Hiện nay một bộ phận học sinh học yếu phần Tiếng Việt do các em còn yếu về việc nhận diện từ, câu, chưa biết vận dụng từ câu trong khi nói và viết,chưa xác định giá trị của các biện pháp tu từ về từ. Chính vì vậy tôi đưa ra một số dạng bài tập như sau:
Trang 1PHÒNG GD&ĐT HUYỆN
TRƯỜNG THCS
-CHUYÊN ĐỀ PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM MÔN
NGỮ VĂN LỚP 7 (PHẦN TỪ TIẾNG VIỆT)
GV:
Trường THCS ……….
, tháng 10 năm 2021
Trang 2I TÁC GIẢ CHUYÊN ĐỀ:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS
II TÊN CHUYÊN ĐỀ: “ Phụ đạo học sinh yếu kém môn ngữ văn lớp 7- Phần
Từ Tiếng Việt”.
1 Tình hình học tập môn Ngữ văn :
Trong nhiều năm giảng dạy môn Ngữ văn,đặc biệt năm học 2019-2020,
tôi nhận thấy nhiều em vẫn còn rất yếu kém trong việc học tập bộ môn Đặc biệt phần Tiếng Việt các em còn hạn chế về cách dùng từ, cách diễn đạt Tôi đã cho các em làm bài khảo sát phần Tiếng Việt đầu năm và giữa học kì I Kết quả là:
Khối
Bài
khảo
sát
TSố HS
VĂN 7
Dự thi
0 <2
2 <4
4 <5
5 <7
7 <8
8 <10
10
7
Đầu
Giữa
3 Nguyên nhân vẫn còn tỉ lệ học sinh yếu kém:
Từ thực tế giảng dạy với kết quả khảo sát đầu năm của bộ môn và các
khối lớp của nhà trường tronng năm học 2019-2020, chúng tôi xác định những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh có sức học trung bình, yếu, kém
3.1 Về phía học sinh
Nguyên nhân chủ quan:
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do:
- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể phủ nhận,
với chương trình học tập hiện nay, để có thể học tốt, đặc biệt là các môn như Toán, Văn, Anh… thì để việc học tập có kết quả đòi hỏi trước đó học sinh phải vốn kiến thức nhất định Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều học sinh đã không có được những vốn kiến thức cơ bản ngay từ lớp nhỏ, từ đó càng lên các lớp lớn hơn, học những kiến thức mới có kiên quan đến những kiến thức cũ thì học sinh
đã quên hết cho nên việc tiếp thu kiến thức mới trở thành điều rất khó khăn đối với các em
Trang 3- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng các em
học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà lấy vở
ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn Học sinh không dành thời gian cho việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới,các em chỉ học đối phó còn trông chờ thầy cô giải giúp
- Chưa nắm được phương pháp học tập: Các em vừa từ tiểu học lên cấp 2 chưa quen với phương pháp học tập mới Khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn hạn chế chưa mạnh dạn phát biểu thiếu tự tin trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc; đôi khi hay mặc cảm không dám hỏi thầy cô hoặc bạn bè
- Đa số học sinh yếu kém hay ỷ lại vào sách tham khảo, sách hướng dẫn, sách giải có sẵn ngoài thị trường, không chịu đầu tư tìm hiểu
- Do sức khỏe yếu, khả năng nhận thức hạn chế, tiếp thu chậm: Một số em thể
trạng yếu, không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột dễ mắc bệnh dẫn đến phải nghỉ học, đến khi khỏi bệnh đi học lại thì tiếp thu không kịp bài Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém
Nguyên nhân khách quan
- Xã hội phát triển, nhiều trò chơi giải trí vô bổ như games, chat qua mạng, tin nhắn điện thoại đã ảnh hưởng rất lớn đến việc học của các em
- Điều kiện học tập của học sinh thời nay tốt hơn trước rất nhiều Ngoài sách giáo khoa, học sinh còn được trang bị khá nhiều loại sách tham khảo, sách nâng
cao… Phải chăng do bị “bội thực” từ các loại sách tham khảo nên nhiều em
không hề biết cách tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức
