giới đang bị đe dọa,nhiều kẻ xấu đã lợi dụng lòng tin, sự nhẹ dạ của đồng bào các dân tộc phá hoạiđời sống của đồng bào, phá hoại chính sách phát triển kinh tế- xã hội củaNhànước.

Trước tình hình trên, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối, chiếnlược nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội của đất nước, trong đó đặc biệt quan tâm đến

“phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tậptrung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặtchẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, côngnghệ”[14, tr.106], vấn đề nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhất là trình

độ LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý được xem là nhiệm vụ then chốt trongcông tác cán bộ của Đảng Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ

Chính trịvề tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tácđào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lýmột lần nữa khẳng định quan điểm:

đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọngcủa Ðảng Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh

về học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, học tậpgắn liền với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách người cách mạng Nghị quyếtTrung ương 8, khóa XI quán triệt sâu sắc về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo; bảo đảm tính hệ thống và liên thông giữa các bậc học, trình độ vàgiữa các phương thức đào tạo, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh cán bộ để tiếptục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT; đổi mới, nâng caochất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêucầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu khác củacông tác cán bộ Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu đào tạo cần phải chuyển biến

hiệuquảcủacôngtácđàotạo,bồidưỡngLLCT,gópphầnxâydựngđộingũ

Trang 31

cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực,phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ vị trí vai trò và đặc điểm của cán bộ DTTS (mục 1.3.1.2,1.3.1.3), càng khẳng định hơn nữa sự cần thiết của công tác đào tạo LLCT chocán bộ DTTS Hoạt động thực tiễn đang đòi hỏi họ cần phải có tư duy lý luận,hiểu và nhận thức đúng đắn các quan điểm khoa học của chủ nghĩaM á c

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước để thực hiện một cách năng động, sáng tạo vào điềukiện và hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn, thường xuyên củng cố niềm tin, rènluyện phẩm chất, tư cách của người cán bộ trong bối cảnh hiện nay Yêu cầuđối với công tác đào tạo LLCT không chỉ nâng cao trình độ tư duy lýluậnmàthông qua đó tăng cường NLHĐTT cho cán bộDTTS

1.3.3 Năng lực hoạt động thực tiễn: điểm mấu chốt trong chương trình đàotạo cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểusố

1.3.3.1 Quan niệm chung về nănglực

Theo quan điểm của Giáo dục học, năng lực là “khả năng được hình thành hoặcphát triển, cho phép một con ngườiđạtthành công trong một hoạt động thể lực, trílực hoặc nghề nghiệp”[71, tr.278] Các nhà tâm lý họcXô-viếtnghiên cứu chuyênsâu về năng lực đãmởrộng khái niệm năng lực bao gồm các điều kiện tâm - sinhlýchi phối các hoạt độngcủa conngười, theo P.A Ruđich“nănglựcvàtínhchấttâm-sinhlýcủaconngườichiphốiquátrìnhtiếpthucác kiến thức,kỹnăng,kỹxảocũng nhưhiệuquảthực hiện một hoạtđộngnhất định”[3,tr.248]; A.G.Covaliôpnhấnmạnhnănglựclàthuộctínhtâmlýcủacánhânđảm bảođiều kiện cho hoạt động, “năng lựclàmộttậphợphoặc tổnghợpnhững thuộc tínhcủa cánhânconngười,đápứng những yêu cầulaođộngvàđảmbảochohoạtđộngđạtđượcnhữngkếtquảcao”[3,tr.248]

Năng lực bao gồm có năng lực chung và năng lực chuyên biệt Nănglựcchunglàđiềukiệnthànhcôngbêntrongcủahoạtđộngtổchức,lãnhđạo;