3.2 Về phía giáo viên
- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp
- Giáo viên sợ không khống chế được thời gian nên còn mang tính hình thức, áp đặt kiến thức cho học sinh khá giỏi, chưa quan tâm đến học sinh yếu kém Dẫn đến việc học tập của học sinh bị thụ động và không phát huy được khả năng chịu khó trong học tập
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình
- Thực tế cho thấy, mấy năm gần đây chương trình giáo dục ở bậc Tiểu học không kiểm tra, đánh giá và cho điểm thường xuyên mà chỉ nhận xét mang tính
Trang 4khích lệ Ngoài ra giáo viên còn không được giao bài tập cho học sinh về nhà, chính vì vậy mà các em không có sự cố gắng trong học tập Nhưng khi lên cấp hai các em phải kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì nên chưa quen với cách học ở cấp 2
3.3 Về phía phụ huynh: Còn một số phụ huynh HS:
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em Phó mặc mọi việc cho nhà trường và thầy cô
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế (bố mẹ mải đi làm ăn, không
có thời gian quan tâm việc học của con.) hoặc có những vấn đề về đời sống tình cảm (Bố mẹ hay cãi vã nhau, li thân, li hôn ) cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc học của trẻ, thường là ảnh hưởng tiêu cực, trẻ dễ buồn bã, chán nản, tự ti Từ đó khiến trẻ không chú tâm vào học tập, dần dần sa sút, không theo kịp bạn bè Hậu quả ắt dẫn đến sự yếu kém trong học tập của các em
- Một số gia đình có khả năng về điều kiện kinh tế nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch, giả vờ ốm, ) cha
mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản và rồi yếu kém
Trước tình hình như vậy tôi đã xây dựng chuyên đề: “ Phụ đạo học sinh
yếu kém môn Ngữ văn lớp 7 - phần từ Tiếng Việt” nhằm giảm tỉ lệ học sinh
yếu kém nâng cao chất lượng giáo dục
IV ĐỐI TƯỢNG
- Đối tượng: Học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 7- Trường THCS Yên Lập
V HỆ THỐNG CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐẶC TRƯNG CỦA CHUYÊN ĐỀ
Hiện nay một bộ phận học sinh học yếu phần Tiếng Việt do các em còn yếu về việc nhận diện từ, câu, chưa biết vận dụng từ câu trong khi nói và viết,chưa xác định giá trị của các biện pháp tu từ về từ Chính vì vậy tôi đưa ra một số dạng bài tập như sau:
Dạng 1: Bài tập nhận diện từ.
Đặc trưng của các dạng bài tập này là giúp học sinh nhận biết và thông hiểu những kiến thức cơ bản về khái niệm về từ, nghĩa của từ,các hiện tượng về nghĩa của từ trong phần tiếng Việt lớp 7.
Ở dạng bài tập này giáo viên đặt các câu hỏi để kiểm tra trí nhớ của học sinh
về các dữ liệu, số liệu, các định nghĩa,
Trang 5Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
Các từ để hỏi thường là:
- Tìm
- Cái gì?
- Bao nhiêu?
- Cái nào?
- Em biết những gì về?
- Khi nào?
- Bao giờ?
- Hãy mô tả?
Dạng 2: Bài tập giải nghĩa từ
Đặc trưng của các dạng bài tập này là giúp học sinh nhận biết và thông hiểu những kiến thức cơ bản về nghĩa của từ trong phần tiếng Việt lớp 7.
Ở dạng bài tập này giáo viên đặt các câu hỏi để kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ liệu, các định nghĩa…
Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
Các cụm từ để hỏi thường là:
- Từ (yếu tố) nghĩa là gì?
- Nêu?
- Hãy xác định
- Hãy phân biệt
Dạng 3: Bài tập đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng từ theo yêu cầu.
Đặc trưng của các dạng bài tập này là giúp học sinh hiểu và vận dụng những kiến thức cơ bản về các kiến thức đã học về cấu tạo từ, nghĩa của từ
để đặt câu phù hợp với yêu câu.
Các cụm từ trong mệnh lệnh để yêu cầu thường là:
- Hãy đặt câu
- Hãy viết câu
- Hãy tạo câu …
Dạng 4: Bài tập về biện pháp tu từ
Đặc trưng của các dạng bài tập này là giúp học sinh nhận diện, thông hiểu
và vận dụng những kiến thức cơ bản về các kiến thức đã học về các biện pháp tu
từ để viết các đoạn văn bản ngắn theo yêu cầu
Cụm từ thường dùng cho dạng bài tập này là:
- Hãy xác định biện pháp tu từ…
Trang 6- Viết đoạn văn ngắn có sử dụng biện pháp tu từ …
VI HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN, ĐẶC TRƯNG ĐỂ GIẢI CÁC BÀI TẬP TRONG CHUYÊN ĐỀ:
1 Các phương pháp đặc trưng để giải các bài tập của phân môn tiếng Việt lớp 7:
- Phương pháp vấn đáp gợi mở
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp viết tích cực
2 Các biện pháp trước và sau khi tiến hành dạy học trên lớp
Ngoài các phương pháp trên để giảm tỉ lệ học sinh yếu kém tôi cũng đã kết hợp một số biện pháp trước và sau khi tiến hành dạy học trên lớp:
2 1 Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên Trong mỗi tiết dạy giáo viên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế
để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn
Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài Vì làm như thế học sinh
sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học
Ví dụ 1: Học sinh Hạ Văn A, học sinh lớp X, không thích học môn văn
và các môn học khác nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú
ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, chọc phá bạn
bè làm cho bạn học không được Kết quả là học sinh đó học tập kém
Hướng giải quyết:
Trước tiên, giáo viên cần trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gũi, khuyên nhủ học sinh về thái
độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá
Trang 7gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gũi giúp
đỡ em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu
2 2 Kèm cặp học sinh yếu kém:
Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng…
Tổ chức các nhóm học tập cho học sinh, trong nhóm có đủ các đối tượng học sinh khá, giỏi, trung bình, yếu kém Lên kế hoạch cụ thể cho các nhóm học sinh này hoạt động và thường xuyên theo dõi, đôn đốc, và thường xuyên kiểm tra các nhóm để có thể nắm bắt kịp thời tình hình của học sinh
Tổ chức dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém: lập danh sách học sinh học yếu kém lên kế hoạch dạy phụ đạo cho các em, một mặt là giúp các em có thể nêu lên những thắc mắc của các em về những điều các em chưa hiểu trong tiết học chính khóa để giáo viên có thể giải đáp cho học sinh đồng thời hướng dẫn cho học sinh làm bài tập Mặt khác, ở buổi học phụ đạo này, giáo viên từng bước bồi dưỡng cho học sinh, từng bước lấp đầy những chổ hỏng kiến thức của học sinh, giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản nhất về chương trình học Khi thực hiện việc dạy phụ đạo, giáo viên phải thường xuyên theo dõi kiểm tra học sinh để luôn nắm được tình hình học tập của các em, từ đó giáo viên rút kinh nghiệm cho những giờ học sau
Ví dụ 2: Trong lớp X có vài học sinh học yếu môn Ngữ văn do là ở những
lớp trước học sinh không nắm rõ các kiến thức cơ bản, khi lên các lớp sau học sinh học tới những kiến thức mới có liên quan đến kiến thức lớp dưới thì học sinh không nhớ nên không thể hiểu được nội dung của bài mới Từ đó làm học sinh chán nản và không thích học tập môn văn nữa Và kết quả là học sinh đó chỉ đạt điểm yếu qua các bài kiểm tra
Hướng giải quyết:
Đối với giáo viên bộ môn Ngữ văn phải lập danh sách học sinh có kết quả học tập yếu, kém Qua quá trình giảng dạy giáo viên tìm hiểu nguyên nhân Từ những nguyên nhân đó, giáo viên lên kế hoạch phụ đạo cho các em Giáo viên soạn ra các bài tập cơ bản, tập hợp các em học yếu, kém lại hướng dẫn các em học tập Tổ chức nhóm học tập cho học sinh trong mỗi nhóm có 1 – 2 học sinh khá giỏi để các em giúp đỡ nhau học tập Trong quá trình phụ đạo giáo viên thường xuyên kiểm tra để nắm bắt kịp thời sự tiến bộ của học sinh để có hướng dạy thích hợp hơn
2.3 Động viên, khích lệ học sinh.