Trang 32

hoạt động giáo dục; hoạt động học tập như: năng lực lao động, năng lực sống(năng lực tồn tại, năng lực phát triển, năng lực sản xuất), năng lực quan sát, họctập, chú ý…, còn năng lực chuyên biệt là điều kiện thành công bên trong củahoạt động chuyên biệt như năng lực âm nhạc, năng lực hội họa, năng lực thểthao…, gần đây người ta chú trọng đến năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lựckinh doanh Mọi năng lực nói trên đều phải đầy đủ vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

và thể hiện ở những tiêu chí cơ bản: tính linh hoạt và hợp lý, tính thành thạo,tính thông minh, sáng tạo, độc đáo trong phương pháp cũng như quá trình giảiquyết công tác chuyên môn để đạt được những kết quả cụthể

Để đưa ra khái niệm về năng lực, trước hết chúng ta phải xác định những dấuhiệu của năng lực phân biệt giữa người này và người kia, nghĩa là nói đến sự saibiệt giữa các cá nhân biểu hiện qua các dấu hiệu như:

- Khác biệt trong khuynh hướng hoạtđộng

- Khác biệt trong nhịp độ hoạt động và sự tiến bộ của hoạt động và sự

dễ dàng trong hoạt độngđó

- Số lượng và kết quả của hoạt độngđó

- Tính chất độc lập và sáng tạo trong hoạt động [3,tr.249]

Ngườicónăng lựcvềmộthoạt độngnào đólàngườidễdàngthựchiện hoạtđộngđóhơnnhữngngười khôngcónăng lực,sựtiếnbộtrong hoạt độngđórấtnhanhvềcườngđộvàđộ sâucủa hoạtđộngvàkết quảcủa hoạt động cũngđảm bảochấtlượng hơn những người khôngcónăng lực.Ngườicónăng lựcbao giờcũngthểhiệntínhđộc lậpvàsángtạotrong hoạt động,do đómột hoạt độngđòi hỏinhiều phẩmchấttâmlýcánhânđểgiúphoạt độngđạt kếtquả

Từ phân tích trên có thể hiểu, năng lực là thuộc tính của cá nhân cho phép cánhân thực hiện hoạt động nhất định và đạt kết quả như mong muốn trong nhữngđiều kiện cụ thể Những thành tố cơ bản tạo nên cấu trúc của năng lực đó là trithức, kỹ năng, thái độ và yếu tố cốt lõi trong bất kỳ năng lực cụ thể nào đều là kỹnăng, tuy nhiên trong mỗi thành tố này đã tích hợp nhiềuyếutốsinhhọc,tâmlývàvănhóacánhân.Khicácchứcnăngsinhhọc,các

Trang 33

chức năng tâm lý và các giá trị, kinh nghiệm xã hội của cá nhân đạt đến độ chínnào đó nhờ rèn luyện, trải nghiệm và tích hợp lại thành một thuộc tính mới của

cá nhân khiến các hoạt động của cá nhân đạt đến thành công, khi đó trở thànhnăng lực

Năng lực là một thuộc tính mới của cá nhân chứ không phải đơn giản do kiếnthức, kỹ năng, thái độ gộp lại Năng lực là khả năng thực hiện thành công cáchoạt động dựa trên sự huy động các nguồn lực có nguồn gốc sinh học, tâm lý và

xã hội có thật ở cá nhân, nói cách khác năng lực không phải là khả năng(Ability), không phải là tiềm năng (Potential)màlà cái tồn tại thật sự ở cánhân

Nhưvậy,năng lựccó thểhiểuđó là tổ hợpnhững thuộc tính tâmlý,phù hợp vớiyêucầu mộtloại hoạt động nhằm làmchohoạt độngđó đạtđược kếtquả 1.3.3.2 Hoạt động thựctiễn

Theo quan điểm triết học Mácxít,thực tiễn là những hoạt động vật chấtcó mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên

và xã hội; hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất, hoạt động đặc trưng của

con người; con người không thể thỏa mãn với những gì tự nhiên cung cấp chomình dưới dạng có sẵnmàđểtồn tại con người phải lao động sản xuất để tạo racủa cải nuôi sống bản thân mình; không có hoạt động thực tiễn con người và

xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được [66,tr.54-55]