Trang 8- Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời có tác động rất lớn đối với những học sinh yếu, kém, chậm tiến bộ, tạo cho các em sự tự tin, phấn chấn trong học tập Bởi vì điều đó:
- Xác nhận sự tiến bộ của các em Kích thích sự say mê hứng thú học tập, đồng thời giúp học sinh tự tin là mình học được, mình có thể giỏi như bạn Từ đó sữa chữa hành vi sai lệch, kiềm chế sự bộc phát lười biếng, tập thói quen chu đáo và cẩn thận,…
- Trong quá trình giảng dạy, chúng ta nên chú ý đến những em yếu, kém Học sinh yếu vào lớp thường thụ động, ít tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài, ta nên đặt những câu hỏi dễ và tạo cơ hội cho các em trình bày ý kiến của mình
Dù câu trả lời của các em chưa thật sự đầy đủ, trọn vẹn ý mà ta mong muốn nhưng ta vẫn khen, tuyên dương trước lớp, động viên các em có tiến bộ để khuyến khích các em sự tự tin khi trả lời và hứng thú học tập hơn
- Ngược lại, nếu lạm dụng trách phạt sẽ hạn chế sự độc lập sáng tạo của học sinh
2 4 Một số biện pháp đối với học sinh cá biệt
Đối với các học sinh cá biệt thì việc giúp cho các em vươn lên là một điều hết sức khó khăn vì các em không có ý thức học tập, vào lớp thì không chịu học bài, không chú ý nghe giáo viên giảng bài, về nhà không chuẩn bị bài
Đối với đối tượng học sinh này, giáo viên bộ môn cần phải phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắc nhở các em về ý thức học tập, thường xuyên kiểm tra tập của học sinh, khi học sinh vi phạm thì giáo viên nên kết hợp với phụ huynh để răn đe, giáo dục các em Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình giám sát việc học nhóm, học phụ đạo của học sinh
2 5 Rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên:
Giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tìm ra và vận dụng tốt các phương pháp dạy học mới Người giáo viên dạy giỏi mới giúp cho học sinh có thể đi đến lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và nhanh chóng Giáo viên thường xuyên dự giờ trao đổi rút kinh nghiệm một cách thẳng thắng để cùng bàn bạc tìm ra phương pháp dạy học hay cho từng nội dung giảng dạy
Với mức độ phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay thì việc giáo viên tìm tòi học hỏi những sáng kiến kinh nghiệm của các bạn ở nơi xa cũng không phải là một chuyện quá khó Giáo viên chỉ cần chịu khó tìm hiểu thêm về Internet để biết cách truy cập mạng tìm những sáng kiến kinh nghiệm về đọc để
có thể rèn luyện thêm về kĩ năng và phương pháp giảng dạy
VII HỆ THỐNG CÁC VÍ DỤ, BÀI TẬP CỤ THỂ CÙNG LỜI GIẢI MINH HỌA CHO CHUYÊN ĐỀ.
Dạng 1: Bài tập nhận diện từ.
Trang 91 Nhận diện từ xét về mặt cấu tạo:
- Đối với dạng bài tập này trước hết giáo viên giúp các em nắm được về cấu tạo từ: gồm từ đơn và từ phức
+ Từ đơn:là từ chỉ gồm một tiếng
+ Từ phức: là từ gồm hai hoặc nhiều tiếng Những từ phức được tạo
ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau được gọi là từ ghép Còn những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy
- Từ lí thuyết giúp các em nhận diện từ thông qua các bài tập
* Lưu ý, trước khi lầm bài tập giáo viên nhắc học sinh
- Đọc kỹ đầu bài.
- Xác định chính xác các yêu cầu.
- Vận dụng kiến thức đã học để trả lời từng yêu cầu cụ thể.