Thực tiễn có các dạng hoạt động cơ bản:hoạt động sản xuất vật chất, là dạng

hoạt động thực tiễn nguyên thủy và cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát

triển của xã hội loài người;hoạt động chính trị - xã hộinhằm biến đổi các quan

hệ xã hội, chế độ xã hội;hoạt động thực nghiệm khoa học, có ý nghĩa quan trọng

trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại,mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có chức năng khác nhau nhưng có mối quan

hệ chặt chẽ, tác động qua lại vớinhau

Trang 34

Hoạt động thực tiễn là cơ sở để hình thành nên nhận thức, trong quá trình hoạtđộng thực tiễn biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình,phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình, qua đó con người ngàycàng đi sâu vào nhận thức thế giới, làm phong phú, sâu sắc thêm tri thức củamình về thế giới.

Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện của lýluận, là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mốiliên hệ bản chất, những tính qui luật của thế giới kháchquan.Lý luận ra đời cầnthiết cho hoạt động thực tiễn, giữa thực tiễn và lý luận luôn có mối quan hệ mậtthiết với nhau, tác động qua lại với nhau: thực tiễn là mục đích của nhận thức, lýluận; đồng thời nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ lại thựctiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn; lý luận chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng đượcvận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển nói chung[66,tr.59-61]

Có thể nói,hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất có ý thức, có mụcđích của con người tác động vào tự nhiên - xã hội nhằm cải tạo thế giới, làm biến đổi chúng phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người.

1.3.3.3 Năng lực hoạt động thựctiễn

NLHĐTT là khả năng của con người có thể tác động vào thực tiễn mang lại hiệuquả như ý muốn và là một năng lực không thể thiếu đối với tất cả những ai muốntham gia cải tạo tự nhiên và xã hội Mỗi lĩnh vực cụ thể yêu cầu con người cónhững năng lực hoạt động nhất định, giới hạn trong lĩnh vực hoạt động chính trị

- xã hội, hoạt động cơ bản của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, NLHĐTT đó làkhả năng điều hành, quản lý các lĩnh vực trong đời sống chính trị, xã hội củađấtnước

Về cơ cấu hoạt động thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý có ba

dạng cơ bản đó làhoạt động nhận thức, đề ra quyết định và hoạt động tổchức.Các hoạt động trên khác nhau về mục đích:hoạt động nhận thứclà hình

thành trong nhận thức người cán bộ lãnh đạo, quản lýnhững hiểu biết vềtình

Trang 35

huống tác nghiệp, đòi hỏi độ chuẩn xác cao;đề ra quyết địnhlà khâu xây dựng chương trình tác động của tập thể đối với tình hình thực tiễn;hoạt độngtổ chứclà

thực hiện chương trình đã vạch ra bằng cách triển khai hoạt động tổ chức thựchiện của cấp dưới và tiến hành theo hai hướng đó là truyền đạt nhiệm vụ và độngviên thựchiện

Nghiên cứu về năng lực của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở các hoạt động cụ thể, các nhà khoa học đã đưa ra một số quan điểm:

* V.M.Sepen, nhà tâm lý học Xô viết, trong tác phẩmTâm lý học

trongquản lý sản xuấtđã chỉ ra những năng lực cần thiết của nhà quản lý đólà:

* V.I.Lê-nin đã khẳng định “Muốn quản lý có kết quả thì ngoài năng lực thuyết phục nhất thiết phải có năng lực tổ chức thực tiễn”[78, tr 192]

*Mộtsốcácnhà tâmlýhọctrong nướcđã đềcập đến năng lực hoạt động thực

tiễncủangười quảnlý,trongđónhấnmạnhđếnhoạt độngtổchức trong hoạt động thựctiễnnhưsau:

- Năng lực chung bao gồm :

+ Xu hướng của nhân cách:thái độ đối với công việc; tư tưởng, đạo đức, tôn

trọng những quan điểm, phương pháp luận về đổi mới kinh tế; tiếp thu và sửdụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến; quán triệt những những quanđiểm, đường lối đúng đắn về đổi mới kinh tế, đổi mới quản lý kinh tế của Đảng

và Nhà nước

Trang 36

+ Trình độ đào tạo về hoạt động tổ chức:có kiến thức văn hóa, khoa học và các

kỹ năng, kỹ xảo cùng kinh nghiệm cần thiết đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thịtrường Đây là cơ sở đề các nhà quản lý thu thập, phân tích và xử lý thông tin và

ra quyết định quản lý đúng đắn và kịp thời

+ Các phẩm chất của năng lực tổ chức:có óc thực tế, bề rộng và chiều sâu của

tư duy, óc quan sát, tính mạo hiểm, tính kiên trì, tính tự kìm chế, óc khoa học,tính độc lập Những phẩm chất trên là cơ sở cho các nhà quản lý có thể xây dựngchiến lược hoạt động chuyên môn; nhận biết được các khuynh hướng phát triển;nắm bắt tình hình năng lực, nhu cầu, diễn biến thực tế của từng cá nhân để xâydựng tinh thần cộng sinh giữa “người quản lý - người lao động”; thể hiện sựkhéo léo, năng động, ý chí và nghệ thuật của những người quản lý nhằm manglại hiệu quả cao nhất

- Năng lực tổ chức chuyên biệt:là năng lực nếu không có nó người quản lý sẽ

khó có thể thành công trong lĩnh vực quản lý của mình Cơ cấu của năng lựcchuyên biệtlà:

+ Sự nhạy cảm về tổ chức: sự nhạy cảm tâm lý và sự khéo léo trong ứng xửnhằm tác động tốt tới người dưới quyền tạo ra sự thống nhất trong hànhđộng

+ Khả năng khơi dậy nghị lực, ý chí giúp mọi người tích cực làm việc.+ Sự hứng thú với hoạt động tổ chức là cơ sở để người lãnh đạo gắn bó với côngviệc

Từ các cách tiếp cận trên, năng lực hoạt động NLHĐTT của người cán

bộ lãnh đạo, quản lý có thể hiểu đólà năng lực tổng hợp của chủ thể quản lýđược hình thành trong việc tổ chức hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị

- xã hội và thực nghiệm khoa học của cá nhân, năng lực này được thể hiện ở

sự hiểu biết, kỹ năng triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thông qua việc tập hợp quần chúng tham gia trong lĩnh vực hoạt động nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội[58, tr.23].

Trang 37

1.3.3.4 Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn là yêu cầu cốt yếu trong đàotạo cao cấp LLCTchocán bộDTTS

NLHĐTT đóng vai trò quan trọng gắn với cán bộ lãnh đạo, quản lýnhư là một yêu cầu mang tính bắt buộc Nghiên cứu về NLHĐTT của cán bộDTTS tức là nghiên cứu sự tiếp cận tương xứng giữa năng lực, phẩm chất của

họ với yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn đặt ra trong quá trình tham gia hoạt độnglãnh đạo, quản lý, đặc biệt là quá trình quản lý, điều hành các hoạt động trongthực tiễn Hoạt động thực tiễn là hệ thống khép kín của các khâu, các quá

trình như:nhận thức vấn đề, chuẩn bị và ra quyết định; tổ chức bộ máy vớicon người để thực hiện quyết định; kiểm tra sự thực hiện; tổng kết kinh nghiệm.NLHĐTT của cán bộ DTTS đó chính là khả năng của họ khi thực

hiện những công việc cụ thể nóitrên

Thựctếchothấy, mỗi cánbộDTTSsẽđảmnhậnmộtchức danhcụthể, tươngứngvớimỗichức danhđó làcác chức năng,nhiệmvụđòi hỏicánbộDTTS phảicónhữngnăng lực tương ứng.Từvịtrí,vai tròvàđặc điểm củacánbộDTTS,yêucầuvềNLHĐTTcủacánbộDTTSđó làcụ thểhóasựhiểu biếtv à k ỹ năngvàolĩnh vựccôngtácmàcán bộDTTSđangđảmnhận,nhằmthực hiệntốtnhiệmvụtrong những điềukiện, hoàn cảnhcụ thể của thựctiễn