Bài 1: Hãy xác định từ ghép, từ láy trong các từ sau: Nhà máy, lom khom, cây
cối, long lanh, mênh mông, thoăn thoắt, đi đứng, mếu máo, thăm thẳm, nảy nở, hoa hồng, cây cỏ
Hướng dẫn giải
- Từ ghép: Nhà máy, cây cối, đi đứng, nảy nở, hoa hồng, cây cỏ
- Từ láy: lom khom, long lanh, mênh mông, thoăn thoắt, mếu máo, thăm thẳm
* Lưu ý về sự nhầm lẫn một số từ ghép có cùng phụ âm đầu
Bài 2 :
Tìm các từ ghép trong đoạn văn sau và cho chúng vào bảng phân loại :
“ Mưa phùn đem mùa xuân đến , mưa phùn khiến những chân mạ gieo muộn nảy xanh lá mạ Dây khoai, cây cà chua rườm rà xanh rợ các trảng ruộng cao Mầm cây sau sau , cây nhội hai bên đường nảy lộc, mỗi hôm trông thấy mỗi khác Những cây bằng lăng mùa hạ ốm yếu lại nhú lộc Vầng lộc non nảy ra Mưa bụi ấm áp Cái cây được cho uống thuốc.”
Gợi ý giải:
-Từ ghép chính phụ:Mưa phùn , mùa xuân , chân mạ , dây khoai , cây cà chua , xanh rợ , mầm cây , cây nhôi
-Từ ghép đẳng lập:Cây bàng , cây bằng lăng , mùa hạ , mưa bụi , uống thuốc
Bài 3:
Hãy sắp xếp các từ sau vào bảng phân loại từ láy :
“Long lanh, khó khăn , vi vu, linh tinh, loang loáng, lấp lánh, thoang thoảng,nhỏ nhắn,ngời ngời, bồn chồn, hiu hiu ”
Gợi ý giải: Bài tập 3
-Từ láy toàn bộ: Ngời ngời, hiu hiu, loang loáng, thăm thẳm
-Từ láy bộ phận: Long lanh , khó khăn, nhỏ nhắn, bồn chồn, lấp lánh
Bài 4.
Điền thêm các từ để tạo thành từ láy
- Rào … ;…bẩm;….tùm;…nhẻ;…lùng;…chít;trong…;ngoan…;
mịn…; bực….; đẹp…
Gợi ý giải:
Trang 10- Rào rào , lẩm bẩm , um tùm , nhỏ nhẻ , lạnh lùng ,chi chít , trong trắng , ngoan ngoãn, mịn màng , bực bội , đẹp đẽ
Bài 3: Em hãy tìm các từ láy:
a) Tượng hình
b) Tượng thanh
c) Chỉ tâm trạng
Gợi ý giải :
- Từ láy tượng hình là loại từ láy gợi hình dáng của người, vật, hiện tượng,…
Ví dụ: ngoằn ngoèo, khấp khểnh,…
- Từ láy tượng thanh là loại từ láy mô phỏng, gợi tả âm thanh trong thực tế
Ví dụ: lách cách, rột roạt,…
- Từ láy chỉ tâm trạng là những từ láy chỉ trạng thái của người như trạng thái vui, buồn, suy nghĩ,…
Ví dụ: bâng khuâng, thẫn thờ,…
Từ những gợi ý này học sinh cố gắng tìm càng nhiều từ láy càng tốt
2.Nhận biết các hiện tượng về nghĩa của từ
- Đối với dạng bài tập này trước hết giáo viên giúp các em nắm được các hiện tượng về nghĩa của từ gồm:
+ Hiện tượng từ đồng nghĩa
+Từ trái nghĩa
+Từ đồng âm
- Ở dạng bài tập này giáo viên cũng cho học sinh:
- Ôn lại khái niệm từ đồng nghĩa,Từ trái nghĩa, Từ đồng âm.
- Từ lí thuyết giúp các em làm các bài tập có liên quan
a Hiện tượng từ đồng nghĩa
- HS nắm được Khái niệm : Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau
+Ví dụ : Mùa hè – mùa hạ , quả - trái , sinh - đẻ
- Phân loại :
+ Từ đồng nghĩa hoàn toàn : Là những từ có ý nghĩa tương tự nhau , không có sắc thái ý nghĩa khác nhau
Ví dụ : Mẹ,má,u ,bầm
+ Từ đồng nghĩa không hoàn toàn : Là những từ có nghĩa gần giống nhau nhưng sắc thái ý nghĩa khác nhau
- Ví dụ :
+ “Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” ( Hồ Chí Minh )
“Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng ”.( Việt Bắc – Tố Hữu )
b.Từ trái nghĩa
- HS nắm được Khái niệm:Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau
VD: Chết vinh còn hơn sống nhục