Tiếp cận các quan niệm về NLHĐTT đề cập ở mục 1.3.3.3, chúng ta có thể xâydựng cấu trúc NLHĐTT của cán bộ DTTS trên cơ sở cụ thể hóa hệ thống cácnăng lực như sau:

* Năng lực hoạt động nhận thức:Cán bộ DTTS hiểu và nắm vững chức

năng, nhiệm vụ được phân công; hiểu biết và nắm vững các quan điểm khoahọc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước; nắm vững tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

ở địa phương; đồng thời phải có trình độ về khoa học lãnh đạo, quảnlý

* Năng lực ra quyết định:Đâylànăng lực quan trọnglàm cơsở

đểcánb ộ DTTScó thể xâydựng chiến lược hoạt động, đưachủtrương, đườnglốicủaĐảng,chínhsáchphápluậtcủaNhànướcđivàothựctiễn.Đểcónănglựcnày,

Trang 38

cán bộ DTTS phải là người có trình độ, khả năng tư duy, óc sáng tạo và kinhnghiệm thực tiễn Biểu hiện của năng lực này đó là:

- Xác định mục tiêu:Nắm bắt một cách cụ thể tình hình thực tiễn của

địa phương, chủ động đề ra các chỉ tiêu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thựchiện mục tiêu đó, giảm tải những thiếu sót, tiết kiệm thời gian và tiềncủa

- Lập kế hoạch:Là phương thức, cách thức nhằm đạt được mục tiêu đã

định trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước vào tình hình thực tiễn ở địaphương

- Ra quyết định: Từxác địnhmụctiêu,lựachọn phươngán

tốiưu,cânnhắcđểquyếtđịnhphươngáncuốicùngmộtcáchhiệuquả

*Năng lực tổ chức thực hiện:Sự thành công của mục tiêu hoạt động phụ

thuộc phần lớn vào năng lực tổ chức thực hiện Đây là năng lực nếu thiếu nó thìmỗi người cán bộ lãnh đạo, quản lý khó có thể thành công trong công tác quản lýcũng như biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước thành hiện thực Năng lực tổ chức thực hiện thể hiện qua khả năng của cán

bộ DTTS khi tiến hành thực hiện nhiệm vụ:

- Tổ chức bộ máy, bố trí nhân lực làm việc nhằmkhai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực cá nhân cũng như tập thể, qui tụ những người tài vàkhơi dậy tiềm năng ở mỗi người, tạo thành một sức mạnh tổng hợp sẽ thúcđẩy hoạt động đạt được kếtquả

- Truyền đạt, phổ biếnđể cấp dưới hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện tốt

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Điềunày thể hiện rõ qua trình độ, vị trí, vai trò và uy tín của cán bộ DTTS trongđời sống xã hội vùng đồng bào các dân tộc Trên thực tế, cán bộ DTTS đã cókhả năng thực hiện tốt công tác này, tuy nhiên phổ biến và truyền đạt như thếnào để đồng bào hiểu đúng và đầy đủ để đi đến thực hiện một cách thấu đáo làmột công việc khó khăn, do đó thông qua việc am hiểu tình hình thực tiễn, đờisống,c o n n g ư ờ i ở đ ị a p h ư ơ n g , c á n b ộ D T T S x â y d ự n g k ế h o ạ c h , c h

ư ơ n g

Trang 39

trình, hành động cụ thể và truyền đạt, phổ biến đến buôn, làng, từng người dân

để mọi người có thể tiếp thu và thực hiện tốtnhất

- Thuyết phục, động viên và lôi cuốncán bộ cấp dưới và quần chúng

nhân dân tham gia vào từng hoạt động của chính quyền địa phương, khả năngthuyết phục không chỉ bằng lời nóimàphải bằng hành động cụthể,bằng uy tín

và năng lực của bảnthân

- Nắm bắtdưluậnxãhộiđể dự đoán được tình hình hoạt động thực tiễn

đang diễn ra để kịp thời điều chỉnh, uốn nắn những bất cập trong quá trình tổchức các hoạt động, nhất là các hoạt động trên địa bàn đang gặp nhiều khókhăn, phứctạp

- Xử lý tình huốngnảy sinh trong quá trình thực hiện Đây là năng lực

hết sức cần thiết đối với cán bộ DTTS hiện nay Họ phải kết hợp nhiều khảnăng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý như nhanh nhạy trong phán đoántình hình, quyết đoán khi đưa ra quyết định chính xác để xử lý tình huống.Thực tế hiện nay ở vùng đồng bào dân tộc, xử lý tình huống đang là vấn đềnóng liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh, quốc phòng, rấtcần có sự góp mặt của cán bộDTTS

- Kiểm tra, đánh giáhoạt động thực tiễn để kịp thời điều chỉnh các quyết định đã

ban hành, qua đó có sự nhìn nhận đúng đắn công sức và thành quả hoạt động của

tổ chức và từng cá nhân, động viên và tạo động lực thúc đẩy cá nhân, tập thểhoàn thành tốt các quyết định

- Tổng kết thực tiễnđể thấy được những thành công và hạn chế của quá

trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ Trong năng lực tổ chức thực hiện của cán

bộ lãnh đạo, quản lý, năng lực tổng kết thực tiễn là hết sức quan trọng Đểthấy được chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước thâm nhập và quần chúng đến đâu, được quần chúng nhân dân ủng hộđếnmứcđộ nào, những mâu thuẫn, bất cập nào đã xảy ra trongquátrình tổ chứcthực hiện cần phải thông qua tổng kết thực tiễn mới có thể nắm bắtđược

Trang 40

một cách thấu đáo, qua đó mới có hình thức, phương án điều chỉnh có phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh cụthể.

Ngoài những năng lực cụ thể nói trên, yêu cầu cán bộ DTTS phải có nhữngphẩm chất cơ bản của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đó là:

- Bản lĩnh chính trịvững vàng, không dao động trước bất kỳ điều kiện,

hoàn cảnh khó khăn nào, không bị lôi kéo bởi những tiêu cực của xã hội, có ýchí quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và chịu trách nhiệm trướcnhững quyết định do mình đềra,

- Trí tuệ mềm dẻo và linh hoạttrong mọi hoàn cảnh của thực tiễn Quá

trình cán bộ DTTS tổ chức triển khai nhiệm vụ, sẽ không tránh khỏi nhữngtình huống thực tiễn nảy sinh, trí tuệ mềm dẻo và linh hoạt giúp cho cán bộDTTS tìm ra những giải pháp xử lý tình huống thích hợp với điều kiện, hoàncảnh đang diễn ra, đặc biệt là việc thực hiện nhiệm vụ chính trị Đảng và Nhànước đối với vùng đồng bào các dân tộc hiệnnay

- Khả năng quan sátbao quát tình hình thực tế, có cái nhìn khách quan,

thấu đáo vấn đề để đưa ra quyết định đúng đắn trước khi thực hiện nhiệmvụ

- Năng động, sáng tạotrong công việc, luôn luôn chủ động, tìm tòi ra

những biện pháp làm việc mới phù hợp với yêu cầu của thựctiễn

- Quyếtđoándám làm, dám chịu trách nhiệm, không chùn bước trước

khó khăn, thử thách, đây là yếu tố quan trọng tạo sự tin tưởng và tập hợp được

ý chí của tập thể và quần chúng nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệmvụ

- Khả năng lôi cuốn, thuyết phụcđồng bào các dân tộc tham gia vào quá

trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địaphương

-Khả năng đánh giávànhìn nhậnnhiệm vụ và hiệu quả công việc của cấp

dưới để có cái nhìn khách quan khi giao việc cũng như động viên, khích lệ vàkhen, chê đúng người đúngviệc

Với cáchtiếpcận vềNLHĐTT quaphân tích ởtrên,NLHĐTT sẽgiúpcánbộDTTSnhậnthứcmột cáchđúngđắn bảnchấtcách mạngvà khoa họcvềđườnglối,chủtrương, chính sách củaĐảng và Nhànướcv à

Ngày đăng: 20/01/2022, 08:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (2005), Quản lý nhà trường: từ một số góc nhìn tổ chức - sư phạm và kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Quốc Bảo (2005), "Quản lý nhà trường: từ một số góc nhìn tổ chức- sư phạm và kinh tế - xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2005
4. Ban Tổ chức Trung ương, Công văn số 4741-CV/BTCTW ngày 20/5/2013 về việc một số vấn đề về đào tạo cao cấp lý luận chính trị - hành chính, Hà Nội 5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 4741-CV/BTCTW ngày 20/5/2013về việc một số vấn đề về đào tạo cao cấp lý luận chính trị - hành chính", Hà Nội5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004), "Giáo dục Việt Nam hướngtới tương lai - Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương, Công văn số 4741-CV/BTCTW ngày 20/5/2013 về việc một số vấn đề về đào tạo cao cấp lý luận chính trị - hành chính, Hà Nội 5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
6. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục, Trường cán bộ Quản lý giáo dục và đào tạo Trung ương 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở khoa học vềquản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2001
7. C.Mác và Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1995
8. C.Mác và Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 23, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 23
Tác giả: C.Mác và Ăngghen
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2002
9. Nguyễn Minh Đường (2005), Đào tạo theo năng lực thực hiện, tài liệu bồi dưỡng giảng viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo năng lực thực hiện
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Bí thư Trung ương, Quyết định 15/QĐ- BBTTW ngày 2/1/1983 về công tác trường Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 15/QĐ-BBTTW ngày 2/1/1983 về công tác trường Đảng
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Qui định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận trong Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 vềchế độ học tập lý luận trong Đảng
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy BanChấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định số 103-QĐ/TW về sắp xếp lại hệ thống trường đảng thuộc Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 103-QĐ/TW về sắp xếp lại hệthống trường đảng thuộc Trung ương
17. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định 61-QĐ/TW ngày 10/3/1993 của Bộ Chính trị về việc xếp lại các trường đảng Trung ương chuyển thành Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 61-QĐ/TW ngày 10/3/1993 củaBộ Chính trị về việc xếp lại các trường đảng Trung ương chuyển thành Họcviện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định 67-QĐ/TW ngày 20-10-1999 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 67-QĐ/TW ngày 20-10-1999 củaBộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định 149 - QĐ/TW ngày 02-8-2005 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 149 - QĐ/TW ngày 02-8-2005 củaBộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 52 NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30/7/2005 về đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 52 NQ/TW của Bộ Chính trị ngày30/7/2005 về đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoahọc của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
21. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định 60-QĐ/TW ngày 7-5-2007 của Bộ Chính trị về hợp nhất Học viện Chính trị Quốc gia và Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh thành Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 60-QĐ/TW ngày 7-5-2007 của BộChính trị về hợp nhất Học viện Chính trị Quốc gia và Học viện Hành chínhquốc gia Hồ Chí Minh thành Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HồChí Minh
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quyết định 100-QĐ/TW ngày 22/10/2007 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 100-QĐ/TW ngày 22/10/2007của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy của Học viện Chínhtrị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Thông báo kết luận của Bộ Chính Trị về tổng kết thực hiện Nghị Quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận của Bộ Chính Trị về tổngkết thực hiện Nghị Quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới nâng caochất lượng đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w